Chủ nhật 15/03/2026 21:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục tiêu trên có thực hiện được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc giải quyết đúng đắn quan hệ kinh tế

Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục tiêu trên có thực hiện được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc giải quyết đúng đắn quan hệ kinh tế, trong đó lợi ích kinh tế của người lao động là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sản xuất của cải vật chất xã hội. Lợi ích của người lao động phải được sự quan tâm thích đáng, phải trở thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh Phú Thọ muốn phát triển kinh tế, ổn định xã hội, ngoài việc giải quyết nhiều vấn đề khác thì vấn đề đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động cần phải được quan tâm thỏa đáng hơn nữa.

Cùng với tiến trình cổ phần hóa nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong cả nước nói chung, những nãm gần đây, tỉnh Phú Thọ cũng thực hiện cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Phú Thọ thời gian qua cũng đã thể hiện được tính hiệu quả rõ rệt, từ đó góp phần thực hiện vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề về lợi ích kinh tế của người lao động nhiều lúc chưa được chăm lo đúng mức. Thậm chí có doanh nghiệp sau cổ phần hóa người lao động bị mất việc làm mà không được hỗ trợ thoả đáng, nhiều người lao động không được đóng bảo hiểm xã hội gây ra nhiều bức xúc. Đây là vấn đề cần phải được nghiên cứu và đưa ra những giải pháp phù hợp.

1. Thực trạng lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Ngay từ khi có Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước và nhất là sau Nghị quyết số 05/2001/NQ-TW ngày 24/9/2001 của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước, Tỉnh ủy Phú Thọ đã chỉ đạo triển khai học tập, quán triệt phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Phú Thọ được bắt đầu từ những năm 1998 nhưng đến năm 2001 mới được đẩy mạnh. Nếu tính tại thời điểm 01/01/2001 đến nay, toàn tỉnh Phú Thọ có tổng số có 54 doanh nghiệp cần được cổ phần hóa. Qua hơn 10 năm thực hiện, tỉnh Phú Thọ đã cơ bản hoàn thành sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo đúng lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Nghị quyết của Ban Thường vụ đề ra. Từ năm 1998 đến nay, tỉnh Phú thọ đã tiến hành sắp xếp lại 67 doanh nghiệp nhà nước thành: 01 công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, 55 công ty cổ phần, thành lập mới 01 công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, thực hiện phá sản 06 doanh nghiệp nhà nước. Hiện còn một doanh nghiệp nhà nước cuối cùng đang được chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên.

1.1. Về tình hình người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Phú Thọ

Lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của tỉnh Phú Thọ chủ yếu là lao động ở địa phương do nguồn nhân lực của tỉnh khá dồi dào. Theo số liệu điều tra dân số chính thức 01/4/2009 toàn tỉnh hiện có 1.313.926 người, trong đó số ngư­ời trong độ tuổi lao động 727.500 người (chiếm gần 60% dân số). Lực lượng lao động trẻ chiếm 65%, chi phí nhân công rẻ, bằng 65% so với Hà Nội và 40% so với Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết lao động có trình độ học vấn, được đào tạo có tay nghề, có đức tính cần cù, siêng năng, thông minh, có khả năng tiếp thu và sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại. Chương trình giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được triển khai tích cực. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2005 đạt trên 33,5%, năm 2010 đạt 40% (trong đó qua đào tạo nghề đạt 26%), phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ này đạt 70 - 75%. Từ năm 2010 - 2015 tỉnh đã giải quyết việc làm cho hơn 90 nghìn lao động, bình quân tăng 9,5%/năm. Đây là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1.2. Tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Một là, thu nhập bằng tiền của người lao động: Theo phân tích tại Báo cáo khảo sát tình hình đời sống việc làm của người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh của Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ vào thời điểm tháng 7/2016 cho thấy: Các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa thuộc ngành xây dựng, tình hình sản xuất kinh doanh khối xây lắp gặp rất nhiều khó khăn do không thanh toán được khối lượng hoàn thành (chủ yếu là nợ đọng vốn ngân sách) tình trạng thiếu vốn sản xuất, vay ngân hàng rất khó khăn. Đặc biệt các doanh nghiệp cổ phần hoá xong một số công trình dở dang phải đình lại do thiếu vốn, giá xăng dầu và một số vật tư tăng… do vậy việc thanh toán lương cho cán bộ công nhân chậm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không nộp được cho người lao động.

Thu nhập từ cổ tức cổ phần: Theo tổng hợp của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Phú Thọ trong các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá của tỉnh thì tỷ lệ người lao động trong doanh nghiệp mua cổ phiếu chiếm 12% vốn điều lệ. Các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh khi tiến hành cổ phần hóa đã thực hiện đúng chính sách của Nhà nước về bán cổ phần ưu đãi cho người lao động.

Thu nhập từ phúc lợi tập thể: Hầu hết các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến người lao động thông qua các hoạt động như trợ cấp khó khăn, hỗ trợ tiền gửi trẻ, tặng quà nhân các ngày lễ tết... Hàng năm, các doanh nghiệp này đã có nhiều hình thức thăm hỏi, hiếu hỉ, tổ chức sinh nhật, tham quan… cho người lao động, cho con em và người thân trong gia đình họ.

Hai là, việc làm, nhà ở và các lợi ích vật chất khác của người lao động: Qua khảo sát qua các năm, từ 4.546 người năm 2011 lên 7.153 người năm 2016. Như vậy đã có trên 2.600 lao động được giải quyết việc làm, tập trung ở các doanh nghiệp dệt may, da giày. Tuy nhiên, có một số doanh nghiệp sau cổ phần hóa do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, không phát triển được sản xuất nên phải cho lao động nghỉ luân phiên. Một số doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, người lao động nếu không có điều kiện mua nhà, hoặc phải đi thuê nhà trọ thì hàng tháng đều được công ty trợ cấp một khoảng tiền gọi là tiền hỗ trợ nhà ở hoặc tiền “lưu trú”.

Vấn đề chất lượng nhà trọ hiện nay vẫn bị thả nổi, tình hình vệ sinh môi trường và an ninh trật tự xã hội tại những khu nhà trọ nhiều nơi không được đảm bảo. Về phương tiện đi lại cho người lao động, trên 90% các doanh nghiệp này không có phương tiện đưa đón công nhân nên hầu hết người lao động đều phải tự đi làm bằng phương tiện cá nhân. Doanh nghiệp chỉ hỗ trợ một phần tiền đi lại hàng tháng cho người lao động gọi là tiền “xăng xe” hoặc “hao mòn phương tiện đi lại” nhằm giúp người lao động di chuyển từ nhà trọ đến nơi làm việc. Bên cạnh sự hỗ trợ về phương tiện đi lại, các doanh nghiệp còn hỗ trợ tiền ăn ca cho người lao động.

Ba là, điều kiện và môi trường làm việc của người lao động: So với các doanh nghiệp tư nhân, đa số các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa có điều kiện an toàn vệ sinh lao động ở mức tương đối tốt. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư nâng cấp chất lượng nhà xưởng, cải tạo hệ thống thông gió, làm mát, đảm bảo ánh sáng, giảm thiểu nồng đọ bụi, độ rung, tiếng ồn… theo hướng tích cực, có lợi cho người lao động.

1.3. Về quyền và lợi ích kinh tế của người lao động trong tuyển dụng, ký kết hợp đồng lao động, đào tạo tay nghề và chế độ làm việc, nghỉ ngơi

Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của tỉnh đều có nội quy lao động hoặc quy chế hoạt động; 61/67 doanh nghiệp xây dựng được Thỏa ước lao động tập thể và đã đăng ký với cơ quan quản lý lao động ở địa phương. Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp này thỏa ước lao động tập thể chủ yếu là sao chép lại luật, chưa cụ thể hóa được nhiều hành vi vi phạm và các hình thức xử lý kỷ luật, do đó khi xảy ra vi phạm còn lúng túng trong việc lựa chọn hình thức xử lý. Các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của tỉnh đều thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007).

1.4. Vai trò của các tổ chức chính trị và chính trị - xã hội trong việc bảo vệ lợi ích người lao động

Hiện nay, trong tất cả các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở tỉnh Phú Thọ đều có đầy đủ các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh hoạt động. Các tổ chức này hoạt động theo điều lệ nhằm mục tiêu chăm lo đời sống, việc làm, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.

2. Những tồn tại về việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Thứ nhất, một số doanh nghiệp vẫn áp dụng hình thức trả lương theo thời gian đối với cả những công việc có điều kiện áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm. Điều này làm cho quá trình phân phối thu nhập mang nặng tính chất bình quân chủ nghĩa, làm hạn chế tác dụng tích cực của nguyên tắc phân phối theo lao động, chưa tạo ra được động lực thúc đẩy người lao động tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Thứ hai, hiện nay tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa còn thấp chỉ đáp ứng 60% nhu cầu cuộc sống của họ. Thực tế cho thấy, việc trả lương cho người lao động ở các doanh nghiệp chưa phản ánh đúng với giá trị sức lao động của họ. Tiền lương chưa đủ để tái sản xuất sức lao động, chưa đủ đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu về nhà ở và nuôi dạy con cái… không tạo ra sự nhiệt tình, tâm huyết của người lao động trong quá trình sản xuất.

Thứ ba, mặc dù một bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ngoài tiền lương nhận được hàng tháng họ còn nhận được lợi tức cổ phiếu do sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp, thông qua việc mua cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần, nhưng bộ phận người lao động này không nhiều. Một số được ưu tiên mua cổ phiếu nhưng lại không đủ khả năng tài chính để mua nên phải bán cho người khác.

Thứ tư, có thể nói điều kiện làm việc, bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của tỉnh đã có nhiều tiến bộ hơn so với các doanh nghiệp tư nhân, nhưng hiện nay vấn đề này vẫn còn nhiều thiếu sót như: Ở một số doanh nghiệp vẫn còn một bộ phận người lao động làm việc trong điều kiện môi trường lao động không được đảm bảo an toàn, có nhiều yếu tố độc hại, chưa được trang bị đủ các phương tiện bảo hộ lao động.

Thứ năm, về vấn đề nhà ở cho người lao động. Mặc dù việc chăm lo giải quyết nhà ở cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc. Số lượng doanh nghiệp giải quyết nhà ở cho người lao động còn quá ít, điều kiện nơi ở còn nhiều hạn chế.

Thứ sáu, công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thiếu chặt chẽ; chưa kịp thời kiểm tra, phát hiện, xử lý các sai phạm trong việc chấp hành quy định của pháp luật, nhất là việc thực hiện Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội.

Thứ bảy, vai trò tổ chức cơ sơ Đảng và các đoàn thể quần chúng trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa có lúc còn mờ nhạt, chưa làm tốt chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động của các doanh nghiệp.

3. Một số kiến nghị, giải pháp

Từ những hạn chế trong việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở tỉnh Phú Thọ cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng khâu tổ chức thực hiện các chính sách của Nhà nước, tổ chức thực hiện chính sách tiền lương, tiền thưởng

Tiền lương, tiền công là nguồn thu nhập chủ yếu, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Phú Thọ nói riêng làm việc với tinh thần hăng say, sáng tạo. Vì vậy, Phú Thọ cần có giải pháp hữu hiệu đảm bảo khâu tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về lương thực tế, đảm bảo đời sống cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của tỉnh nhà. Thực hiện tốt chế độ hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Phú Thọ. Hợp đồng lao động được ký kết giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy định của Luật Lao động, người lao động cần phải hiểu biết quy định của Bộ luậtLlao động về vấn đề này và nắm được tình hình lao động của doanh nghiệp thông qua tổ chức công đoàn. Khi thực hiện hợp đồng cần tăng cường sự giám sát của tổ chức công đoàn, của cơ quan quản lý nhà nước tại Phú Thọ. Cải tiến cách thức thu chi bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Hai là, tổ chức thực hiện hiệu quả việc đào tạo và đào tạo lại cho người lao động

Để công tác đào tạo có hiệu quả và đúng mục tiêu, trước hết Phú Thọ cũng phải nắm bắt được những công nghệ đang và sẽ được áp dụng vào sản xuất ở các doanh nghiệp trong tỉnh. Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình và nội dung đào tạo cho người lao động ở từng ngành một cách phù hợp, đón bắt và phục vụ kịp thời nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp của địa phương. Cần phải có sự kết hợp tốt với doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn. Những phản hồi của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo, nhu cầu làm việc, yêu cầu về kỹ thuật và các phẩm chất mong muốn đối với người lao động là những thông tin cần thiết để xác lập kế hoạch đào tạo theo từng ngành, từng khu vực.

Bà là, thực hiện sáng tạo chính sách về nhà ở cho công nhân

Việc phát triển nhà ở cho người lao động là nhiệm vụ rất quan trọng, là một trong những chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Phú Thọ. Phải coi đây là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống kinh tế, thu nhập cho nhân dân. Do vậy, trong thời gian tới, Phú Thọ cần có biện pháp sáng tạo khuyến khích các đơn vị xây dựng nhà ở cho người lao động như: Tạo điều kiện về mặt bằng, về đất đai, về thuế… nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong xây dựng nhà ở cho người lao động.

Bốn là, nâng cao trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Giám đốc doanh nghiệp trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động

Để phát huy được tính ưu việt của doanh nghiệp cổ phần đối với đảm bảo lợi ích của người lao động, việc quy định rõ trách nhiệm của giám đốc về đảm bảo mức thu nhập, điều kiện và thời gian lao động; hàng năm phải giành một khoản kinh phí nhất định trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp để cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân; đảm bảo việc khám sức khoẻ định kỳ để xác định bệnh nghề nghiệp cho công nhân hầm lò, công nhân làm những công việc nặng nhọc khác… phải được Hội đồng quản trị của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đưa vào chương trình nghị sự của Đại hội cổ đông và trở thành nghị quyết để thực hiện dưới sự giám sát kiểm tra thường xuyên của Hội đồng quản trị. Ðổi mới mô hình quản trị, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cần đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa của Phú Thọ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, được điều hành bởi Hội đồng quản trị có sự tham gia của các thành phần kinh tế, tạo sự công khai, minh bạch hơn, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên phần vốn góp của mình. Việc kiểm tra, giám sát của các cổ đông nhất là cổ đông là nhà đầu tư chiến lược và người lao động trong doanh nghiệp đã có ý nghĩa thiết thực trong đổi mới về phương thức quản lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Phú Thọ phải nhằm giải quyết các yêu cầu sau đây:

- Chủ động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, hiểu biết về luật pháp, kỷ luật lao động, ý thức làm chủ cho người lao động

Các nhà kinh tế học cho rằng, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chính là hoạt động đầu tư thích đáng nhất trong bối cảnh của sự phát triển kinh tế hiện nay, để sinh lời nhiều nhất. Như vậy, hình thức bồi dưỡng, đào tạo chính là từng bước giúp người lao động giản đơn thoát khỏi sự lo sợ thiếu lành nghề, thoát khỏi cuộc sống đầy bấp bênh do thu nhập thấp để bước sang lĩnh vực lao động phức tạp để có thể có nhiều sự lựa chọn với việc làm tốt hơn, phù hợp hơn… do có thu nhập cao. Cho nên không thể cải thiện đời sống người lao động, nâng cao mức sống của người dân… nếu như trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của họ chưa được cải thiện. Suy cho cùng thì một quốc gia không thể thoát khỏi hiểm hoạ của đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật… nếu quốc gia đó còn chìm trong sự yếu kém về mặt văn hoá giáo dục.

- Nâng cao vai trò của tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Phú Thọ trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát thực thi luật pháp, chính sách có liên quan đến lợi ích kinh tế của người lao động.

Muốn bảo đảm chăm lo lợi ích kinh tế và không ngừng nâng cao đời sống người lao động, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị của doanh nghiệp, thông qua quy chế phối hợp công tác không những khẳng định vị trí của công đoàn, đoàn thanh niên trong hoạt động của doanh nghiệp mà còn thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.

- Ðối với người lao động trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Phú Thọ

Ðể thực hiện được lợi ích của mình, bản thân người lao động cũng phải nỗ lực để có thể tham gia vào quá trình tạo nhiều lợi nhuận và phân phối lợi ích cũng như biết cách tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Phú Thọ.

Muốn vậy, người lao động một mặt tích cực tham gia lao động, còn cần phải nỗ lực vươn lên khắc phục khó khăn để nâng cao trình độ hiểu biết về tổ chức thực hiện quá trình lao động sản xuất cũng như trình độ kỹ thuật, thao tác lao động, tạo năng suất lao động cao, đưa lại hiệu quả cao trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi hoạt động của con người, vì vậy, phải quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội. Để nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững thì các mối quan hệ lợi ích kinh tế đó phải được giải quyết một cách hài hòa trên quan điểm tiến bộ, phù hợp với quy luật kinh tế và xu hướng phát triển của xã hội.

ThS. Nguyn Th Thu Huyn

Phó Trưởng Khoa Lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: