Thứ tư 23/09/2026 15:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Công tác xây dựng, ban hành văn bản được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành và của tỉnh. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật giao,

1. Những kết quả nổi bật trong công tác xây dựng, kiểm tra văn bản trên địa bàn tỉnh Sơn La
Công tác xây dựng, ban hành văn bản được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành và của tỉnh. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật giao, Sở Tư pháp đã nỗ lực, chủ động tham mưu giúp Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh làm tốt công tác xây dựng, thẩm định văn bản, công tác kiểm tra và xử lý văn bản tại địa phương.

Ngay sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành ban hành 4 văn bản (bao gồm 1 chỉ thị và 3 quyết định) để triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và cụ thể hóa những quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Đồng thời, hàng năm Sở Tư pháp chủ động phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh cùng các sở, ngành có liên quan tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh ban hành Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND và Chương trình xây dựng quyết định của UBND. Do có sự chủ động trong công tác xây dựng chương trình lập quy và cụ thể hoá đối với trình tự ban hành VBQPPL của địa phương, nên việc tuân thủ quy trình ban hành VBQPPL của tỉnh ngày càng được hoàn thiện từ khâu xây dựng dự thảo đề cương; lấy ý kiến góp ý cho dự thảo, ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp… trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành. Từ năm 2011 đến năm 2015, HĐND, UBND các cấp trong tỉnh đã ban hành 2.151 văn bản (trong đó HĐND, UBND tỉnh ban hành 304 văn bản, HĐND, UBND cấp huyện ban hành 287 văn bản, HĐND, UBND cấp xã ban hành 1.560 văn bản). Các văn bản do địa phương ban hành về cơ bản đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục ban hành VBQPPL, đảm bảo về thẩm quyền, nội dung và thể thức kỹ thuật trình bày văn bản. Thông qua hoạt động ban hành VBQPPL đã giúp cho các cấp chính quyền có sự nhận thức đúng, đầy đủ hơn đối với công tác này, văn bản ban hành thực sự góp phần quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực thi nhiệm vụ được giao trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước tại địa phương, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh công tác xây dựng, ban hành VBQPPL, trong thời gian qua, công tác kiểm tra, rà soát văn bản luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng thực hiện. Để đảm bảo thực hiện tốt công tác này, hàng năm Sở Tư pháp đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL trên địa bàn tỉnh, trong đó, xác định rõ trách nhiệm của Sở Tư pháp, trách nhiệm của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố trong công tác kiểm tra, rà soát văn bản. Đồng thời, thành lập các đoàn kiểm tra để thực hiện kiểm tra văn bản trực tiếp tại địa bàn các huyện, thành phố và các xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Tính riêng năm 2015, Sở Tư pháp phối hợp với các sở, ban, ngành giúp UBND tỉnh tự kiểm tra toàn bộ 35 quyết định do UBND tỉnh ban hành trong năm 2015. Thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền đối với 2.476 văn bản (VBQPPL: 80, văn bản áp dụng pháp luật 2.396) do HĐND, UBND các huyện, thành phố ban hành; Phòng Tư pháp và cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã giúp UBND cùng cấp kiểm tra 1.700 văn bản do HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã ban hành. Qua kiểm tra phát hiện 580 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (VBQPPL: 21, áp dụng pháp luật: 559), chủ yếu là những vi phạm về thẩm quyền (giữa thẩm quyền của UBND và thẩm quyền của Chủ tịch UBND), về căn cứ pháp lý, thể thức kỹ thuật trình bày văn bản. Các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đều được thông báo đến cơ quan ban hành văn bản để đính chính, rút kinh nghiệm. Thông qua hoạt động kiểm tra văn bản đã góp phần giúp cho hoạt động ban hành VBQPPL trên địa bàn tỉnh được đồng bộ, thống nhất, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi của văn bản trong thực tiễn, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật ở địa phương.

2. Một số tồn tại trong công tác xây dựng và kiểm tra văn bản ở tỉnh Sơn La

Thứ nhất, về đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản

- Đối với các sở, ngành: Hiện nay, mặc dù Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) đã ban hành được 5 năm, nhưng hầu như các sở, ngành trên địa bàn tỉnh vẫn chưa thành lập được phòng pháp chế, chưa bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách vì không có biên chế và không có nguồn cán bộ đáp ứng đúng tiêu chuẩn của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, vì vậy, các sở, ngành chưa có bộ phận chuyên trách để tham mưu xây dựng, kiểm tra văn bản.

- Đối với cán bộ làm công tác thẩm định và kiểm tra văn bản ở các cơ quan tư pháp của địa phương cũng chưa đảm bảo tính chuyên trách vì còn phải kiêm nhiệm rất nhiều việc: Hiện nay, Phòng xây dựng và kiểm tra văn bản của Sở Tư pháp có 5 biên chế, trong đó thực hiện công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, cập nhập văn bản vào cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; Phòng Tư pháp các huyện, thành phố có từ 3 đến 5 biên chế, trong đó vừa thực hiện công tác thẩm định, kiểm tra văn bản vừa phải thực hiện 21 nội dung công việc khác thuộc chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp mà theo quy định của pháp luật, hiện nay có rất nhiều việc tiếp tục được phân cấp về cho cấp huyện (Ví dụ: công tác đăng ký, quản lý hộ tịch). Trong khi thực tế việc thực hiện công tác thẩm định VBQPPL đã chiếm mất rất nhiều thời gian, vì số lượng các VBQPPL ngày một tăng, nội dung thẩm định đa dạng, phức tạp, một số văn bản đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan, đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu, đối chiếu, với các quy định của pháp luật hiện hành, với tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, tập quán địa phương. Do đó, với số lượng cán bộ và khối lượng công việc như hiện nay rất khó khăn cho cơ quan tư pháp trong việc tham mưu thực hiện công tác thẩm định, kiểm tra VBQPPL.

Thứ hai, về kinh phí phục vụ cho công tác xây dựng, kiểm tra văn bản và chế độ đối với cán bộ làm công tác thẩm định, kiểm tra văn bản

- Kinh phí xây dựng, kiểm tra văn bản: Mặc dù Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 47/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 16/3/2012 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân tỉnh cũng đã ban hành Nghị quyết số 29/2012/NQ-HĐND quy định mức chi ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, nhưng thực tế với mức kinh phí bình quân như hiện nay (Nghị quyết cấp tỉnh: 9.000.000đ, Quyết định cấp tỉnh: 7.500.000đ) không có sự phân biệt giữa văn bản phức tạp (nội dung liên quan nhiều ngành, nhiều lĩnh vực), văn bản đơn giản thì chưa bảo đảm đủ để thực hiện các quy trình soạn thảo văn bản, đặc biệt đối với những văn bản phức tạp mà pháp luật quy định phải tổ chức lấy ý kiến nhân dân, chuyên gia…

- Chế độ cho cán bộ làm công tác thẩm định, kiểm tra: Theo quy định hiện hành thì kinh phí cho việc thẩm định văn bản chưa được 10% trên tổng kinh phí soạn thảo và chế độ cho cán bộ trực tiếp kiểm tra văn bản chỉ được áp dụng đối với những văn bản phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, trong khi người kiểm tra phải thực hiện kiểm tra đối với tất cả các văn bản… Do đó, chưa thực sự động viên, khuyến khích được cán bộ làm công tác thẩm định, kiểm tra văn bản, không thu hút được đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ lựa chọn vào cơ quan tư pháp hoặc làm cán bộ pháp chế chuyên trách các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh.

Thứ ba, về một số bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành

Nhiều quy định của pháp luật chưa cụ thể, còn có mâu thuẫn, chồng chéo gây khó khăn cho địa phương trong công tác xây dựng, kiểm tra văn bản (Ví dụ: Cùng trong một văn bản, nhưng quy định giao thẩm quyền cho địa phương ban hành về cùng một nội dung không thống nhất, có điều thì giao cho UBND tỉnh ban hành, trong điều khác lại giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh ban hành; trong một số văn bản khi phân cấp thẩm quyền cho địa phương chỉ quy định là do cơ quan có thẩm quyền của địa phương ban hành trong khi đối với cấp chính quyền địa phương cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL bao gồm cả HĐND và UBND).

3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng, kiểm tra văn bản ở tỉnh Sơn La trong thời gian tới

Một là, Bộ Tư pháp sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, trong đó cần quan tâm đến điều kiện, chế độ cho người làm công tác pháp chế để có thể thu hút được cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ làm công tác pháp chế tại địa phương đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Hai là, để triển khai thực hiện tốt quy định về xây dựng, thẩm định, kiểm tra VBQPPL theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính sớm ban hành thông tư thay thế Thông tư số 47/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 16/03/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân..., để đảm bảo các mức chi cho công tác xây dựng, kiểm tra văn bản phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tình hình thực tế hiện nay. Theo đó, mức chi cho công tác xây dựng, kiểm tra văn bản cần đảm bảo đủ để thực hiện các quy trình xây dựng, kiểm tra văn bản, có sự phân biệt giữa văn bản phức tạp, văn bản đơn giản, để xác định mức kinh phí đối với từng loại văn bản cho phù hợp.

Ba là, các cơ quan trung ương khi ban hành văn bản cần quan tâm, chú trọng hơn đến tính khả thi, tính đồng bộ trong các quy định, nhất là các văn bản giữa các bộ, ngành, đồng thời thường xuyên rà soát và hệ thống hoá để công bố tính hiệu lực của các văn bản thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý để tạo thuận lợi cho địa phương trong việc triển khai thực hiện.

Bốn là, Bộ Tư pháp tiếp tục xây dựng, biên soạn các cuốn cẩm nang hỗ trợ về kỹ thuật soạn thảo văn bản, kỹ năng thẩm định, cẩm nang về kỹ năng kiểm tra, hệ thống hoá VBQPPL…; tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về công tác xây dựng, kiểm tra văn bản cho cán bộ làm công tác xây dựng, kiểm tra các cơ quan tư pháp và cán bộ làm công tác pháp chế của địa phương, trong đó chú trọng trao đổi những cách làm hay, những kinh nghiệm tốt giữa các địa phương trong quá trình thực hiện công tác này.

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.

Theo dõi chúng tôi trên: