Thứ tư 04/03/2026 20:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc trong áp dụng quy định của pháp luật về nhận cha, mẹ, con

Quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ đặc biệt quan trọng, vừa có ý nghĩa về mặt pháp lý, vừa có ý nghĩa về mặt xã hội. Về pháp lý, quan hệ cha, mẹ, con xác lập sẽ được pháp luật và cộng đồng thừa nhận

Quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ đặc biệt quan trọng, vừa có ý nghĩa về mặt pháp lý, vừa có ý nghĩa về mặt xã hội. Về pháp lý, quan hệ cha, mẹ, con xác lập sẽ được pháp luật và cộng đồng thừa nhận, là cơ sở để thực hiện tốt những quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha, mẹ và con; về nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha, mẹ và con; về thừa kế tài sản. Đồng thời, quan hệ cha, mẹ, con là điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con và của con đối với cha, mẹ. Khi được pháp luật thừa nhận, nếu có tranh chấp xảy ra giữa các thành viên trong gia đình thì mối quan hệ này sẽ là cơ sở để giải quyết nhanh chóng và kịp thời. Về xã hội, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con sẽ xác lập được đơn vị là gia đình. Gia đình là cơ sở, là tế bào của xã hội, gia đình có vai trò duy trì nòi giống, tái sản xuất ra sức lao động bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên. Trong đó, cá nhân là thành viên của gia đình, đồng thời là một chủ thể trong xã hội và mỗi chủ thể đó đều có chức năng làm cho gia đình và xã hội ngày càng phát triển.

Chính vì tầm quan trọng đó, chế định pháp lý về cha, mẹ, con luôn được các nhà làm luật quan tâm xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Một số quy định chưa thực sự rõ ràng, còn nhiều chồng chéo, vướng mắc dẫn đến tình trạng khi xảy ra tranh chấp thì cơ quan chức năng còn lúng túng trong vấn đề áp dụng pháp luật. Tình huống sau đây là một ví dụ điển hình:

Chị A (xã X, huyện Y, tỉnh Z) sống chung với anh B cùng xã. Ngày 10/6/2013, sau một năm chung sống, anh B đã đi khỏi địa phương. Ngày 20/9/2013, chị A sinh cháu C và đăng ký khai sinh cho C theo họ của mẹ. Ngày 12/4/2017, chị A kết hôn với anh D cư trú cùng xã. Khi đăng ký kết hôn, chị A và anh D đã làm thủ tục bổ sung hộ tịch, để phần khai về cha của cháu C là anh D và cũng đổi họ cho cháu từ họ mẹ sang họ của anh D. Năm 2018, anh B quay về nơi cư trú, khiếu nại về việc khai sinh cho cháu C và cho rằng, trong giấy khai sinh của cháu C phải ghi anh B là cha.

Sự việc đã dẫn đến tranh chấp, mâu thuẫn và hiện có các quan điểm khác nhau về vấn đề này. Cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, công chức tư pháp xã X, huyện Y, tỉnh Z đã giải quyết đúng quy định của pháp luật. Mặc dù cháu C sinh ra trước ngày chị A và anh D đăng ký kết hôn nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng, do đó, khi chị A và anh D đã làm thủ tục đăng ký kết hôn, đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân xã X giải quyết việc nhận con của anh D thì công chức tư pháp - hộ tịch đã hướng dẫn anh chị làm thủ tục bổ sung hộ tịch để bổ sung phần khai về cha vào sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh cho cháu C.

Cách giải quyết này phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Thông tư số 15/2015/TT-BTP): “Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh không có thông tin về người cha, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con”.

Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại. Do đó, anh D có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã X đổi họ của cháu C từ họ của mẹ thành họ của cha.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định, việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó. Trong trường hợp trên, chị A và anh D đã đồng ý, thể hiện trong tờ khai được lưu tại hồ sơ của Ủy ban nhân dân xã X.

Cũng theo quan điểm này, nếu nảy sinh vấn đề tranh chấp về việc nhận cha, mẹ, con thì Ủy ban nhân dân xã X không có thẩm quyền giải quyết, bởi theo khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Do vậy, anh B muốn được nhận là cha của cháu C thì cần phải gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Y để yêu cầu thụ lý giải quyết.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc nhận cha, con giữa ông D và cháu C là không đúng quy định. Theo đó, việc thay đổi họ từ họ mẹ sang họ cha cũng không đúng quy định. Hay nói cách khác, công chức tư pháp - hộ tịch xã X đã giải quyết vụ việc là không đúng.

Quan điểm này cho rằng, để nhận cha, mẹ, con thì cần phải có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo đúng quy định tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP. Các chứng cứ có thể là một trong các loại giấy tờ sau: Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con. Trường hợp không có các văn bản nêu trên, thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Khoản 2 Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh không có thông tin về người cha, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con. Việc hướng dẫn đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt tại Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP cần được hiểu là có điều kiện áp dụng. Điều kiện để áp dụng trường hợp đặc biệt này là các mối quan hệ cha ruột - con, mẹ ruột - con tương đối rõ ràng, chỉ là cần các thủ tục pháp lý để hợp pháp hóa mối quan hệ đó. Việc loại bỏ các loại giấy tờ chứng minh được quy định trong Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP nhằm giảm thiểu các thủ tục hành chính không cần thiết cho các trường hợp đặc biệt trên, tránh rườm rà, gây phiền hà cho người dân.

Trong trường hợp này, việc công chức tư pháp - hộ tịch xã X áp dụng khoản 2 Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP để giải quyết cho tình huống nảy sinh giữa chị A, anh D, anh B và cháu C là chưa hiểu được dụng ý của nhà làm luật.

Mặt khác, Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc lập văn bản thừa nhận con chung tại khoản 2 Điều 13 nếu không đúng sự thật và khi có cơ sở xác định các thông tin cung cấp cho cơ quan đăng ký hộ tịch không đúng sự thật, cơ quan đăng ký hộ tịch có quyền từ chối giải quyết. Như vậy, trong tình huống nêu trên, việc chị A và anh D có văn bản thừa nhận cháu C là con chung (được lưu trong hồ sơ) là không đúng sự thật. Trong trường hợp này, công chức tư pháp - hộ tịch xã X có quyền từ chối giải quyết bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha (anh D) trong Sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con (cháu C).

Như vậy, mỗi quan điểm nêu trên đều có cơ sở thuyết phục. Quan điểm thứ nhất phù hợp với tinh thần của khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mặt khác, quan điểm này cũng thể hiện yếu tố nhân văn, bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Còn quan điểm thứ hai cũng có những lập luận xác đáng, bởi sẽ hạn chế được những trường hợp nhận cha, mẹ, con tùy tiện dẫn đến những tranh chấp phát sinh có thể sẽ phải giải quyết sau này.

Với các quan điểm nêu trên, theo tác giả thì quan điểm thứ hai thuyết phục hơn. Một vấn đề cần lưu ý, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng và Điều 44 Luật Hộ tịch năm 2014 về thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con cũng quy định, người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định bất cứ điều kiện nào trong thủ tục nhận cha, mẹ, con, còn Luật Hộ tịch năm 2014 thì có quy định các loại giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình ban hành ngày 19/6/2014 và có hiệu lực ngày 01/01/2015, còn Luật Hộ tịch ban hành ngày 20/11/2014 và có hiệu lực ngày 01/01/2016, như vậy, trong tình huống mà có sự không thống nhất, chồng chéo giữa hai luật trên thì sẽ áp dụng Luật Hộ tịch năm 2014. Theo đó, để cụ thể hóa Điều 44 Luật Hộ tịch năm 2014, Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP đã quy định chi tiết các loại giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác và Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP chỉ quy định trong trường hợp đặc biệt. Nhưng hiểu thế nào là “trường hợp đặc biệt” thì Thông tư số 15/2015/TT-BTP lại chưa giải thích rõ ràng. Vì vậy, để có sự áp dụng thống nhất pháp luật, tác giả kiến nghị quy định rõ đối tượng nào được nhận cha, mẹ, con và thế nào là “trường hợp đặc biệt” trong quy định tại Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP.

Cao Thị Quỳnh

Trường Chính trị tỉnh Sơn La

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: