Chủ nhật 26/07/2026 20:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần trao đổi về cấu thành tội bắt cóc con tin trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bài viết nhằm làm rõ dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội bắt cóc con tin trong Bộ luật Hình sự năm 2015 trên cơ sở phân tích, tìm hiểu quy định của điều ước quốc tế có liên quan (Công ước 1979 về bắt cóc con tin) cũng như tìm hiểu kinh nghiệm pháp luật hình sự một số nước trên thế giới. Đặc biệt, bài viết có phân biệt Tội bắt cóc con tin với các tội phạm khác có liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 2015, từ đó đưa ra các luận cứ khoa học cho cơ quan có thẩm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng

Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời với nhiều điểm mới nhằm thể chế hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự, cải cách tư pháp, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 trên cơ sở đáp ứng ứng yêu cầu thực tiễn, thực thi một cách nghiêm túc, thiện chí các cam kết quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống các tội phạm có tính chất quốc tế, trong đó có tội phạm khủng bố. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập 12 trên tổng số 16 điều ước đa phương về chống khủng bố[1]. Gần đây nhất, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin (1979)[2]. Chính vì thế, yêu cầu “nội luật hóa các quy định trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên...”[3] trên cơ sở phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam đã được quán triệt trong quá trình xây dựng cũng như quá trình triển khai áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung 02 tội danh trực tiếp quy định về hành vi khủng bố (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Tội khủng bố), Bộ luật Hình sự năm 2015 còn tội phạm hóa một số hành vi khác mà pháp luật quốc tế xem là tội phạm khủng bố, trong đó có hành vi bắt cóc con tin (“Taking of hostages” hay “Hostages taking”). Việc tội phạm hóa hành vi bắt cóc con tin vào Bộ luật Hình sự năm 2015 góp phần nội luật hóa yêu cầu của Công ước 1979 về chống bắt cóc con tin (Tên tiếng Anh: “1979 International Convention against the Taking of Hostages”, sau đây gọi tắt là Công ước 1979). Do vậy, việc tìm hiểu cấu thành Tội bắt cóc con tin phải trên cơ sở tìm hiểu quy định của văn kiện pháp lý quốc tế về hành vi này.


1. Cấu thành cơ bản của Tội bắt cóc con tin

Khoản 1, Điều 301 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nàobắt giữ, giam người khác làm con tin và đe dọa giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giam, giữ người đó nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 113 - Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Điều 299 - Tội khủng bố….”

Chúng ta có thể thấy cấu thành Tội bắt cóc con tin trong Bộ luật Hình sự 2015 rất tương đồng với quy định của Công ước 1979 về hành vi bắt cóc con tin[4], thể hiện qua một số điểm đặc trưng về dấu hiệu pháp lý như sau:

Về khách thể, Tội bắt cóc con tin trực tiếp xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, đồng thời xâm phạm các quyền nhân thân của con người, nhất là quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể... Do vậy, Tội bắt cóc con tin được nhà làm luật quy định tại Mục 3, Chương 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng).

Hành vi khách quan của Tội bắt cóc con tin bao gồm 02 nhóm hành vi: Hành vi bắt giữ, giam người khác làm con tin; hành vi đe dọa giết, làm bị thương hay đe dọa tiếp tục giam, giữ con tin.

Tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích phạm tội là nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin (chẳng hạn cung cấp tiền chuộc hay lợi ích vật chất, đòi hỏi một sự nhượng bộ nào đó từ phía Nhà nước...). Đây là dấu hiệu bắt buộc để định tội và là cơ sở để phân biệt giữa tội phạm này với một số tội phạm khác có hành vi tương tự.

Tội bắt cóc con tin có cấu thành hình thức, cho nên chỉ cần người phạm tội thực hiện các hành vi khách quan với mục đích nêu trên là tội phạm đã hoàn thành mà không cần hậu quả xảy ra.

Việc tội phạm hóa hành vi này trong pháp luật hình sự Việt Nam sẽ là cơ sở pháp lý để Việt Nam đấu tranh với hành vi do các nhóm khủng bố tiến hành với thủ đoạn bắt cóc con tin để nhằm đòi tiền chuộc hay nhằm đạt được nhượng bộ về chính trị. Xuất phát từ góc độ luật pháp quốc tế, Tội bắt cóc con tin thuộc nhóm tội phạm khủng bố. Đây là loại tội phạm có tính chất quốc tế, được điều chỉnh bởi Công ước 1979, cho nên, hầu hết pháp luật hình sự các quốc gia trên thế giới đều tội phạm hóa hành vi này. Do vậy, để làm rõ hơn về bản chất pháp lý cũng như đặc điểm của Tội bắt cóc con tin, chúng ta có thể tham khảo pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, cụ thể là Hoa Kỳ và Liên bang Nga - những nước đã nội luật hóa quy định của Công ước 1979 vào pháp luật hình sự và có nhiều kinh nghiệm trong việc vận dụng pháp luật hình sự để đấu tranh, xử lý hành vi bắt cóc con tin trên thực tế. Cụ thể, trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ, Tội bắt cóc con tin (“Hostage taking”) tại 18 U.S. Code § 1203[5]. Tương tự, Tội bắt cóc con tin cũng được quy định tại Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 1996 Liên bang Nga (Luật số 63 ngày 13/6/1996)[6]. Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh với hành vi bắt cóc con tin ở các quốc gia này, dấu hiệu đặc trưng của Tội bắt cóc con tin được giải thích[7]: Bắt cóc con tin là hành vi bắt giữ một hay nhiều người làm con tin với mục đích đạt được lợi ích (tiền chuộc…) hay một sự nhượng bộ nào đó từ bên thứ ba (là nhà nước, tổ chức hoặc công dân…). Trong nhiều trường hợp, mục đích thứ hai của người phạm tội là nhằm thu hút sự quan tâm của phương tiện đại chúng cũng như của công chúng về vụ việc và về yêu cầu của người phạm tội. Người phạm tội thường tạo ra sự đối đầu trực tiếp và đưa ra yêu cầu với cơ quan chức năng. Đây cũng là phương thức mà các phần tử khủng bố hay tổ chức khủng bố tiến hành để đòi tiền chuộc từ bên thứ ba.

2. Một vấn đề khác cần lưu ý khi tìm hiểu cấu thành Tội bắt cóc con tin

Hành vi khách quan của Tội bắt cóc con tin có sự “chồng lấn”, “giao thoa” với hành vi khách quan của một số tội phạm khác quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm: Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Tội khủng bố (Điều 299); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169). Do đó, làm rõ điểm khác biệt giữa cấu thành tội bắt cóc con tin với cấu thành các các tội phạm khác là cần thiết.

Thứ nhất, sự khác nhau giữa nhóm tội phạm trực tiếp quy định hành vi khủng bố (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Tội khủng bố) với Tội bắt cóc con tin chủ yếu dựa vào mục đích phạm tội. Cụ thể, nếu hành vi bắt cóc con tin nhằm khủng bố, tức nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân hay gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân thì sẽ xử lý về tội khủng bố; còn bắt cóc người khác nhằm cưỡng ép bên thứ 3 làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin sẽ thỏa mãn cấu thành của Tội bắt cóc con tin.

Thứ hai, phân biệt Tội bắt cóc con tin với Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157). Khác với Tội bắt cóc con tin, khách thể trực tiếp của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Hành vi khách quan của 02 tội phạm này cũng có sự khác nhau. Trong Tội bắt cóc con tin, sau khi người phạm tội có hành vi bắt giữ, giam người trái pháp luật, người phạm tội còn có hành vi “đe dọa giết, làm bị thương...”. Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, trong khi đó mục đích “cưỡng ép” bên thứ 3 là mục đích của Tội bắt cóc con tin.

Thứ ba, phân biệt Tội bắt cóc con tin với Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169). Ở góc độ lý luận, rõ ràng không dễ dàng để xác định ranh giới giữa Tội bắt cóc con tin với Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nếu như trong cả 02 trường hợp mục đích phạm tội của người bắt cóc là nhằm đạt được lợi ích vật chất nào đó (chẳng hạn tiền chuộc...).

Cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định từ rất lâu trong pháp luật hình sự Việt Nam và hầu như không có sự thay đổi trong các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục quy định Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 169 Chương 16 Các tội xâm phạm sở hữu. Theo cách hiểu thông thường, hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là “hành vi bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”[8] nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này cũng phù hợp với cách quy định và cách giải thích về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự các nước trên thế giới. Chẳng hạn, trong pháp luật hình sự Liên bang Nga, hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân thuộc cấu thành Tội bắt cóc (“Kidnapping”) quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga. Tội bắt cóc trong Luật hình sự Nga (bất kỳ mục đích phạm tội là gì) được Tòa án Tối cao Liên bang Nga hướng dẫn như sau[9]: Bắt cóc ở đây là hành vi trái pháp luật, cố ý bắt, giữ bí mật hoặc công khai người khác và sau đó di chuyển trái ý muốn nạn nhân từ nơi thường trú, tạm trú đến một nơi khác... Dấu hiệu quan trọng trong mặt khách quan của tội phạm này chính là việc bắt giữ và di chuyển nạn nhân đến một nơi nào đó. Mục đích phạm tội có thể vì lợi ích vật chất (trong trường hợp này thì giống cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam). Tương tự trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ, Tội bắt cóc (“Kidnapping”) được quy định tại 18 U.S. Code § 1201[10] và được giải thích[11]: Đối với Tội bắt cóc, người phạm tội sau khi bắt cóc thì di chuyển và lẩn tránh, không ai có thông tin về chủ thể của tội phạm và nơi người phạm tội đang giam, giữ nạn nhân. Trong một số trường hợp, người phạm tội để lại thông tin liên lạc (số điện thoại…), yêu cầu về số tiền chuộc, cách thức chuyển tiền... cho nạn nhân, nhưng bí mật, nhất là đối với cơ quan chức năng. Thậm chí, trong một số trường hợp, cũng khó xác định là người phạm tội có thật sự đã bắt cóc và đang giữ con tin.

Trên cơ sở nhận thức như vậy, về mặt khoa học có thể nêu ra những điểm khác nhau cơ bản về cấu thành tội phạm của 02 tội như sau:

- Về khách thể trực tiếp: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quyền tự do thân thể, tính mạng, sức khỏe, quyền sở hữu... của công dân; trong khi đó tính chất nguy hiểm của Tội bắt cóc con tin thể hiện qua việc xâm phạm đến an toàn, trật tự chung của xã hội;

- Về mục đích phạm tội: Chiếm đoạt tài sản của công dân là dấu hiệu đặc trưng của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, trong khi đó người phạm tội bắt cóc con tin nhằm cưỡng ép bên thứ ba đáp ứng điều kiện nào đó của người phạm tội (không chỉ lợi ích vật chất);

- Về thủ đoạn phạm tội: Người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản sau khi bắt giữ con tin thường bí mật đưa con tin đi lẫn trốn, từ nơi này đến nơi khác, tránh sự phát hiện của lực lượng chức năng; có thể người phạm tội chỉ cung cấp thông tin cần thiết (số điện thoại liên lạc, nơi giao tiền chuộc...) cho người khác (thường là người thân thích của nạn nhân). Trong khi đó, người phạm tội bắt cóc con tin thường gây sự chú ý của nhiều người (nhất là phương tiện thông tin đại chúng...), gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, xâm phạm đến cuộc sống yêu bình của người dân.

Nguyễn Quyết Thắng

Đại học An ninh nhân dân


[1] Ban chỉ đạo phòng, chống khủng bố, Bộ Công an, Các Điều ước quốc tế, Asean và pháp luật Việt Nam về phòng, chống khủng bố, Nxb. Công an nhân dân, 2013.

[2] Công ước này đã có hiệu lực với nước ta vào ngày 8/2/2014.

[3] Bộ Tư pháp, Báo cáo số 35/BC-BTP về Kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự (ngày 12 tháng 02 năm 2015), Hà Nội, trang 27.

[4] Điều 1 Công ước quy định: “Bất cứ người nào bắt giữ hoặc giam giữ và đe dọa giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giữ người khác để buộc bên thứ ba, cụ thể là một quốc gia, một tổ chức liên chính phủ quốc tế, một pháp nhân hoặc thể nhân hoặc nhóm người phải làm hoặc không làm một việc như một điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm cho việc phóng thích con tin thì bị coi là phạm tội bắc cóc con tin”.

[5] https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/1203

[6] Bộ luật Hình sự Liên bang Nga đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Lần sửa đổi gần nhất vào ngày 03/07/2016, có hiệu từ ngày 15/7/2016-

Xem nguyên bản tiếng Nga tại: http://www.consultant.ru/document/Cons_doc_law_10699/

[7] Frank Bolz, Jr., Kenneth J.Dudonis, David P.Schulz (2012), The Counterterrorism Handbook: Tactics, Procedures, and Techniques, CRC Press, trang 120

[8] Minh Tân - Thanh Nghi - Xuân Lãm (2014), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thanh Hóa, tr. 65.

[9] Xem tại https://www.referent.ru/7/54663/

[10] Xem tại https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/1201

[11]Frank Bolz, Jr., Kenneth J.Dudonis, David P.Schulz (2012), The Counterterrorism Handbook: Tactics, Procedures, and Techniques, CRC Press, trang 121.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: