Thứ sáu 03/04/2026 01:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số hạn chế về quy định pháp luật khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định,

1. Quy định của pháp luật về khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Về khiếu kiện, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào nêu ra khái niệm của khiếu kiện, nhưng theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có thể hiểu khiếu kiện là việc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Dựa vào khái niệm của khiếu nại và cách hiểu về khiếu kiện có thể thấy cả khiếu nại và khiếu kiện đều có đối tượng là quyết định hành chính và hành vi hành chính. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011). Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (khoản 9 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011).
Căn cứ vào Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản có liên quan có thể thấy, đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì là các quyết định hành chính được ban hành trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cụ thể: Quyết định thu hồi đất; quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; quyết định kiểm đếm bắt buộc; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất[1] và hành vi của người thi hành công vụ khi giải quyết các công việc thuộc phạm vi quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư[2].
Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại là do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011; trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Khiếu kiện thì do Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính (theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì các khiếu kiện trong lĩnh vực này phần lớn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm).
Thủ tục giải quyết khiếu nại là theo thủ tục hành chính với việc giải quyết khiếu nại lần đầu và giải quyết khiếu nại lần hai, được quy định cụ thể tại Luật Khiếu nại năm 2011. Khiếu kiện được giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và được quy định cụ thể tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 9 và khoản 1 Điều 33 Luật Khiếu nại năm 2011, theo đó, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Thời hiệu khởi kiện được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, theo đó, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hiệu nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Về hậu quả pháp lý, đối với khiếu nại, sau khi được giải quyết khiếu nại, nếu không đồng ý thì người khiếu nại có quyền gửi đơn đến Tòa án yêu cầu giải quyết khiếu kiện. Đối với khiếu kiện, sau khi được giải quyết khiếu kiện theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm thì người khiếu kiện không có quyền khiếu nại hay khiếu kiện nữa[3].
Trường hợp người khởi kiện vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại thì được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
2. Một số hạn chế và giải pháp khắc phục
Quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư là một bộ phận quan trọng trong tổng thể công tác giải phóng mặt bằng. Ý nghĩa và những giá trị thực tế mà những quy định này mang lại cho toàn xã hội nói chung và cho đối tượng có đất bị thu hồi, được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, những quy định này phần nào vẫn tồn tại hạn chế, cần được xem xét và hoàn thiện. Cụ thể:
Thứ nhất, có sự mâu thuẫn về quy định khiếu nại giữa Hiến pháp năm 2013 và Luật Khiếu nại năm 2011. Theo khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 thì mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong khi đó, Luật Khiếu nại năm 2011 lại quy định, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 2). Như vậy, theo Hiến pháp, mọi người có quyền khiếu nại về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong khi Luật Khiếu nại lại giới hạn quyền này khi quy định công dân chỉ được khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính. Do đó, Luật Khiếu nại cần được sửa đổi để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp.
Thứ hai, bất cập trong quy định về tiếp tục thực hiện các quyết định hành chính (quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất) mà không cần đợi quyết định giải quyết khiếu nại. Theo quy định tại khoản 6 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Có thể thấy, trong trường hợp này, nếu việc thu hồi đất là trái pháp luật thì khi có kết luận sai phạm cũng là lúc việc cưỡng chế thu hồi đất đã thực hiện, hoàn thành, mặc dù có quy định bồi thường thiệt hại nhưng trên thực tế có rất nhiều thiệt hại không thể khắc phục được. Ví dụ như việc thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất là những căn nhà cổ, được xây dựng lâu đời, có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần với người bị thu hồi đất, khi đã bị tháo dỡ thì rất khó đảm bảo có thể xây lại đúng với kết cấu và kiến trúc ban đầu. Vì vậy, nên quy định là chỉ được thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại, có như vậy mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi cũng như đảm bảo chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thực hiện nhiệm vụ của mình một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Thứ ba, bất cập trong quy định đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện. Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ ghi nhận quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính. Các quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất chi tiết cấp huyện hoặc quyết định ban hành bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không phải là văn bản cá biệt nên không thuộc đối tượng khiếu nại, khiếu kiện hành chính[4]. Có thể thấy, kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được phê duyệt là căn cứ quan trọng để thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bên cạnh đó, đây còn là cơ sở để xét tính pháp lý đối với các thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích trên. Như vậy, quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất chi tiết của cấp huyện cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có đất bị thu hồi, nhưng lại không được xem xét là đối tượng của khiếu nại hay khiếu kiện. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì giá đất cụ thể được sử dụng để tính bồi thường, bảng giá đất được sử dụng để tính tiền hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Phần lớn các vụ khiếu nại, khiếu kiện hiện nay đều liên quan đến giá bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, quyết định giá đất cụ thể và bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng chưa được xem là đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến quyền khiếu nại, khiếu kiện của công dân. Thiết nghĩ, nếu đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện là quyết định hành chính thì không nên quy định chỉ giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt.
Thứ tư, trong khiếu kiện hành chính, thẩm quyền của Tòa án có những giới hạn nhất định nên việc giải quyết vấn đề chưa thật sự triệt để. Hiện nay, đa phần các vụ kiện về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đều tập trung chủ yếu về giá bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, hiện nay, Tòa án nước ta vẫn chưa được trao thẩm quyền phán xét về giá hay đưa ra một giá mà Tòa cho rằng là có căn cứ và hợp lý. Những vụ kiện liên quan đến giá trong công tác giải phóng mặt bằng thì Tòa chỉ dừng lại ở việc xem xét thẩm quyền và việc áp giá là đúng hay sai[5]. Trong trường hợp này, việc xem xét mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của Tòa án là một việc làm cần thiết, điều này không chỉ giúp Tòa án có thể thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả mà còn tạo niềm tin cho người dân vào Ngành Tư pháp nước nhà.
Thứ năm, vấn đề thi hành án chưa thật sự triệt để. Có trường hợp, Tòa án tuyên hủy quyết định bị khiếu kiện thì cơ quan hành chính lại ban hành quyết định mới với nội dung được giữ nguyên như quyết định đã bị hủy[6]. Mặc dù các quy định về thi hành án hành chính đã được hoàn thiện trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhưng thực tiễn thi hành án vẫn tồn tại nhiều bất cập[7].
Để khắc phục những bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị:
- Sửa đổi quy định khiếu nại tại Luật Khiếu nại cho đúng với tinh thần của Hiến pháp, tránh thu hẹp phạm vi khiếu nại mà Hiến pháp đặt ra cũng như đảm bảo toàn vẹn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi khiếu nại.
- Xem xét việc quy định chỉ được thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại.
- Không nên quy định chỉ giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt.
- Xem xét mở rộng thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện.
- Quy định chặt chẽ về công tác thi hành án hành chính, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành án, có chế tài phù hợp trong trường hợp cố tình không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Huỳnh Thị Thu Thảo
Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ


[1] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 352.

[2] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 256.

[3] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 255.

[4] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 257 - 258.

[5] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 364.

[6] Nguyễn Hiền, Ủy ban nhất quyết không làm theo Tòa án, http://plo.vn/phap-luat/uy-ban-nhat-quyet-khong-lam-theo-an-toa-688017.html, truy cập ngày 14/4/2018.

[7] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 364.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.

Theo dõi chúng tôi trên: