Thứ bảy 14/03/2026 06:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ giữa cơ quan hải quan và cơ quan cảnh sát điều tra trong hoạt động điều tra hình sự

Trong những năm gần đây, tình hình, diễn biến tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngày càng phức tạp, gia tăng cả về số vụ việc, trị giá hàng hóa, đa dạng về thành phần đối tượng tham gia. Đặc biệt, các đối tượng luôn thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động để thực hiện hành vi phạm tội.

Hiện nay, việc phối hợp giữa lực lượng hải quan và các lực lượng khác trong hoạt động đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau trong đó có Luật Hải quan năm 2014, Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg ngày 06/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Trong hoạt động điều tra hình sự thì bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì Ngành Hải quan cũng đã ký quy chế phối hợp với các lực lượng khác như cơ quan công an, lực lượng biên phòng… như Quy chế phối hợp số 5341/QCPH/TCHQ-TCCS ngày 22/11/2007 giữa lực lượng hải quan và lực lượng Tổng cục Cảnh sát nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật; Quy định phối hợp số 458/2013/QĐPH/ĐTCBL-V1 ngày 09/5/2013 giữa Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan với Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế và chức vụ - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định số 133/2002/QĐ-TTg ngày 09/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển và hải quan trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu và trên biển; Quy chế phối hợp số 5000/QC-TCHQ-BTLBĐBP ngày 20/9/2012 về phối hợp hoạt động giữa hải quan và Bộ đội Biên phòng… Đây là những văn bản quan trọng điều chỉnh mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan hải quan với các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan công an, Viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan liên quan trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu và gian lận thương mại nói chung, trong hoạt động điều tra hình sự nói riêng.

Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến lĩnh vực hải quan đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các lực lượng chức năng như Công an, Viện kiểm sát, Bộ đội Biên phòng… Trong đó, cơ quan cảnh sát điều tra (cơ quan công an) với vai trò là cơ quan điều tra chuyên trách có mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan hải quan trong hoạt động điều tra hình sự.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2014 thì cơ quan công an là một trong ba cơ quan điều tra chuyên trách, có phạm vi thẩm quyền điều tra rất rộng bao gồm tất cả các tội danh trừ một số tội danh thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Mối quan hệ giữa cơ quan hải quan và cơ quan công an được thể hiện qua 02 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự

Trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa cơ quan hải quan với cơ quan công an chủ yếu là trong công tác trao đổi, phối hợp kiểm tra thực tế hàng hóa và công tác xác minh ban đầu.

Theo kết quả thống kê của Ngành Hải quan, từ năm 2015 - 2017, cơ quan hải quan đã phối hợp với cơ quan công an 737 vụ, trong đó 47 vụ liên quan đến an ninh quốc gia, an ninh trật tự, 520 vụ liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa và 224 vụ liên quan đến mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy. Do Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan sẽ chủ trì trong việc kiểm tra, xử lý vi phạm. Do đó, nhiều vụ việc cơ quan công an có thông tin vi phạm nhưng do liên quan đến các lô hàng hóa xuất, nhập khẩu trong địa bàn hoạt động hải quan nên cơ quan công an khi có thông tin đã chủ động thông báo, phối hợp với cơ quan hải quan để kịp thời phát hiện vi phạm. Điều này thể hiện qua các lần phối hợp kiểm tra, xử lý như vụ buôn lậu ngà voi, sừng tê giác do Công ty TNHH Vạn An ở Đà Nẵng, vụ buôn lậu xăng dầu của Công ty Dương Đông Hòa Phú tại Bình Thuận... Ngoài ra, đối với một số vụ việc cần phải tiến hành xác minh để làm rõ dấu hiệu tội phạm, cơ quan hải quan và cơ quan công an cũng phối hợp với nhau trong việc trao đổi thông tin, xác minh các tình tiết làm rõ hành vi vi phạm của các đối tượng. Đối với các vụ việc đối tượng vi phạm cơ quan hải quan phát hiện ở ngoài khu vực địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan chủ động phối hợp hoặc theo đề nghị phối hợp của cơ quan công an trong việc ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các vi phạm này.

Thực tiễn trong quá trình điều tra, xác minh của cơ quan hải quan đối với các vụ việc, đặc biệt là các vụ việc phức tạp, có dấu hiệu hình sự, cơ quan hải quan phải triệu tập các đối tượng liên quan làm việc để xác minh, làm rõ trong khi các đối tượng này thường lẩn tránh, không hợp tác... trong một số trường hợp còn cản trở, đe dọa cán bộ hải quan thực thi nhiệm vụ thì cơ quan hải quan thường phối hợp với lực lượng công an để triển khai nhiệm vụ này. Tuy nhiên, do chưa có quyết định khởi tố vụ án, việc triệu tập các đối tượng lên làm việc theo thủ tục hành chính chủ yếu dựa trên sự thiện chí, hợp tác của đối tượng.

Giai đoạn thứ hai, sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự

Theo quy định điểm b khoản 1 Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì cơ quan hải quan ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi cất giữ hàng hóa trong khu vực kiểm soát hải quan, sau đó chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Theo đó, sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan hải quan thực hiện:

- Gửi văn bản đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra cùng cấp tiếp nhận hồ sơ, tài liệu, tang vật vụ án hoặc có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra, đối với trường hợp giao cơ quan điều tra ở cấp dưới hoặc địa phương khác điều tra vụ án.

- Sau khi có quyết định chuyển hồ sơ và tang vật vụ án của Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan hải quan ban hành văn bản đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp nhận hồ sơ và tang vật vụ án.

- Cán bộ, công chức hải quan được giao nhiệm vụ thụ lý vụ án chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, tang vật vụ án, dự thảo biên bản bàn giao, đánh bút lục hồ sơ tài liệu, liên hệ cán bộ tiếp nhận để bàn giao hồ sơ và tang vật vụ án theo quy định.

- Tiến hành bàn giao hồ sơ, tang vật vụ án trong thời hạn quy định.

- Phối hợp trong hoạt động điều tra.

Thực tiễn công tác phối hợp giữa cơ quan hải quan với cơ quan điều tra trong thời gian qua đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, các vụ án do cơ quan hải quan khởi tố, xác minh ban đầu được chuyển sang cơ quan điều tra đều đảm bảo tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng, kịp thời, đúng thời hạn. Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan hải quan luôn tạo điều kiện hỗ trợ trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án đặc biệt là các quy định, quy trình về thủ tục hải quan góp phần giúp cơ quan điều tra hoàn thành nhiệm vụ. Tỷ lệ số vụ án chuyển cho cơ quan điều tra bị đình chỉ rất thấp. Từ năm 2014 đến tháng 6/2018, số vụ án buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới chuyển sang cơ quan điều tra mới bị đình chỉ 03 vụ (trong đó 02 vụ cơ quan hải quan đã đề nghị Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định phục hồi điều tra và đã được chấp nhận).

Thực tiễn phối hợp với cơ quan cảnh sát điều tra (cơ quan công an), cơ quan hải quan gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, vướng mắc trong việc bàn giao vật chứng để bảo quản, xử lý theo quy định

Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a, điểm b khoản Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố thì cơ quan hải quan chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra hoặc có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ra quyết định chuyển hồ sơ, tang vật vụ án buôn lậu đối với trường hợp chuyển cho cơ quan điều tra không cùng cấp. Trên cơ sở quyết định chuyển hồ sơ, tang vật vụ án, cơ quan hải quan có văn bản đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền thụ lý, tiếp nhận hồ sơ kèm theo tang vật vụ án.

Tuy nhiên, trong năm 2016, cơ quan hải quan đã ra 03 quyết định khởi tố (05, 06, 08) khởi tố vụ án buôn lậu 354 tấn lúa (thóc) từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu biên giới bằng ghe gỗ, không khai báo, không làm thủ tục hải quan. Tuy nhiên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đồng Tháp không tiếp nhận số tang vật là thóc, chỉ tiếp nhận phương tiện vi phạm là ghe gỗ. Lý do cơ quan cảnh sát điều tra từ chối nhận bàn giao tang vật là: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định rõ khi có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan hải quan chuyển hồ sơ bao gồm cả tang vật tại thời điểm chuyển giao hồ sơ vụ án[1]. Điều này dẫn đến cơ quan cảnh sát điều tra khi tiếp nhận hồ sơ vụ án chưa tiếp nhận tang vật vụ án. Các cơ quan này cho rằng, tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ chưa tiếp nhận để điều tra sơ bộ nếu có dấu hiệu thì mới tiếp nhận.

Để khắc phục tình trạng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 1 Điều 131 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể hồ sơ vụ án gồm: “a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;

b) Các biên bản tố tụng do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lập;

c) Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án”.

Theo đó, khi cơ quan hải quan chuyển giao hồ sơ vụ án thì có nghĩa cơ quan cảnh sát điều tra phải tiếp nhận cả tang vật vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn khi chuyển giao hồ sơ vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan hải quan vẫn gặp phải tình trạng cơ quan cảnh sát điều tra không tiếp nhận ngay tang vật kèm theo vụ án như trong vụ án buôn lậu xảy ra tại tỉnh Tây Ninh theo Quyết định khởi tố vụ án số 01/QĐ-ĐTCBL năm 2018 khởi tố vụ án hình sự về tội buôn lậu xảy ra tại cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Điều này gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc quản lý tang vật vi phạm liên quan đến vụ án đặc biệt trong trường hợp hàng hóa đó là hàng hóa mau hỏng, khó bảo quản hoặc phải tiến hành thuê kho, thuê bãi để bảo quản, cụ thể:

(i) Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 “vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc Nhà nước để quản lý;

Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 “việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”.

Theo quy định trên thì cơ quan hải quan chỉ được phép xử lý vật chứng khi vụ án đó được đình chỉ ở giai đoạn điều tra. Trong trường hợp này, cơ quan hải quan đã có văn bản hoặc Viện kiểm sát nhân dân đã có quyết định chuyển hồ sơ vụ án (bao gồm cả tang vật) cho cơ quan cảnh sát điều tra cơ quan công an thì cơ quan hải quan có thẩm quyền xử lý tang vật này theo điểm d, khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không. Do không có hướng dẫn cụ thể nên cơ quan hải quan không thể xử lý được vật chứng là hàng hóa mau hỏng, khó bảo quản.

(ii) Theo quy định khoản 8 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định cụ thể về thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm tối đa không quá 60 ngày (bao gồm cả thời hạn xin gia hạn). Theo đó, quá thời hạn trên cơ quan điều tra không tiếp nhận thì cơ quan hải quan sẽ gặp khó khăn tạm giữ, bảo quản số tang vật, vật chứng này. Việc cơ quan cảnh sát điều tra không tiếp nhận, đồng thời cũng không ra quyết định xử lý đối với tang vật này dẫn đến cơ quan hải quan vẫn phải tiếp tục bảo quản lưu giữ. Đặc biệt, các chi phí phát sinh liên quan đến bảo quản tang vật như chi phí lưu giữ, bảo quản (thuê kho, sấy) đối với số tang vật này; cơ quan hải quan vẫn phải thực hiện thanh toán trong khi không đủ cơ sở, căn cứ pháp lý để thanh toán vì thời hạn tạm giữ đã hết. Cơ quan hải quan đã chuyển giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cho cơ quan cảnh sát điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.

Thứ hai, vướng mắc trong việc xử lý tang vật vụ án khi đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 “việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản

Theo quy định trên việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. Thực tiễn trong thời gian qua, cơ quan hải quan đang gặp vướng mắc liên quan đến việc xử lý vật chứng của 02 vụ án gồm 232,741 tấn thóc khi cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh An Giang đình chỉ điều tra vụ án. Theo thông báo của cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh An Giang thì cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định đình chỉ 02 vụ án buôn lậu theo quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan hải quan mà không đưa ra quyết định xử lý vật chứng mà chỉ thông báo chuyển lại hồ sơ lại để cơ quan hải quan giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Ðiều 76 Bộ luật Hình sự, cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Ðồng Tháp khi nhận được kiến nghị của cơ quan hải quan đã ra quyết định xử lý vật chứng theo quy định. Tuy nhiên, đối với cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh An Giang hiện nay vẫn không đưa ra quyết định xử lý vật chứng tang vật theo thẩm quyền, trong khi đó tang vật cơ quan hải quan vẫn phải bảo quản, các chi phí phát sinh vẫn đang do cơ quan hải quan chi trả. Pháp luật quy định rất rõ ràng thẩm quyền của từng cơ quan trong việc xử lý vật chứng trong từng giai đoạn cụ thể. Như vậy, khi cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý vật chứng khi có quyết định đình chỉ điều tra sẽ dẫn đến thực tế là tang vật đó vẫn phát sinh các chi phí bảo quản, lưu giữ, lưu kho, chất lượng giảm sút dễ dẫn đến hư hỏng.

Khắc phục tình trạng trên khoản 1 Ðiều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”. Với quy định này thì cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền xử lý vật chứng nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra. Vấn đề đặt ra khi vật chứng đó đã được bàn giao cho cơ quan cảnh sát điều tra thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ xử lý hay sẽ trả lại để cơ quan hải quan tiến hành xử lý vật chứng.

Căn cứ quy định trên thì trường hợp vật chứng đó đã được bàn giao cho cơ quan cảnh sát điều tra thì cơ quan này sẽ xử lý vật chứng.Cơ quan hải quan chỉ xử lý vật chứng khi vật chứng này cơ quan hải quan vẫn đang tạm giữ, bảo quản.

Thứ ba, việc cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan hải quan đối với các hồ sơ vụ án do cơ quan hải quan đã chuyển

Theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 quy định cơ quan hải quan phải chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan cảnh sát điều tra (cơ quan công an) để cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Thực tế trong thời gian qua cơ quan hải quan đã chuyển giao rất nhiều vụ án cho cơ quan cảnh sát điều tra nhưng “rất lâu” không thấy cơ quan điều tra thông báo kết quả điều tra như thế nào?

Theo quy định Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn điều tra “thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra”. Trường hợp cần thiết thì Viện kiểm sát sẽ giai hạn thời hạn điều tra. Tuy nhiên, dù vụ án được điều tra trong thời hạn hay được gia hạn thì vụ án vẫn có quy định hạn lượng về thời hạn điều tra.

Theo quy định tại Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc kết thúc điều tra: “1. Khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.

2. Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.

4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Theo quy định trên thì không quy định trách nhiệm kết thúc điều tra thì cơ quan cảnh sát điều tra phải thông báo cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án cho mình.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 “3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án”. Như vậy, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã quy định trách nhiệm của cơ quan điều tra phải thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển hồ sơ vụ án cho mình. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn về thời điểm thông báo khi nào cơ quan điều tra phải thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan hải quan, hình thức thông báo như thế nào dẫn đến thực tiễn trong thời gian qua, việc thực hiện quy định này chưa được thực thi trên thực tế. Do đó, theo quan điểm của tác giả thì việc thông báo kết quả điều tra được thực hiện khi kết thúc điều tra. Do vậy, cần sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng: “4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp vụ án do cơ quan này chuyển giao”.

ThS. Phạm Văn Bằng

Cục Điều tra chống buôn lậu


[1] Hiện nay, Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra cũng chỉ quy định chỉ chuyển hồ sơ vụ án, không quy định rõ có phải chuyển cả tang vật vụ án hay không.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: