Thứ sáu 16/01/2026 00:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề của tư pháp quốc tế Việt Nam trong lĩnh vực hợp đồng

Đối với một hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì nguồn luật được áp dụng cho hợp đồng đó là yếu tố được quan tâm đặc biệt. Khi hợp đồng có yếu tố nước ngoài sẽ dẫn đến trường hợp xung đột về pháp luật áp dụng cho hợp đồng, tức là có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng đó và đặt ra yêu cầu cần xác định hệ thống pháp luật nào cần được áp dụng. Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu phân tích 04 vấn đề, cụ thể: (i) Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài; (ii) Nguồn luật tư pháp quốc tế điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và ảnh hưởng tham khảo của các quy tắc tiến bộ trên thế giới; (iii) Sự phát triển của quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng ở Việt Nam; (iv) Phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng.


1. Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Khi một hợp đồng có xuất hiện yếu tố nước ngoài, thì bước đầu tiên quan trọng khi tiếp cận hợp đồng đó là giải quyết hiện tượng xung đột về pháp luật áp dụng cho hợp đồng, tức là có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng đó và yêu cầu bức thiết là phải xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng. Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hệ thống pháp luật được các bên thỏa thuận lựa chọn để điều chỉnh hợp đồng của họ hoặc là hệ thống pháp luật do cơ quan giải quyết tranh chấp xác định khi các bên đã không thực hiện quyền thỏa thuận này (không có thỏa thuận chọn luật áp dụng).

2. Nguồn luật tư pháp quốc tế điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và ảnh hưởng tham khảo của các quy tắc tiến bộ trên thế giới

Nguồn luật của tư pháp quốc tế Việt Nam trong lĩnh vực hợp đồng trước hết bao gồm các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước, trong đó có 08 hiệp định có chứa các quy phạm xung đột về nội dung hợp đồng và 11 hiệp định chứa các quy phạm xung đột về năng lực giao kết hợp đồng[1]. Đối với nguồn luật nội địa mà phần lớn quan điểm ở Việt Nam cho rằng là nguồn luật chính của tư pháp quốc tế, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế (Phần thứ tám) và công nhận và cho thi hành phán quyết của Tòa án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Phần thứ bảy); trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 có Phần thứ năm quy định về luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, còn một số quy định nằm tản mạn trong các văn bản luật khác.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế vào năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam. Trong quyết định này, Bộ Tư pháp được giao tiến hành dự án nghiên cứu về khả năng ban hành một đạo luật tư pháp quốc tế. Luật này sẽ không những bao gồm các quy định về luật áp dụng mà cả những quy định về thẩm quyền, công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài. Tuy nhiên, khi mà Luật có phạm vi rộng như vậy và các số liệu nghiên cứu thực tiễn còn thiếu, dự án vẫn đang được thực hiện. Mảng tố tụng của Luật đang được ban soạn thảo nghiên cứu so sánh đối chiếu với những dự án công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế trong mảng này. Đặc biệt, những quy định về thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước và cách thức tiếp cận nội dung của pháp luật nước ngoài cũng đang xem xét.

Liên quan đến vấn đề hợp đồng, Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế có ban hành Các quy tắc La Hay về lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế (Các quy tắc La Hay)[2]. Đáng chú ý là, một xu hướng gần đây của hội nghị là xây dựng các bộ quy tắc mềm theo kiểu luật mẫu không bắt buộc các bên tham gia như các công ước. Các quốc gia dù không bắt buộc phải gia nhập các công ước và thực thi, trong khi quy trình này thường mất nhiều thời gian, nhưng thường có khuynh hướng tham khảo các quy tắc mềm này khi xây dựng luật quốc gia. Xét mục đích hài hòa pháp luật mà Hội nghị này hướng tới thì các bộ quy tắc như vậy giúp đạt được phần lớn của mục tiêu đó khi mà các quốc gia điều chỉnh luật của nước mình theo các tiêu chí trong đó, trong khi họ vẫn giữ được tự chủ khi xây dựng pháp luật nước mình phù hợp với những đặc điểm riêng của từng đất nước.

Các quy tắc La Hay cũng được xây dựng với mục đích như vậy. Quy tắc này có 12 điều, quy định những nội dung có thể hài hòa hóa được liên quan đến vấn đề lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế, như quyền tự do lựa chọn, lựa chọn rõ ràng hoặc ngầm định, hiệu lực về hình thức của lựa chọn luật áp dụng... Các quy tắc này không có quy định về luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng.

Đối với Các quy tắc này ở thời điểm xây dựng dự thảo cho Phần thứ năm của Bộ luật Dân sự năm 2015, trong Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế tập trung vào giao dịch thương mại, Các quy tắc này đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, Các quy tắc vẫn còn khá mới (ban hành vào ngày 19/3/2015). Sự ảnh hưởng của Các quy tắc sẽ nhiều hơn trong tương lai, khi Các quy tắc được phổ biến rộng rãi hơn.

Đến nay, chưa có án nào được công bố ở Việt Nam trong đó thẩm phán áp dụng Các quy tắc La Hay hoặc tham chiếu thẳng đến Các quy tắc này. Tuy nhiên, khi Các quy tắc được biết đến nhiều hơn ở Việt Nam, khả năng nó sẽ được Tòa án tham khảo để trả lời những câu hỏi mà các quy phạm xung đột của Việt Nam chưa có quy định. Cũng như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được Tòa án Việt Nam áp dụng để giải quyết một án vào năm 1996, khi mà Việt Nam chưa phải là thành viên Công ước. Lý do cho sự cởi mở của Tòa án đối với CISG là vì Công ước này rất nổi tiếng. Chúng ta cũng có thể chờ đợi tương tự rằng Các quy tắc La Hay sẽ được Tòa án sử dụng, đặc biệt là khi Việt Nam đã là một nước thành viên của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Các quy tắc có thể được áp dụng trên cơ sở của các quy tắc chung và lẽ công bằng quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nghiên cứu Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế đề cập ở trên, tác giả thấy rằng, một nguồn luật được nghiên cứu đối chiếu và tham khảo kỹ lưỡng khi xây dựng quy phạm xung đột về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là pháp luật tư pháp quốc tế của Liên minh châu Âu. Vấn đề luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng được Liên minh châu Âu điều chỉnh bằng một nghị định (regulation), Nghị định Rome I về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng (Nghị định Rome I)[3], có hiệu lực áp dụng trực tiếp cho các cá nhân, pháp nhân của các nước thành viên. Nghị định Rome I thay thế cho Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ theo hợp đồng, áp dụng trong các tình huống xung đột pháp luật về nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ dân sự và thương mại từ ngày 17/9/2009.

Nội dung của Nghị định Rome I bao quát ba vấn đề chính của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Nghị định Rome I có những quy định tiên tiến cho nhiều vấn đề quan trọng và chi tiết của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế[4] như quyền tự do thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng của các bên, luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận đó, phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng, nơi cư trú thường xuyên (habitual residence) hay các quy phạm chuyên biệt cho các loại hợp đồng cụ thể, trong đó có hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm…

Bên cạnh pháp luật Liên minh châu Âu, pháp luật Thụy sĩ, Nhật Bản, Trung Quốc cũng được đề cập, so sánh, tham khảo. Tuy nhiên, có thể nói rằng, Nghị định Rome I có ảnh hướng tham khảo lập pháp lớn nhất so với các quy tắc xung đột về hợp đồng tiên tiến khác trên thế giới.

3. Sự phát triển của quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng ở Việt Nam

Quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng đầu tiên của tư pháp quốc tế Việt Nam là Điều 834 Bộ luật Dân sự năm 1995. Điều luật bao gồm hai khoản: Khoản 1 quy định về hình thức của hợp đồng và khoản 2 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Sau 10 năm, Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995 và nâng số điều luật về luật áp dụng cho hợp đồng lên ba điều (Điều 769, Điều 770 và Điều 771). Quy định mới ở đây chính là Điều 771 về “hợp đồng giao kết vắng mặt”. Điều này quy định về cách xác định nơi giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết hợp đồng vắng mặt. Nơi giao kết hợp đồng sẽ giúp xác định luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng giao kết vắng mặt theo Điều 770. Đáng chú ý là sự gia tăng của các điều luật ở Bộ luật Dân sự năm 2005 so với Bộ luật Dân sự năm 1995 không đáp ứng được yêu cầu về những quy định cụ thể như có thể thấy trong những đạo luật về tư pháp quốc tế trên thế giới (Công ước Rome 1980, Nghị định Rome I về luật áp dụng cho hợp đồng, Luật về luật áp dụng của Nhật Bản năm 2007[5]). Trong những văn bản luật này, ngoài quy phạm xung đột về quyền tự do chọn luật áp dụng và luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận, còn có các quy phạm xung đột chuyên biệt về hợp đồng tiêu dùng, lao động và bảo hiểm.

Sau 10 năm, Việt Nam ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó có Điều 683 quy định về hợp đồng. Điều luật này đánh dấu bước tiến bộ lập pháp đáng kể của tư pháp quốc tế Việt nam về quy phạm xung đột chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Nguyên tắc tự do thỏa thuận luật áp dụng được nhấn mạnh ở khoản 1. Khoản 2 thể hiện nhiều thay đổi quan trọng trong thiết kế luật áp dụng khi không có thỏa thuận chọn luật của các bên.

4. Phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng

Trong khi Nghị định Rome I có Điều 12 quy định về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh bởi luật áp dụng cho hợp đồng và Các quy tắc La Hay có Điều 9 mô tả phạm vi điều chỉnh của luật được các bên lựa chọn là áp dụng cho tất cả khía cạnh của một hợp đồng, thì Việt Nam không có quy định về phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng. Câu chữ của Điều 769 (khoản 1) Bộ luật Dân sự năm 2005 cho các bên khả năng chọn luật áp dụng chỉ cho “quyền và nghĩa vụ” của các bên theo hợp đồng. Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã cụ thể hóa Điều 769 (khoản 1) rằng “nội dung của hợp đồng” (thay vì chỉ có quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng) sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn “mơ hồ” về những vấn đề nào thuộc về “nội dung của hợp đồng”. Rõ ràng là các nhà lập pháp Việt Nam muốn phân biệt giữa “nội dung” và “hình thức” của hợp đồng bằng việc quy định luật áp dụng cho nội dung hợp đồng ở Điều 769 và hình thức hợp đồng ở Điều 770 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, phạm vi của những vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng đáng lẽ ra cần được cụ thể hóa thêm.

Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 có bước tiến bộ khi quy định rằng các bên có thể chọn luật áp dụng cho hợp đồng, nghĩa là luật do các bên lựa chọn sẽ áp dụng cho tất cả các vấn đề của hợp đồng giữa các bên[6]. Tuy nhiên, điều luật đã có thể tốt hơn nếu có một điều khoản quy định phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng, trong đó cụ thể hóa những khía cạnh của hợp đồng được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn theo mô hình của Điều 12 Nghị định Rome I hay Điều 9 Các quy tắc La Hay.

Điều 12 Nghị định Rome I đưa ra một danh sách các vấn đề (không chỉ hạn chế trong những vấn đề này) được điều chỉnh bởi luật áp dụng, gồm có: (i) Giải thích hợp đồng; (ii) Thực hiện hợp đồng; (iii) Các hậu quả của việc vi phạm, bao gồm đánh giá thiệt hại trong chừng mực khi nó được điều chỉnh bởi các luật lệ (trong giới hạn của các quyền hạn được trao cho Tòa án bởi pháp luật tố tụng của nó); (iv) Các cách khác nhau của việc hủy bỏ các nghĩa vụ, thời hiệu và hạn chế của các khiếu kiện; (v) Hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Có thể thấy rằng, nhiều vấn đề quan trọng được nêu ra để cụ thể hóa phạm vi điều chỉnh của hợp đồng và để phân biệt chúng với những vấn đề có thể được điều chỉnh bởi quy phạm xung đột khác và xác định một luật khác áp dụng. Đây là những quy phạm mà Việt Nam cần xây dựng trong tương lai.

Trong khi đó, Điều 9 Các quy tắc La Hay đưa ra một danh sách (không hạn chế trong đó) những vấn đề được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn. Khoản 1 của Điều luật này quy định rằng: Pháp luật do các bên lựa chọn điều chỉnh tất cả các vấn đề của hợp đồng giữa các bên, bao gồm, nhưng không giới hạn ở: (i) Giải thích; (ii) Quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng; (iii) Thực hiện và hậu quả của việc không thực hiện hợp đồng bao gồm cả đánh giá thiệt hại; (iv) Các cách thức khác nhau để chấm dứt nghĩa vụ và thời hiệu, thời hạn; (v) Hiệu lực của hợp đồng và hậu quả của hợp đồng vô hiệu; (vi) Nghĩa vụ chứng minh và các giả định pháp lý; (vii) Nghĩa vụ tiền hợp đồng.

Có thể thấy rằng, Điều 9 (khoản 1) Các quy tắc La Hay đề cập rõ ràng đến quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng và nhấn mạnh rằng đó là những khía cạnh quan trọng của bất kỳ hợp đồng nào. Danh sách này còn bao gồm vấn đề hiệu lực của hợp đồng và hậu quả của hợp đồng vô hiệu (mặc dù hiệu lực ở đây chỉ về hiệu lực vật chất của hợp đồng) vì Điều 9 này có khoản 2 quy định thêm rằng, không loại trừ khả năng áp dụng một luật điều chỉnh khác mà luật này ủng hộ hiệu lực về mặt hình thức của hợp đồng. Trong khi đó, Nghị định Rome I có hai điều luật riêng biệt điều chỉnh vấn đề giá trị hiệu lực của hợp đồng. Điều 10 quy định về sự đồng ý và hiệu lực về vật chất và Điều 11 quy định về hiệu lực về hình thức của hợp đồng. Mặc dù cả hai điều luật đều cho phép luật điều chỉnh hợp đồng áp dụng, nhưng chúng có những quy định đặc biệt dẫn đến những luật áp dụng thay thế khác.

Trong luật Việt Nam không có quy định minh thị về luật áp dụng cho hiệu lực về vật chất của hợp đồng như cách của Nghị định Rome I; cũng không có quy định về phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng bao gồm cả vấn đề hiệu lực về vật chất của hợp đồng theo cách của Các quy tắc La Hay. Phương pháp tiếp cận hợp lý cho Việt Nam là nên đưa vấn đề hiệu lực về vật chất của hợp đồng vào điều chỉnh bởi luật áp dụng. Thêm nữa, nếu có một quy định riêng về sự đồng ý và hiệu lực về vật chất của hợp đồng theo mô hình của Điều 10 Nghị định Rome I, thì nên nghiên cứu cả khoản 2 của Điều 10 này về sự đồng ý của các bên tham gia hợp đồng. Khoản 2 này quy định rằng, một bên có thể dựa vào luật của nước nơi họ thường trú để thiết lập rằng họ không đồng ý nếu hoàn cảnh rõ ràng cho thấy rằng sẽ không hợp lý để xem xét hiệu lực của hành vi người đó theo luật điều chỉnh hợp đồng xác định theo khoản 1. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khoản 2 này hướng đến điều chỉnh vấn đề cụ thể là sự im lặng của người được đề nghị như là một chấp nhận hợp đồng theo luật áp dụng của hợp đồng. Nó cho phép người được đề nghị phản đối sự đồng ý giao kết hợp đồng của anh ta và từ đó từ chối sự giao kết hợp đồng bằng cách dẫn chiếu đến luật nước nơi anh ta cư trú và luật nước này quy định là không có sự đồng ý trong trường hợp như vậy. Quyền viện dẫn điều này được trao cho người này. Tác dụng của quy định đó phải là vô hiệu hóa sự đồng ý giao kết hợp đồng và quy định này không thể được viện dẫn theo hướng ngược lại, rằng anh ta đồng ý mặc dù luật áp dụng cho hợp đồng chỉ ngược lại[7].

TS. Nguyễn Thị Hồng Trinh
Trường Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Theo Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế tập trung vào giao dịch thương mại của Dự án Phát triển lập pháp (NLD) tài trợ bởi Chính phủ Canada, 2015, tr. 7.

[2]. Tên tiếng Anh là Hague Principles on Choice of Law in International Commercial Contracts, link truy cập: https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/full-text/?cid=135; bản dịch tiếng Việt tham khảo bản dịch của Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp theo https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/tin-tuc-su-kien.aspx?ItemID=73, truy cập ngày 25/12/2019.

[3]. Toàn văn Nghị định Rome I bằng tiếng Anh, tại địa chỉ https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri =celex%3A32008R0593.

[4]. Nghị định Rome I được xem là bước tiến lớn trong quá trình hài hòa luật xung đột của châu Âu về hợp đồng. Xem thêm Jurgen Basedow, The Communitarization of the Conflict of Laws under the Treaty of Amsterdam, Common -Market Law Review 37 (2000), tr. 687 - 708.

[5]. Xem thêm về những xu hướng pháp điển hóa những quy phạm cụ thể của các quốc gia này tại Jurgen Basedow, “The Recent Development of the Conflict of Laws – Some Comparative Observations”, trong sách Japanese and European Private International Law in Comparative Perspective, Tubingen: Mohr Siebeck, 2008. tr. 3 - 18.

[6]. Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 599.

[7]. G Schulze, “Article 10-Consent and Material Validity”, trong P Calliess (chủ biên), Rome Regulations (2nd edn, Kluwer Law International, 2015), tr. 262.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: