Thứ năm 12/03/2026 06:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Chứng khoán năm 2019 - Đổi mới để hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam còn tương đối non trẻ nhưng đã có đóng góp tích cực cho thị trường tài chính tiền tệ nói riêng và nền kinh tế thị trường của Việt Nam nói chung. Từ những ngày đầu thành lập, Nhà nước đãrất quan tâm đến sự phát triển của TTCK khi ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật để từng bước tạo thành khuôn khổ pháp lý thống nhất nhằm điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán và cơ chế tổ chức, vận hành, quản lý TTCK.


Cơ sở pháp lý đầu tiên phải kể đến là Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, tiếp đó là sự ra đời của Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán thay thế Nghị định số 48/1998/NĐ-CP. Đến khi Luật Chứng khoán năm 2006 ra đời và được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Chứng khoán năm 2006) đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường, góp phần minh bạch hoá thị trường, đồng thời tạo lập các quy định phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, sau hơn mười năm thực hiện, Luật Chứng khoán năm 2006 đã bộc lộ những hạn chế và thiếu sót trong việc điều chỉnh hoạt động chứng khoán ngày càng chuyên nghiệp, các công cụ đầu tư đa dạng khi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường ngày càng nhiều, đòi hỏi nhu cầu cần phải có cơ chế tổ chức quản lý, vận hành TTCK phù hợp với yêu cầu mới.

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Chứng khoán năm 2019, có hiệu lực ngày 01/01/2021 với nhiều nội dung sửa đổi quan trọng, hứa hẹn sẽ tạo nên cú huých nhằm tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự phát triển ổn định, bền vững, minh bạch của TTCK, tạo thuận lợi thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập, góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn của hệ thống tài chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư và hoạt động trên TTCK Việt Nam.

1. Những điểm mới quan trọng của Luật Chứng khoán năm 2019

Sự ra đời của Luật Chứng khoán năm 2019 với nhiều sự thay đổi, điều chỉnh so với các quy định của Luật Chứng khoán năm 2006 thể hiện tính ưu việt ở những khía cạnh quan trọng sau đây:

Một là, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các quy định cụ thể của Luật Chứng khoán năm 2019 cơ bản đã bao trùm hầu hết các hoạt động về chứng khoán và tổ chức, quản lý TTCK Việt Nam với các nội dung như: Hoạt động chào bán chứng khoán, đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán; quy định về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng; nghĩa vụ công bố thông tin của các chủ thể tham gia thị trường; quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại trong hoạt động chứng khoán; quy định về tổ chức và hoạt động của những chủ thể quan trọng trên TTCK Việt Nam (như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát...). Việc quy định và điều chỉnh bao quát này của Luật Chứng khoán năm 2019 giúp cho việc hoàn thiện và áp dụng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chứng khoán và TTCK trở nên thuận lợi, thống nhất hơn, đảm bảo tính hiệu lực pháp lý cao, hạn chế được tình trạng quy định rải rác, tản mạn dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của pháp luật.

Hai là, Luật Chứng khoán năm 2019 đã ghi nhận những công cụ giao dịch mới trên TTCK như chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, chứng chỉ lưu ký, các loại chứng khoán phái sinh, đặc biệt pháp luật còn quy định mang hướng mở khi ghi nhận chứng khoán còn bao gồm cả các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định. Việc ghi nhận mở rộng định nghĩa về chứng khoán như trên xuất phát từ thực tiễn giao dịch trên TTCK Việt Nam những năm gần đây xuất hiện các công cụ mới như chứng khoán phái sinh, chứng quyền có bảo đảm, là biểu hiện của sự phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Việc bổ sung các công cụ giao dịch mới cho thấy pháp luật chứng khoán Việt Nam đang tiếp thu các thông lệ quốc tế và chuẩn mực chung của pháp luật chứng khoán của các nước phát triển trên thế giới, từ đó góp phần bảo đảm cho TTCK Việt Nam hoạt động đa dạng, minh bạch và chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu huy động vốn trung dài hạn và luân chuyển các nguồn vốn phục vụ sự phát triển của nền kinh tế.

Ba là, Luật Chứng khoán năm 2019 quy định theo hướng đẩy nhanh tiến trình hợp nhất Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, từ đó chức năng tổ chức, vận hành thị trường giao dịch chứng khoán sẽ do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và các công ty con thực hiện. Các quy định về thành lập, hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con, cơ cấu tổ chức quản lý cùng với các quyền và nghĩa vụ của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là những quy định mới được đề cập tại Chương IV của Luật Chứng khoán năm 2019. Theo Điều 43 Luật Chứng khoán năm 2019, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật này và Luật Doanh nghiệp, do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, giải thể, mô hình hoạt động, hình thức sở hữu, chức năng, quyền và nghĩa vụ của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và việc thành lập công ty con của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con chịu sự quản lý và giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Mô hình tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán này theo đánh giá của chúng tôi là phù hợp thông lệ quốc tế và tạo tiền đề để hình thành chỉ số chứng khoán duy nhất trên TTCK Việt Nam, thay thế cho việc tồn tại song song nhiều chỉ số như hiện nay như chỉ số VN-Index của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và chỉ số HNX-Index của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc phân tích, đánh giá thị trường để đưa ra quyết định đầu tư. Từ đó, tạo ra sự thống nhất và chuẩn hóa tiêu chí niêm yết, chế độ báo cáo, công bố thông tin, tiêu chuẩn về thành viên và giao dịch trên TTCK. Đây là bước đi quan trọng hướng tới củng cố và hoàn thiện khuôn khổ quản lý, giám sát đối với toàn bộ TTCK nói riêng và cả thị trường tài chính nói chung phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Bốn là, Luật Chứng khoán năm 2019 quy định khắt khe hơn Luật Chứng khoán năm 2006 về điều kiện để công ty cổ phần trở thành công ty đại chúng, cụ thể công ty cổ phần phải thuộc một trong hai trường hợp: (i) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ; hoặc (ii) Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định của pháp luật. So với Luật Chứng khoán năm 2006, điều kiện về công ty cổ phần phải có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán đã bị loại bỏ trong Luật Chứng khoán năm 2019; đồng thời, điều kiện mức vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên theo Luật này thay cho 10 tỷ đồng như trước đây là phù hợp với quy mô phát triển của thị trường hiện nay. Đặc biệt, quy định điều kiện trở thành công ty đại chúng của công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng trở lên phù hợp với tiêu chuẩn niêm yết hiện tại của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, tạo nên tính nhất quán và thống nhất khi phù hợp với các quy định khác tại Luật này đang tiến tới hợp nhất tiêu chuẩn niêm yết của hai Sở giao dịch chứng khoán thành tiêu chuẩn niêm yết thống nhất của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam.

Năm là, Luật Chứng khoán năm 2019 đã có những sửa đổi quan trọng và phù hợp với nhu cầu giao dịch của TTCK về điều kiện chào bán chứng khoán. Cụ thể, Luật chia ra hai trường hợp là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ, trong khi Luật Chứng khoán năm 2006 chỉ quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng; hơn nữa còn ghi nhận nhiều hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm chào bán chứng khoán lần đầu, chào bán thêm cổ phiếu hoặc quyền mua cổ phần và các hình thức khác. Đặc biệt, tại Mục 1 Chương II Luật Chứng khoán năm 2019 đã hướng dẫn về điều kiện chào bán ra công chúng của nhiều loại chứng khoán hơn so với Luật Chứng khoán năm 2006 như cổ phiếu, trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi, chứng chỉ quỹ với các điều kiện chặt chẽ và yêu cầu cao hơn, thiết nghĩ sẽ góp phần đảm bảo chất lượng của chứng khoán được chào bán trên TTCK và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư. Một điểm quan trọng phải kể đến là, Điều 30 Luật này quy định chào bán chứng khoán riêng lẻ của tổ chức phát hành không phải là công ty đại chúng thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan, tạo ra sự thống nhất, tương thích của hệ thống pháp luật điều chỉnh về chào bán chứng khoán riêng lẻ, tránh tình trạng một vấn đề mà do nhiều luật cùng điều chỉnh. Điểm thay đổi đáng chú ý tiếp theo là quy định về chào bán chứng khoán riêng lẻ, tại khoản 20 Điều 4 định nghĩa chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán theo một trong các phương thức: (i) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; hoặc (ii) chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo đó nội dung “không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet” trong Luật Chứng khoán năm 2006 đã được loại bỏ và một trường hợp được thêm vào.

Sáu là, Luật Chứng khoán năm 2019 yêu cầu các công ty đại chúng, công ty niêm yết phải chú trọng và quan tâm hơn đến nghĩa vụ công bố thông tin và vấn đề quản trị công ty theo những nội dung và nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế. Nếu như trước đây vấn đề quản trị công ty chỉ được điều chỉnh ở tầm nghị định, thì hiện nay vấn đề quản trị công ty đã được luật hóa tại Mục 2 Chương III với những quy định về nguyên tắc và nội dung quản trị công ty đại chúng. Những quy định này về cơ bản là phù hợp với thông lệ tốt nhất về quản trị công ty được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có TTCK phát triển. Đối với nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng, công ty niêm yết và các chủ thể khác tham gia TTCK đã được luật hóa bằng một chương trong Luật Chứng khoán 2019 (Chương VIII) thay vì chỉ được điều chỉnh tại Thông tư số 155/2015/NĐ-CP ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán như trước đó. Các quy định điều chỉnh hoạt động công bố thông tin này hứa hẹn sẽ tăng cường tính công khai, kịp thời của thông tin trên TTCK và thúc đẩy minh bạch hóa thị trường.

Bảy là, Luật Chứng khoán năm 2019 cụ thể hóa các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, giám sát đối với TTCK, phân công phân cấp rõ ràng đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán. Luật Chứng khoán năm 2019 đã bổ sung nhiều quyền hạn hơn, có thể kể đến như: Quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra; quyền yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch trên tài khoản của khách hàng đối với các trường hợp có dấu hiệu thực hiện hành vi bị cấm trong hoạt động chứng khoán và TTCK (Điều 130). Bên cạnh đó, Luật Chứng khoán năm 2019 còn quy định cơ chế phối hợp giám sát giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với các cơ quan quản lý khác; cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin của công ty đại chúng về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, ngừng hoạt động, tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin của công ty đại chúng về đăng ký thuế, đóng mã số thuế, mở lại mã số thuế, kết quả xử lý vi phạm pháp luật về thuế, quyết định cưỡng chế nợ thuế (Điều 131) nhằm thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, với cam kết cải cách thủ tục hành chính khi Việt Nam tham gia các Điều ước quốc tế thì đây là những thay đổi tích cực, tiến bộ, phù hợp với tình hình mới.

Tám là, Luật Chứng khoán năm 2019 đã bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và TTCK tại Điều 12. So với Luật Chứng khoán năm 2006, thì Luật này đã ghi nhận thêm các hành vi bị nghiêm cấm sau đây: (i) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; (ii) Sử dụng tài khoản, tài sản của khách hàng khi không được khách hàng ủy thác hoặc trái quy định của pháp luật hoặc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của khách hàng; (iii) Cho người khác mượn tài khoản để giao dịch chứng khoán, đứng tên sở hữu chứng khoán hộ người khác dẫn đến hành vi thao túng giá chứng khoán. Cùng với đó, Luật Chứng khoán năm 2019 đã nâng mức phạt tiền tối đa đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi bị cấm tại khoản 2, khoản 3 Điều 12 là 10 lần khoản thu trái pháp luật đối với tổ chức và 05 lần khoản thu trái pháp luật đối với cá nhân; đối với các hành vi vi phạm khác thì mức phạt tiền tối đa là 03 tỷ đồng đối với tổ chức và 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân. Rõ ràng, so với các quy định về xử lý vi phạm đối với hoạt động chứng khoán và TTCK tại các Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ và Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 của Chính phủ, các quy định tại Luật Chứng khoán năm 2019 đã có mức xử lý vi phạm được điều chỉnh tăng nhằm răn đe và hướng tới giảm thiểu các hành vi vi phạm, tăng cường kỷ luật thị trường.

2. Triển khai thi hành Luật Chứng khoán năm 2019

Với những điểm mới quan trọng như trên, thiết nghĩ sau khi có hiệu lực thi hành, Luật Chứng khoán năm 2019 sẽ góp phần tạo ra cú huých để đem đến diện mạo mới cho hoạt động giao dịch chứng khoán và TTCK Việt Nam, nắm bắt cơ hội được nâng hạng thị trường từ cận biên lên thị trường mới nổi với nhiều cơ hội đón nhận các dòng vốn đầu tư lớn trên thế giới, mở rộng thị trường tài chính tiền tệ quốc gia. Để thực thi hiệu quả Luật Chứng khoán năm 2019, các cơ quan có liên quan cần xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK. Theo Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, bộ luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 8 (Quyết định số 24/QĐ-TTg), dự kiến sẽ có 07 nghị định và 11 thông tư hướng dẫn Luật Chứng khoán năm 2019. Cụ thể, đến nay, Chính phủ đã ban hành một số nghị định (quy định về các nội dung như: Chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán; chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh), Bộ Tài chính đã ban hành một số thông tư (quy định về các nội dung như: Chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính; giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán; công bố thông tin trên thị trường chứng khoán; hoạt động của văn phòng đại diện, chi nhánh công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán…) để hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán năm 2019.

Để triển khai thi hành có hiệu quả Luật Chứng khoán năm 2019, cần thực hiện một số công việc cụ thể như sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội cần phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, các cơ quan báo chí, truyền thông để thực hiện hoạt động tuyên truyền tới doanh nghiệp, nhà đầu tư để họ nắm bắt và áp dụng quy định mới của Luật Chứng khoán năm 2019.

Thứ hai, mỗi cơ quan kể trên cần kịp thời sửa đổi, bổ sung và ban hành mới quy trình, quy chế, hướng dẫn phù hợp với các quy định tại Luật Chứng khoán năm 2019, các văn bản hướng dẫn cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đồng thời, nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp với nhau và với các cơ quan, đơn vị liên quan để thực thi các thẩm quyền, nội dung hoạt động phối hợp giám sát giữa các cơ quan quản lý được quy định tại Luật Chứng khoán năm 2019.

Thứ ba, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam cần triển khai các công việc liên quan đến chuyển đổi sang mô hình Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội phối hợp xây dựng kế hoạch để triển khai quá trình hợp nhất thành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam theo quy định mới.

Thứ tư, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội tiếp tục triển khai hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng hiện đại hóa, đáp ứng quy mô giao dịch và sự phát triển của TTCK. Từ những hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu được hình thành, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần xây dựng hệ thống ứng dụng có quy mô, cốt lõi toàn ngành và mang tính tích hợp cao nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK.

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
Công ty cổ phần Phát triển bất động sản Phát Đạt

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Vũ Nam, Luật Chứng khoán năm 2019 và việc hoàn thiện khung pháp lý về thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (410), tháng 5/2020, tr. 42 - 45.

2. Tổ chức Tài chính quốc tế IFC (2010), Cẩm nang quản trị công ty, Nxb. Nông nghiệp, tr. 6 - 32.

3. Trần Thị Thu Hương, Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, Tạp chí Tài chính kỳ 01, tháng 03/2020.

4. Vụ Pháp chế - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14: Kỳ vọng nâng tầm thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ 01, tháng 03/2020.









Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: