Thứ ba 18/08/2026 08:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số hạn chế về quy định pháp luật khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định,

1. Quy định của pháp luật về khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Về khiếu kiện, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào nêu ra khái niệm của khiếu kiện, nhưng theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có thể hiểu khiếu kiện là việc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Dựa vào khái niệm của khiếu nại và cách hiểu về khiếu kiện có thể thấy cả khiếu nại và khiếu kiện đều có đối tượng là quyết định hành chính và hành vi hành chính. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011). Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (khoản 9 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011).
Căn cứ vào Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản có liên quan có thể thấy, đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì là các quyết định hành chính được ban hành trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cụ thể: Quyết định thu hồi đất; quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; quyết định kiểm đếm bắt buộc; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất[1] và hành vi của người thi hành công vụ khi giải quyết các công việc thuộc phạm vi quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư[2].
Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại là do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011; trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Khiếu kiện thì do Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính (theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì các khiếu kiện trong lĩnh vực này phần lớn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm).
Thủ tục giải quyết khiếu nại là theo thủ tục hành chính với việc giải quyết khiếu nại lần đầu và giải quyết khiếu nại lần hai, được quy định cụ thể tại Luật Khiếu nại năm 2011. Khiếu kiện được giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và được quy định cụ thể tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 9 và khoản 1 Điều 33 Luật Khiếu nại năm 2011, theo đó, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Thời hiệu khởi kiện được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, theo đó, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hiệu nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Về hậu quả pháp lý, đối với khiếu nại, sau khi được giải quyết khiếu nại, nếu không đồng ý thì người khiếu nại có quyền gửi đơn đến Tòa án yêu cầu giải quyết khiếu kiện. Đối với khiếu kiện, sau khi được giải quyết khiếu kiện theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm thì người khiếu kiện không có quyền khiếu nại hay khiếu kiện nữa[3].
Trường hợp người khởi kiện vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại thì được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
2. Một số hạn chế và giải pháp khắc phục
Quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư là một bộ phận quan trọng trong tổng thể công tác giải phóng mặt bằng. Ý nghĩa và những giá trị thực tế mà những quy định này mang lại cho toàn xã hội nói chung và cho đối tượng có đất bị thu hồi, được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, những quy định này phần nào vẫn tồn tại hạn chế, cần được xem xét và hoàn thiện. Cụ thể:
Thứ nhất, có sự mâu thuẫn về quy định khiếu nại giữa Hiến pháp năm 2013 và Luật Khiếu nại năm 2011. Theo khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 thì mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong khi đó, Luật Khiếu nại năm 2011 lại quy định, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 2). Như vậy, theo Hiến pháp, mọi người có quyền khiếu nại về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong khi Luật Khiếu nại lại giới hạn quyền này khi quy định công dân chỉ được khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính. Do đó, Luật Khiếu nại cần được sửa đổi để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp.
Thứ hai, bất cập trong quy định về tiếp tục thực hiện các quyết định hành chính (quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất) mà không cần đợi quyết định giải quyết khiếu nại. Theo quy định tại khoản 6 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Có thể thấy, trong trường hợp này, nếu việc thu hồi đất là trái pháp luật thì khi có kết luận sai phạm cũng là lúc việc cưỡng chế thu hồi đất đã thực hiện, hoàn thành, mặc dù có quy định bồi thường thiệt hại nhưng trên thực tế có rất nhiều thiệt hại không thể khắc phục được. Ví dụ như việc thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất là những căn nhà cổ, được xây dựng lâu đời, có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần với người bị thu hồi đất, khi đã bị tháo dỡ thì rất khó đảm bảo có thể xây lại đúng với kết cấu và kiến trúc ban đầu. Vì vậy, nên quy định là chỉ được thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại, có như vậy mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi cũng như đảm bảo chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thực hiện nhiệm vụ của mình một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Thứ ba, bất cập trong quy định đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện. Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ ghi nhận quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính. Các quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất chi tiết cấp huyện hoặc quyết định ban hành bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không phải là văn bản cá biệt nên không thuộc đối tượng khiếu nại, khiếu kiện hành chính[4]. Có thể thấy, kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được phê duyệt là căn cứ quan trọng để thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bên cạnh đó, đây còn là cơ sở để xét tính pháp lý đối với các thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích trên. Như vậy, quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất chi tiết của cấp huyện cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có đất bị thu hồi, nhưng lại không được xem xét là đối tượng của khiếu nại hay khiếu kiện. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì giá đất cụ thể được sử dụng để tính bồi thường, bảng giá đất được sử dụng để tính tiền hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Phần lớn các vụ khiếu nại, khiếu kiện hiện nay đều liên quan đến giá bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, quyết định giá đất cụ thể và bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng chưa được xem là đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến quyền khiếu nại, khiếu kiện của công dân. Thiết nghĩ, nếu đối tượng của khiếu nại, khiếu kiện là quyết định hành chính thì không nên quy định chỉ giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt.
Thứ tư, trong khiếu kiện hành chính, thẩm quyền của Tòa án có những giới hạn nhất định nên việc giải quyết vấn đề chưa thật sự triệt để. Hiện nay, đa phần các vụ kiện về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đều tập trung chủ yếu về giá bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, hiện nay, Tòa án nước ta vẫn chưa được trao thẩm quyền phán xét về giá hay đưa ra một giá mà Tòa cho rằng là có căn cứ và hợp lý. Những vụ kiện liên quan đến giá trong công tác giải phóng mặt bằng thì Tòa chỉ dừng lại ở việc xem xét thẩm quyền và việc áp giá là đúng hay sai[5]. Trong trường hợp này, việc xem xét mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của Tòa án là một việc làm cần thiết, điều này không chỉ giúp Tòa án có thể thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả mà còn tạo niềm tin cho người dân vào Ngành Tư pháp nước nhà.
Thứ năm, vấn đề thi hành án chưa thật sự triệt để. Có trường hợp, Tòa án tuyên hủy quyết định bị khiếu kiện thì cơ quan hành chính lại ban hành quyết định mới với nội dung được giữ nguyên như quyết định đã bị hủy[6]. Mặc dù các quy định về thi hành án hành chính đã được hoàn thiện trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhưng thực tiễn thi hành án vẫn tồn tại nhiều bất cập[7].
Để khắc phục những bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị:
- Sửa đổi quy định khiếu nại tại Luật Khiếu nại cho đúng với tinh thần của Hiến pháp, tránh thu hẹp phạm vi khiếu nại mà Hiến pháp đặt ra cũng như đảm bảo toàn vẹn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi khiếu nại.
- Xem xét việc quy định chỉ được thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại.
- Không nên quy định chỉ giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt.
- Xem xét mở rộng thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện.
- Quy định chặt chẽ về công tác thi hành án hành chính, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành án, có chế tài phù hợp trong trường hợp cố tình không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Huỳnh Thị Thu Thảo
Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ


[1] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 352.

[2] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 256.

[3] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 255.

[4] Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 257 - 258.

[5] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 364.

[6] Nguyễn Hiền, Ủy ban nhất quyết không làm theo Tòa án, http://plo.vn/phap-luat/uy-ban-nhat-quyet-khong-lam-theo-an-toa-688017.html, truy cập ngày 14/4/2018.

[7] Phan Trung Hiền, Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr. 364.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: