Thứ sáu 23/01/2026 12:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tóm tắt: Bài viết này làm rõ đặc trưng của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, những tác động, yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Abstract: This article clarifies the characteristics of the law on deposit insurance, the impacts and requirements of international integration on the law on deposit insurance, and analyzes and evaluates the current state of Vietnamese law, from that proposes solutions to improve the law on deposit insurance in Vietnam to protect the interests of depositors in the context of international integration.

1. Đặc trưng của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được hiểu là “một cơ chế có giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp lý cho các khoản gốc (và thường cả lãi) của các khoản tiền gửi”. BHTG được thiết lập nhằm mục đích bảo vệ tiền gửi của người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc mất khả năng chi trả. Vậy BHTG là loại hình bảo hiểm, theo đó, tổ chức BHTG cam kết với tổ chức tham gia BHTG về việc sẽ thanh toán một khoản tiền (hạn mức chi trả bảo hiểm tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước) cho người gửi tiền, khi tổ chức tham gia BHTG gặp rủi ro, dẫn đến tình trạng phá sản hoặc mất khả năng chi trả cho người gửi tiền. Do đó, BHTG đóng góp tích cực vào sự ổn định của Hệ thống ngân hàng (HTNH). Ngày nay, pháp luật về BHTG là lĩnh vực pháp luật không thể thiếu ở các quốc gia trên thế giới. Sự ra đời của pháp luật về BHTG gắn liền với việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, trên cơ sở đó đảm bảo an toàn cho hoạt động của HTNH, phòng ngừa và hạn chế các cuộc khủng hoảng tài chính trong nền kinh tế. Có thể nói, pháp luật về BHTG là công cụ bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của người gửi tiền, là công cụ để duy trì niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó huy động tối đa nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng (TCTD). Các quốc gia trên thế giới đều xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi hoặc Luật Bảo vệ người gửi tiền để bảo vệ người gửi tiền. Đây là lĩnh vực pháp luật hướng tới bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng (người gửi tiền) và các quy phạm chủ yếu là những quy phạm pháp luật bắt buộc hoặc cấm đoán, theo đó các chủ thể phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định. Ngoài ra, pháp luật về BHTG điều chỉnh những nội dung chủ yếu sau: Mô hình BHTG, chủ thể tham gia quan hệ BHTG, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này; đối tượng bảo hiểm, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, thủ tục chi trả bảo hiểm; chấm dứt BHTG; giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động BHTG. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, pháp luật về BHTG cần có sự điều chỉnh để bảo đảm tối đa quyền lợi của người gửi tiền.


2. Tác động của hội nhập quốc tế đối với pháp luật về bảo hiểm tiền gửi


Hội nhập quốc tế tác động mạnh tới sự phát triển của pháp luật về BHTG. Trong quá trình hội nhập, HTNH được phát triển cả về quy mô và chất lượng hoạt động, có sự gia tăng cạnh tranh “khốc liệt” giữa các ngân hàng. Ở Việt Nam, để thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các TCTD có vốn đầu tư nước ngoài đã được đa dạng hóa và thành lập dưới các hình thức khác nhau, không chỉ là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện, mà các TCTD 100% vốn nước ngoài đã được cho phép thành lập (từ năm 2012, sau 05 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO). Ngoài ra, hội nhập quốc tế yêu cầu các TCTD phải nâng cao năng lực cạnh tranh về vốn, về công nghệ, về chất lượng dịch vụ để bảo đảm sự an toàn trong hoạt động. Điều này tác động tới pháp luật về BHTG, bởi lẽ, nếu các TCTD không cạnh tranh được với các TCTD nước ngoài thì nguy cơ phá sản là rất cao và phá sản chính là sự kiện BHTG, theo đó tổ chức BHTG phải chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền. Ngoài ra, nếu ngân hàng nào đó bị phá sản thì có thể ảnh hưởng tới cả HTNH, người gửi tiền rút tiền đồng loạt và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính, ngân hàng. Vì vậy, hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu phải đổi mới pháp luật về BHTG theo hướng giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng nhận tiền gửi, nâng cao khả năng cạnh tranh và bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh của các ngân hàng. Theo đó, tổ chức BHTG phải có vị thế và thẩm quyền độc lập để có thể kiểm tra, phân tích rủi ro và áp dụng các biện pháp cảnh báo, hạn chế rủi ro cho các tổ chức tham gia BHTG.


Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực ngân hàng. Với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng những năm gần đây đã có sự thay đổi căn bản trong nội dung, cách thức giao dịch. Ngoài các tác động tích cực không thể phủ nhận, việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng cũng ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm quyền và lợi ích của người gửi tiền. Người gửi tiền tại ngân hàng thương mại phải đối mặt với những rủi ro đáng kể như bị lộ bí mật thông tin do việc sử dụng các thông tin liên quan đến người gửi tiền được cung cấp trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ một cách “thiếu kiểm soát” từ phía ngân hàng nhận tiền gửi. Có thể thấy, vấn đề vi phạm dữ liệu cá nhân, sử dụng công nghệ cho các hoạt động bất hợp pháp là một trong những thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0, có tác động trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng, trong đó có người gửi tiền. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền thì vấn đề đặt ra đó là tính minh bạch trong hoạt động và cơ chế giải trình của các chủ thể liên quan đến các giao dịch ngân hàng; áp dụng các quy tắc nghiêm ngặt để ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp và bảo vệ người gửi tiền khỏi tình trạng bị xâm phạm dữ liệu cá nhân.


Từ đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 là rất quan trọng, đặt ra thách thức cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


3. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật về BHTG như Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi (Nghị định số 68/2013/NĐ-CP), Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg ngày 20/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về hạn mức trả tiền bảo hiểm và các văn bản khác hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi. Các văn bản này quy định khá cụ thể về các vấn đề liên quan đến BHTG, tạo cơ sở nhất định cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và phát triển hệ thống BHTG ở Việt Nam. Cụ thể như sau:


Về mô hình BHTG: Mô hình BHTG ở Việt Nam là mô hình công khai và công lập. Theo đó, pháp luật quy định rõ về BHTG đối với các khoản tiền gửi của người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi khi các tổ chức này bị lâm vào tình trạng phá sản hoặc mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền. Ngoài ra, tổ chức BHTG Việt Nam (DIV) là một tổ chức tài chính nhà nước, do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ. DIV là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí. Vốn điều lệ của DIV do ngân sách nhà nước cấp (Điều 29, Điều 30 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012). Nhà nước là cứu cánh cuối cùng trong trường hợp DIV lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, không đủ để chi trả các khoản tiền bảo hiểm cho người gửi tiền (ví dụ, theo khoản 1 Điều 11 Nghị định số 68/2013/NĐ-CP thì DIV được tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc được vay của TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định, DIV là tổ chức chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) và DIV không có quyền ban hành văn bản pháp luật trong lĩnh vực BHTG (khoản 3 Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012). Điều này đã hạn chế tính độc lập của DIV trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, ở Việt Nam mô hình BHTG hiện nay là mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng. Theo đó, tổ chức BHTG ngoài việc chi trả BHTG cho người gửi tiền còn được trao thêm một số quyền hạn như: Phân tích rủi ro và đưa ra các biện pháp phòng tránh rủi ro cho các tổ chức tham gia BHTG; theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BHTG; kiến nghị NHNNVN xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật về BHTG; tham gia xử lý nợ và thu hồi nợ của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản (Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012). Tuy nhiên, DIV không có quyền xử lý vi phạm trong lĩnh vực BHTG mà chỉ có quyền báo cáo NHNNVN để ngân hàng này xử lý theo thẩm quyền. Đây là điểm khác biệt và là hạn chế của mô hình BHTG ở Việt Nam so với mô hình BHTG ở một số nước trên thế giới.


Loại tiền gửi được bảo hiểm: Pháp luật Việt Nam chỉ bảo hiểm cho tiền gửi của cá nhân bằng Việt Nam đồng (VNĐ), không bảo hiểm tiền gửi của tổ chức và không bảo hiểm tiền gửi bằng ngoại tệ. Điều này không bảo đảm sự bình đẳng của những người gửi tiền khi gửi vào ngân hàng và khó bảo đảm nguồn vốn huy động cho tổ chức nhận tiền gửi để phát triển hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập. Trong khi đó, pháp luật của nhiều nước trên thế giới bảo hiểm tiền gửi cả bằng đồng nội tệ và ngoại tệ, bảo hiểm tiền gửi của cả cá nhân lẫn tổ chức.
Người thụ hưởng BHTG: Là người được chi trả bảo hiểm đối với khoản tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này bị phá sản. Pháp luật Việt Nam hướng tới bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là cá nhân nhỏ, vì vậy, người thụ hưởng bảo hiểm là các cá nhân gửi bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp không được bảo hiểm (Điều 18 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012).


Chủ thể tham gia BHTG: Sự tham gia BHTG của các tổ chức nhận tiền gửi của công chúng là bắt buộc theo mô hình BHTG hiện nay ở Việt Nam. Theo đó, chỉ những tổ chức nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia BHTG. Ngân hàng chính sách không phải tham gia BHTG (Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012). Điều này không bảo đảm sự bình đẳng của các tổ chức nhận tiền gửi trong HTNH. Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định chủ thể tham gia BHTG không chỉ là ngân hàng thương mại mà còn là các tổ chức tài chính khác có nhận tiền gửi của công chúng và được ngân hàng trung ương cấp phép. Điều này góp phần tăng quỹ BHTG, đáp ứng nhu cầu chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, thông qua đó hạn chế khủng hoảng ngân hàng.


Về số tiền gửi được bảo hiểm và hạn mức chi trả bảo hiểm: Số tiền gửi được bảo hiểm là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG sẽ thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại các tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này bị phá sản. Hạn mức chi trả bảo hiểm có thể là toàn phần (có nghĩa là mọi khoản tiền gửi cùng lãi được chi trả trong trường hợp ngân hàng bị phá sản) hoặc hạn chế (các khoản tiền gửi được bảo hiểm đến một giới hạn nhất định). Theo pháp luật về BHTG ở Việt Nam thì hạn mức chi trả bảo hiểm là hạn chế. Số tiền tối đa DIV trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm (gồm cả gốc và lãi) của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 75 triệu đồng. Từ ngày 12/12/2021, mức chi trả BHTG là 125 triệu đồng. Việc xác định hạn mức tiền gửi tối đa được bảo hiểm không chỉ quy định trong pháp luật Việt Nam mà còn ở hầu hết pháp luật về BHTG của các nước trên thế giới. Theo khảo sát giám sát và điều tiết ngân hàng (BRSS) của Ngân hàng Thế giới năm 2019, có 95/160 nước được tiến hành khảo sát đang thực hiện cơ chế này.


Mức phí BHTG: Các hệ thống BHTG trên thế giới thường đứng trước sự lựa chọn hai loại phí bảo hiểm là phí đồng hạng hoặc phí căn cứ vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Ở Việt Nam, Điều 20 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định: Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG theo đề nghị của NHNNVN. Căn cứ vào khung phí BHTG, NHNNVN quy định mức phí BHTG cụ thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại tổ chức này. Phí BHTG được tính và nộp định kỳ hàng quý trong năm tài chính. Tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BHTG cho DIV chậm nhất vào ngày 20 tháng đầu tiên của quý kế tiếp. Tổ chức tham gia BHTG vi phạm thời hạn nộp phí BHTG theo quy định trên thì ngoài việc phải nộp đủ số phí còn thiếu phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm bằng 0,05% số tiền nộp chậm. Quy định về việc tính và thu phí BHTG được thực hiện dựa trên số dư bình quân tiền gửi của cá nhân bằng đồng Việt Nam gửi tại các tổ chức tham gia BHTG của quý trước liền kề quý thu phí.
Mặc dù, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định mức phí theo mức độ rủi ro của ngân hàng nhưng thực tế Việt Nam vẫn áp dụng mức phí BHTG là phí đồng hạng. Điều này chưa bảo đảm tính công bằng giữa các tổ chức tham gia BHTG. Các tổ chức nhận tiền gửi có khả năng tài chính tốt và mức độ rủi ro thấp trong kinh doanh vẫn phải đóng phí BHTG như các tổ chức có khả năng tài chính yếu kém.


4. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hội nhập quốc tế


Một là, về mô hình BHTG: Pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện theo hướng xây dựng mô hình BHTG giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tham gia BHTG, theo đó, DIV cần phải được xác định rõ vị trí pháp lý và chức năng, trên cơ sở đó tạo tính chủ động trong hoạt động, tăng tính tự chịu trách nhiệm của DIV. DIV không chỉ là tổ chức chi trả bảo hiểm thuần túy, mà còn phải có chức năng phân tích, giám sát, cảnh báo, phòng chống rủi ro cho tổ chức nhận tiền gửi và có quyền xử lý các vi phạm liên quan đến BHTG. Đặc biệt, cần giảm sự phụ thuộc của DIV vào NHNNVN và tạo vị trí pháp lý độc lập của DIV. DIV không nên là tổ chức chịu sự quản lý của NHNNVN như hiện nay mà nên có vị trí pháp lý độc lập với NHNNVN. Có như vậy, thì mới đạt được mục tiêu của tổ chức này là bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, giám sát rủi ro, bảo đảm sự an toàn của HTNH.
Hai là, về loại tiền gửi được bảo hiểm và hạn mức chi trả bảo hiểm: Pháp luật nên mở rộng diện tiền gửi cần được bảo hiểm, không chỉ bảo hiểm cho tiền gửi của cá nhân bằng nội tệ. Một khi ngoại tệ chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền gửi ở ngân hàng thì vấn đề bảo hiểm ngoại tệ cũng nên được cho phép nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể gửi tiền, không có sự phân biệt đối xử. Ngoài ra, tiền gửi của tổ chức cũng nên được bảo hiểm, trên cơ sở đó bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể gửi tiền trong việc tiếp cận hệ thống BHTG. Về mức chi trả BHTG tối đa nên được giới hạn và được xác định trên cơ sở thu nhập quốc nội bình quân đầu người một năm. Theo các tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI), việc tính toán hạn mức trả tiền bảo hiểm phải tuân thủ hai mục tiêu cơ bản là bảo vệ những người gửi tiền nhỏ, thiếu thông tin về hoạt động ngân hàng và góp phần đảm bảo ổn định tài chính. Hạn mức chi trả phù hợp là hạn mức chi trả không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền yên tâm gửi tiền vào ngân hàng và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức. Các căn cứ để tính toán hạn mức bao gồm: (i) GDP bình quân đầu người và các yếu tố liên quan như lạm phát, tỷ giá, lòng tin của người dân vào hệ thống tài chính; (ii) Tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ tính trên tổng số người gửi tiền; (iii) Tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ trên tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm; (iv) Mức độ rủi ro của HTNH và tổng thể nền kinh tế. Trong giai đoạn kinh tế bình thường, IADI khuyến nghị hạn mức BHTG nên bảo vệ toàn bộ được 90% đến 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ “hạn mức/GDP bình quân đầu người” nên tối thiểu bằng 2 và tương đương với mức trung bình của các quốc gia có cùng trình độ phát triển dịch vụ ngân hàng. Với chính sách bảo hiểm như vậy, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ một cách tích cực, tạo ra cơ chế thúc đẩy người gửi tiền có ý thức tự bảo vệ mình trước những rủi ro nhất định liên quan đến tình hình hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi. Vì vậy, mức BHTG hiện nay là 125 triệu đồng cũng cần phải được xem xét để tăng lên phù hợp với cơ sở nêu trên khi có sự gia tăng GDP trong thời gian gần đây.


Ba là, về chủ thể tham gia BHTG: Pháp luật Việt Nam nên mở rộng chủ thể tham gia BHTG không chỉ là các ngân hàng nhận tiền gửi mà cả các TCTD phi ngân hàng để bảo đảm sự bình đẳng của các TCTD và tăng quy mô vốn của DIV, trên cơ sở đó bảo đảm khả năng thanh toán của DIV khi phát sinh sự kiện bảo hiểm. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, với việc ứng dụng internet kết nối vạn vật, công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong lĩnh vực ngân hàng, bên cạnh những tác động tích cực không thể phủ nhận cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho người tiêu dùng tài chính nói chung và người gửi tiền nói riêng. Vấn đề trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi cho khách hàng (cả các ngân hàng truyền thống lẫn phi truyền thống) như thế nào để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền? Nghĩa vụ của các ngân hàng và công ty công nghệ trong việc đảm bảo bí mật thông tin của người gửi tiền cũng như cung cấp và trao đổi thông tin của người gửi tiền cho bên thứ ba? Điều này cho thấy, pháp luật cần mở rộng chủ thể tham gia BHTG, không chỉ là các ngân hàng nhận tiền gửi mà còn cả các công ty công nghệ có các hoạt động ngân hàng và được ngân hàng trung ương cấp phép. Ngoài ra, với tính chất phức tạp của các sản phẩm dịch vụ, dịch vụ công nghệ ngân hàng, để có thể bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền một cách tối đa, hoạt động của các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng công nghệ cần có sự giám sát hợp nhất của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức BHTG. Thêm vào đó, pháp luật về BHTG yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG phải báo cáo trung thực về các hoạt động liên quan đến tiền gửi, gắn trách nhiệm của các ngân hàng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đưa ra các chế tài xử lý thích đáng khi quyền lợi của người gửi tiền bị xâm phạm.


Bốn là, về phí BHTG: Mức phí BHTG cần căn cứ vào mức độ rủi ro trong hoạt động của TCTD. Nếu vẫn duy trì mức phí bảo hiểm đồng hạng như hiện nay ở Việt Nam sẽ đồng nghĩa với việc bao cấp cho những ngân hàng yếu kém, làm giảm uy tín đối với HTNH, không tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hệ thống, trái với quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Việc tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG là rất cần thiết, nhằm tạo sân chơi bình đẳng, lành mạnh cho tất cả các tổ chức nhận tiền gửi. Điều này yêu cầu pháp luật về BHTG phải định rõ trách nhiệm của tổ chức tham gia BHTG cung cấp đầy đủ, kịp thời và minh bạch các thông tin và công khai kết quả đánh giá định kỳ tình hình hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tài chính. Bên cạnh đó, đòi hỏi hoàn thiện pháp luật kiểm toán, nâng cao năng lực của các tổ chức kiểm toán, trên cơ sở đó có thể đưa ra kết quả nhất định về chất lượng hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG.


Có thể nói, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, pháp luật bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam cần phải được hoàn thiện theo hướng đổi mới về mô hình BHTG, về chủ thể tham gia BHTG, về người thụ hưởng BHTG cũng như về loại tiền gửi, hạn mức chi trả bảo hiểm, vấn đề phí trên mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG. Điều này sẽ tạo điều kiện bảo vệ triệt để hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và nâng cao được hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTG - DIV, đồng thời tạo sự an toàn, lành mạnh trong hoạt động của HTNH thời kỳ hội nhập.

PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy
Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội
Lưu Tùng Lâm
Công ty TNHH LV & Hòn Ngọc Viễn Đông

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: