Thứ sáu 13/03/2026 06:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề của tư pháp quốc tế Việt Nam trong lĩnh vực hợp đồng

Đối với một hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì nguồn luật được áp dụng cho hợp đồng đó là yếu tố được quan tâm đặc biệt. Khi hợp đồng có yếu tố nước ngoài sẽ dẫn đến trường hợp xung đột về pháp luật áp dụng cho hợp đồng, tức là có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng đó và đặt ra yêu cầu cần xác định hệ thống pháp luật nào cần được áp dụng. Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu phân tích 04 vấn đề, cụ thể: (i) Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài; (ii) Nguồn luật tư pháp quốc tế điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và ảnh hưởng tham khảo của các quy tắc tiến bộ trên thế giới; (iii) Sự phát triển của quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng ở Việt Nam; (iv) Phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng.


1. Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Khi một hợp đồng có xuất hiện yếu tố nước ngoài, thì bước đầu tiên quan trọng khi tiếp cận hợp đồng đó là giải quyết hiện tượng xung đột về pháp luật áp dụng cho hợp đồng, tức là có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng đó và yêu cầu bức thiết là phải xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng. Luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hệ thống pháp luật được các bên thỏa thuận lựa chọn để điều chỉnh hợp đồng của họ hoặc là hệ thống pháp luật do cơ quan giải quyết tranh chấp xác định khi các bên đã không thực hiện quyền thỏa thuận này (không có thỏa thuận chọn luật áp dụng).

2. Nguồn luật tư pháp quốc tế điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và ảnh hưởng tham khảo của các quy tắc tiến bộ trên thế giới

Nguồn luật của tư pháp quốc tế Việt Nam trong lĩnh vực hợp đồng trước hết bao gồm các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước, trong đó có 08 hiệp định có chứa các quy phạm xung đột về nội dung hợp đồng và 11 hiệp định chứa các quy phạm xung đột về năng lực giao kết hợp đồng[1]. Đối với nguồn luật nội địa mà phần lớn quan điểm ở Việt Nam cho rằng là nguồn luật chính của tư pháp quốc tế, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế (Phần thứ tám) và công nhận và cho thi hành phán quyết của Tòa án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Phần thứ bảy); trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 có Phần thứ năm quy định về luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, còn một số quy định nằm tản mạn trong các văn bản luật khác.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế vào năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam. Trong quyết định này, Bộ Tư pháp được giao tiến hành dự án nghiên cứu về khả năng ban hành một đạo luật tư pháp quốc tế. Luật này sẽ không những bao gồm các quy định về luật áp dụng mà cả những quy định về thẩm quyền, công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài. Tuy nhiên, khi mà Luật có phạm vi rộng như vậy và các số liệu nghiên cứu thực tiễn còn thiếu, dự án vẫn đang được thực hiện. Mảng tố tụng của Luật đang được ban soạn thảo nghiên cứu so sánh đối chiếu với những dự án công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế trong mảng này. Đặc biệt, những quy định về thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước và cách thức tiếp cận nội dung của pháp luật nước ngoài cũng đang xem xét.

Liên quan đến vấn đề hợp đồng, Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế có ban hành Các quy tắc La Hay về lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế (Các quy tắc La Hay)[2]. Đáng chú ý là, một xu hướng gần đây của hội nghị là xây dựng các bộ quy tắc mềm theo kiểu luật mẫu không bắt buộc các bên tham gia như các công ước. Các quốc gia dù không bắt buộc phải gia nhập các công ước và thực thi, trong khi quy trình này thường mất nhiều thời gian, nhưng thường có khuynh hướng tham khảo các quy tắc mềm này khi xây dựng luật quốc gia. Xét mục đích hài hòa pháp luật mà Hội nghị này hướng tới thì các bộ quy tắc như vậy giúp đạt được phần lớn của mục tiêu đó khi mà các quốc gia điều chỉnh luật của nước mình theo các tiêu chí trong đó, trong khi họ vẫn giữ được tự chủ khi xây dựng pháp luật nước mình phù hợp với những đặc điểm riêng của từng đất nước.

Các quy tắc La Hay cũng được xây dựng với mục đích như vậy. Quy tắc này có 12 điều, quy định những nội dung có thể hài hòa hóa được liên quan đến vấn đề lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế, như quyền tự do lựa chọn, lựa chọn rõ ràng hoặc ngầm định, hiệu lực về hình thức của lựa chọn luật áp dụng... Các quy tắc này không có quy định về luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng.

Đối với Các quy tắc này ở thời điểm xây dựng dự thảo cho Phần thứ năm của Bộ luật Dân sự năm 2015, trong Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế tập trung vào giao dịch thương mại, Các quy tắc này đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, Các quy tắc vẫn còn khá mới (ban hành vào ngày 19/3/2015). Sự ảnh hưởng của Các quy tắc sẽ nhiều hơn trong tương lai, khi Các quy tắc được phổ biến rộng rãi hơn.

Đến nay, chưa có án nào được công bố ở Việt Nam trong đó thẩm phán áp dụng Các quy tắc La Hay hoặc tham chiếu thẳng đến Các quy tắc này. Tuy nhiên, khi Các quy tắc được biết đến nhiều hơn ở Việt Nam, khả năng nó sẽ được Tòa án tham khảo để trả lời những câu hỏi mà các quy phạm xung đột của Việt Nam chưa có quy định. Cũng như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được Tòa án Việt Nam áp dụng để giải quyết một án vào năm 1996, khi mà Việt Nam chưa phải là thành viên Công ước. Lý do cho sự cởi mở của Tòa án đối với CISG là vì Công ước này rất nổi tiếng. Chúng ta cũng có thể chờ đợi tương tự rằng Các quy tắc La Hay sẽ được Tòa án sử dụng, đặc biệt là khi Việt Nam đã là một nước thành viên của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Các quy tắc có thể được áp dụng trên cơ sở của các quy tắc chung và lẽ công bằng quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nghiên cứu Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế đề cập ở trên, tác giả thấy rằng, một nguồn luật được nghiên cứu đối chiếu và tham khảo kỹ lưỡng khi xây dựng quy phạm xung đột về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là pháp luật tư pháp quốc tế của Liên minh châu Âu. Vấn đề luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng được Liên minh châu Âu điều chỉnh bằng một nghị định (regulation), Nghị định Rome I về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng (Nghị định Rome I)[3], có hiệu lực áp dụng trực tiếp cho các cá nhân, pháp nhân của các nước thành viên. Nghị định Rome I thay thế cho Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ theo hợp đồng, áp dụng trong các tình huống xung đột pháp luật về nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ dân sự và thương mại từ ngày 17/9/2009.

Nội dung của Nghị định Rome I bao quát ba vấn đề chính của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Nghị định Rome I có những quy định tiên tiến cho nhiều vấn đề quan trọng và chi tiết của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế[4] như quyền tự do thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng của các bên, luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận đó, phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng, nơi cư trú thường xuyên (habitual residence) hay các quy phạm chuyên biệt cho các loại hợp đồng cụ thể, trong đó có hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm…

Bên cạnh pháp luật Liên minh châu Âu, pháp luật Thụy sĩ, Nhật Bản, Trung Quốc cũng được đề cập, so sánh, tham khảo. Tuy nhiên, có thể nói rằng, Nghị định Rome I có ảnh hướng tham khảo lập pháp lớn nhất so với các quy tắc xung đột về hợp đồng tiên tiến khác trên thế giới.

3. Sự phát triển của quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng ở Việt Nam

Quy phạm xung đột trong lĩnh vực hợp đồng đầu tiên của tư pháp quốc tế Việt Nam là Điều 834 Bộ luật Dân sự năm 1995. Điều luật bao gồm hai khoản: Khoản 1 quy định về hình thức của hợp đồng và khoản 2 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Sau 10 năm, Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995 và nâng số điều luật về luật áp dụng cho hợp đồng lên ba điều (Điều 769, Điều 770 và Điều 771). Quy định mới ở đây chính là Điều 771 về “hợp đồng giao kết vắng mặt”. Điều này quy định về cách xác định nơi giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết hợp đồng vắng mặt. Nơi giao kết hợp đồng sẽ giúp xác định luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng giao kết vắng mặt theo Điều 770. Đáng chú ý là sự gia tăng của các điều luật ở Bộ luật Dân sự năm 2005 so với Bộ luật Dân sự năm 1995 không đáp ứng được yêu cầu về những quy định cụ thể như có thể thấy trong những đạo luật về tư pháp quốc tế trên thế giới (Công ước Rome 1980, Nghị định Rome I về luật áp dụng cho hợp đồng, Luật về luật áp dụng của Nhật Bản năm 2007[5]). Trong những văn bản luật này, ngoài quy phạm xung đột về quyền tự do chọn luật áp dụng và luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận, còn có các quy phạm xung đột chuyên biệt về hợp đồng tiêu dùng, lao động và bảo hiểm.

Sau 10 năm, Việt Nam ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó có Điều 683 quy định về hợp đồng. Điều luật này đánh dấu bước tiến bộ lập pháp đáng kể của tư pháp quốc tế Việt nam về quy phạm xung đột chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Nguyên tắc tự do thỏa thuận luật áp dụng được nhấn mạnh ở khoản 1. Khoản 2 thể hiện nhiều thay đổi quan trọng trong thiết kế luật áp dụng khi không có thỏa thuận chọn luật của các bên.

4. Phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng

Trong khi Nghị định Rome I có Điều 12 quy định về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh bởi luật áp dụng cho hợp đồng và Các quy tắc La Hay có Điều 9 mô tả phạm vi điều chỉnh của luật được các bên lựa chọn là áp dụng cho tất cả khía cạnh của một hợp đồng, thì Việt Nam không có quy định về phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng. Câu chữ của Điều 769 (khoản 1) Bộ luật Dân sự năm 2005 cho các bên khả năng chọn luật áp dụng chỉ cho “quyền và nghĩa vụ” của các bên theo hợp đồng. Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã cụ thể hóa Điều 769 (khoản 1) rằng “nội dung của hợp đồng” (thay vì chỉ có quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng) sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn “mơ hồ” về những vấn đề nào thuộc về “nội dung của hợp đồng”. Rõ ràng là các nhà lập pháp Việt Nam muốn phân biệt giữa “nội dung” và “hình thức” của hợp đồng bằng việc quy định luật áp dụng cho nội dung hợp đồng ở Điều 769 và hình thức hợp đồng ở Điều 770 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, phạm vi của những vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng đáng lẽ ra cần được cụ thể hóa thêm.

Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 có bước tiến bộ khi quy định rằng các bên có thể chọn luật áp dụng cho hợp đồng, nghĩa là luật do các bên lựa chọn sẽ áp dụng cho tất cả các vấn đề của hợp đồng giữa các bên[6]. Tuy nhiên, điều luật đã có thể tốt hơn nếu có một điều khoản quy định phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng cho hợp đồng, trong đó cụ thể hóa những khía cạnh của hợp đồng được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn theo mô hình của Điều 12 Nghị định Rome I hay Điều 9 Các quy tắc La Hay.

Điều 12 Nghị định Rome I đưa ra một danh sách các vấn đề (không chỉ hạn chế trong những vấn đề này) được điều chỉnh bởi luật áp dụng, gồm có: (i) Giải thích hợp đồng; (ii) Thực hiện hợp đồng; (iii) Các hậu quả của việc vi phạm, bao gồm đánh giá thiệt hại trong chừng mực khi nó được điều chỉnh bởi các luật lệ (trong giới hạn của các quyền hạn được trao cho Tòa án bởi pháp luật tố tụng của nó); (iv) Các cách khác nhau của việc hủy bỏ các nghĩa vụ, thời hiệu và hạn chế của các khiếu kiện; (v) Hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Có thể thấy rằng, nhiều vấn đề quan trọng được nêu ra để cụ thể hóa phạm vi điều chỉnh của hợp đồng và để phân biệt chúng với những vấn đề có thể được điều chỉnh bởi quy phạm xung đột khác và xác định một luật khác áp dụng. Đây là những quy phạm mà Việt Nam cần xây dựng trong tương lai.

Trong khi đó, Điều 9 Các quy tắc La Hay đưa ra một danh sách (không hạn chế trong đó) những vấn đề được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn. Khoản 1 của Điều luật này quy định rằng: Pháp luật do các bên lựa chọn điều chỉnh tất cả các vấn đề của hợp đồng giữa các bên, bao gồm, nhưng không giới hạn ở: (i) Giải thích; (ii) Quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng; (iii) Thực hiện và hậu quả của việc không thực hiện hợp đồng bao gồm cả đánh giá thiệt hại; (iv) Các cách thức khác nhau để chấm dứt nghĩa vụ và thời hiệu, thời hạn; (v) Hiệu lực của hợp đồng và hậu quả của hợp đồng vô hiệu; (vi) Nghĩa vụ chứng minh và các giả định pháp lý; (vii) Nghĩa vụ tiền hợp đồng.

Có thể thấy rằng, Điều 9 (khoản 1) Các quy tắc La Hay đề cập rõ ràng đến quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng và nhấn mạnh rằng đó là những khía cạnh quan trọng của bất kỳ hợp đồng nào. Danh sách này còn bao gồm vấn đề hiệu lực của hợp đồng và hậu quả của hợp đồng vô hiệu (mặc dù hiệu lực ở đây chỉ về hiệu lực vật chất của hợp đồng) vì Điều 9 này có khoản 2 quy định thêm rằng, không loại trừ khả năng áp dụng một luật điều chỉnh khác mà luật này ủng hộ hiệu lực về mặt hình thức của hợp đồng. Trong khi đó, Nghị định Rome I có hai điều luật riêng biệt điều chỉnh vấn đề giá trị hiệu lực của hợp đồng. Điều 10 quy định về sự đồng ý và hiệu lực về vật chất và Điều 11 quy định về hiệu lực về hình thức của hợp đồng. Mặc dù cả hai điều luật đều cho phép luật điều chỉnh hợp đồng áp dụng, nhưng chúng có những quy định đặc biệt dẫn đến những luật áp dụng thay thế khác.

Trong luật Việt Nam không có quy định minh thị về luật áp dụng cho hiệu lực về vật chất của hợp đồng như cách của Nghị định Rome I; cũng không có quy định về phạm vi điều chỉnh của luật áp dụng bao gồm cả vấn đề hiệu lực về vật chất của hợp đồng theo cách của Các quy tắc La Hay. Phương pháp tiếp cận hợp lý cho Việt Nam là nên đưa vấn đề hiệu lực về vật chất của hợp đồng vào điều chỉnh bởi luật áp dụng. Thêm nữa, nếu có một quy định riêng về sự đồng ý và hiệu lực về vật chất của hợp đồng theo mô hình của Điều 10 Nghị định Rome I, thì nên nghiên cứu cả khoản 2 của Điều 10 này về sự đồng ý của các bên tham gia hợp đồng. Khoản 2 này quy định rằng, một bên có thể dựa vào luật của nước nơi họ thường trú để thiết lập rằng họ không đồng ý nếu hoàn cảnh rõ ràng cho thấy rằng sẽ không hợp lý để xem xét hiệu lực của hành vi người đó theo luật điều chỉnh hợp đồng xác định theo khoản 1. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khoản 2 này hướng đến điều chỉnh vấn đề cụ thể là sự im lặng của người được đề nghị như là một chấp nhận hợp đồng theo luật áp dụng của hợp đồng. Nó cho phép người được đề nghị phản đối sự đồng ý giao kết hợp đồng của anh ta và từ đó từ chối sự giao kết hợp đồng bằng cách dẫn chiếu đến luật nước nơi anh ta cư trú và luật nước này quy định là không có sự đồng ý trong trường hợp như vậy. Quyền viện dẫn điều này được trao cho người này. Tác dụng của quy định đó phải là vô hiệu hóa sự đồng ý giao kết hợp đồng và quy định này không thể được viện dẫn theo hướng ngược lại, rằng anh ta đồng ý mặc dù luật áp dụng cho hợp đồng chỉ ngược lại[7].

TS. Nguyễn Thị Hồng Trinh
Trường Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Theo Báo cáo rà soát pháp luật tư pháp quốc tế tập trung vào giao dịch thương mại của Dự án Phát triển lập pháp (NLD) tài trợ bởi Chính phủ Canada, 2015, tr. 7.

[2]. Tên tiếng Anh là Hague Principles on Choice of Law in International Commercial Contracts, link truy cập: https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/full-text/?cid=135; bản dịch tiếng Việt tham khảo bản dịch của Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp theo https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/tin-tuc-su-kien.aspx?ItemID=73, truy cập ngày 25/12/2019.

[3]. Toàn văn Nghị định Rome I bằng tiếng Anh, tại địa chỉ https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri =celex%3A32008R0593.

[4]. Nghị định Rome I được xem là bước tiến lớn trong quá trình hài hòa luật xung đột của châu Âu về hợp đồng. Xem thêm Jurgen Basedow, The Communitarization of the Conflict of Laws under the Treaty of Amsterdam, Common -Market Law Review 37 (2000), tr. 687 - 708.

[5]. Xem thêm về những xu hướng pháp điển hóa những quy phạm cụ thể của các quốc gia này tại Jurgen Basedow, “The Recent Development of the Conflict of Laws – Some Comparative Observations”, trong sách Japanese and European Private International Law in Comparative Perspective, Tubingen: Mohr Siebeck, 2008. tr. 3 - 18.

[6]. Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 599.

[7]. G Schulze, “Article 10-Consent and Material Validity”, trong P Calliess (chủ biên), Rome Regulations (2nd edn, Kluwer Law International, 2015), tr. 262.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: