Chủ nhật 15/03/2026 08:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thi hành án - Góc nhìn từ phán quyết của Tòa án

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thi hành án, trong đó, nội dung bản án, quyết định của Tòa án có một vai trò đặc biệt quan trọng. Một phán quyết đúng, chính xác, rõ ràng là điều kiện vô cùng quan trọng để việc thi hành phán quyết được thuận lợi. Tuy nhiên, trong thực tiễn, vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập. Bài viết dưới đây phân tích một số vấn đề còn tồn tại trong việc ban hành các bản án, quyết định của Tòa án và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng này, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án.


Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành” là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106). Theo đó, mọi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành.

Theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 và Luật Cạnh tranh năm 2018 (Luật Thi hành án dân sự) những bản án, quyết định được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự bao gồm: (i) Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 Luật Luật Thi hành án dân sự đã có hiệu lực pháp luật: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án[1]; phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản; (ii) Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo đó, phạm vi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự là rất lớn. Tuy nhiên, trong thực tiễn, chất lượng các bản án, quyết định của Tòa án ban hành vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thi hành án, có thể kể đến một số bất cập cụ thể như sau:

Một là, nội dung bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành

Theo thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự[2], năm 2020, toàn quốc có 392 bản án, quyết định[3] Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành, tương ứng với 421 quyết định thi hành án với số tiền phải thi hành là 2.839 tỷ 595 triệu 144 nghìn đồng, bao gồm tiền và tài sản đã quy ra tiền. Có thể thấy, số lượng bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành hiện nay là rất lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tổ chức thi hành án.

Trong thực tiễn, nội dung bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành rất đa dạng, cụ thể như: Tuyên không rõ về đối tượng thực hiện nghĩa vụ hoặc nội dung nghĩa vụ phải thực hiện; không xác định rõ vị trí tài sản được chia trong khối tài sản thừa kế chung là quyền sử dụng đất; không tuyên rõ nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức với từng hợp đồng tín dụng trong những vụ việc tranh chấp về nhiều hợp đồng tín dụng với nhiều tài sản bảo đảm; không xử lý tài sản trên đất có từ trước khi có xét xử; không tuyên biện pháp xử lý đối với công trình xây dựng trên đất phát sinh sau khi thế chấp và trước khi xét xử; tuyên giao quyền sử dụng đất nhưng diện tích đất, ranh giới thửa đất phải giao không đúng thực tế; tuyên chưa rõ hoặc có thiếu sót về phần xử lý vật chứng, tài sản[4]... Đối với các bản án này, cơ quan thi hành án dân sự gặp rất nhiều khó khăn khi tổ chức thi hành án, mặt khác còn gây kéo dài vụ việc, lãng phí thời gian, chi phí của Nhà nước và nhân dân.

Hai là, về cách tuyên giá trị trong các bản án, quyết định của Tòa án

Trong thực tiễn, có rất nhiều trường hợp bản án tuyên giá trị phải thi hành án lẻ tới hàng đồng. Ví dụ: Bản án tuyên: Công ty TNHH in HV phải chịu án phí 49.233.316,2 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại có giá ngạch.

Trong thực tiễn, việc tuyên án lẻ đồng như trên là rất phổ biến. Đây là một bất cập trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Bởi vì quyết định thi hành án phải ghi rõ số tiền chính xác theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng khi tổ chức thi hành thì không thể có số tiền lẻ đồng để thu, nộp ngân sách cũng như chi trả cho đương sự như theo quyết định thi hành án và bản án. Trong khi đó, trong các đơn vị tiền tệ của Việt Nam hiện nay, loại tiền mặt có giá trị thấp nhất được lưu hành là tiền có mệnh giá 100 đồng[5], dẫn đến việc ghi biên lai thu tiền và nộp tiền thi hành án trên thực tế là chưa thật sự hợp lý. Do đó, cần thống nhất liên ngành Tòa án, thi hành án về việc làm tròn số tiền phải thi hành để việc tuyên án chính xác, phù hợp và thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án.

Ba là, cách xác định khoản lãi suất trong bản án chưa cụ thể, rõ ràng

Theo quy định về lãi suất cho vay tại Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN nêu trên quy định: “Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.

Đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng thì cách tính lãi suất và thời điểm tính lãi suất sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật được tính theo nội dung quyết định của Tòa án và thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi tổ chức thi hành án, chấp hành viên phải nghiên cứu và căn cứ vào hợp đồng tín dụng để xác định mức lãi suất này.

Ví dụ: Bản án tuyên anh A và chị B phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng Z toàn bộ nợ gốc và nợ lãi là 1.687.102.000 đồng. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số MCA:0011 được ký kết giữa Ngân hàng Z với vợ chồng anh A, chị B. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm vụ án, các bị đơn là anh A, chị B còn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận tại hợp đồng cấp tín dụng số MCA:0011 và Khế ước nhận nợ số 02 ngày 22/3/2012 được ký giữa Ngân hàng Z với anh chị A, B đối với số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi anh chị A, B thanh toán hết nợ gốc cho ngân hàng.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, khi xem xét hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ thì chấp hành viên rất khó xác định khoản lãi suất này, bởi vì, những hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ của ngân hàng thường có rất nhiều điều khoản phức tạp với ngôn ngữ chuyên ngành rất khó hiểu. Mặt khác, trong hợp đồng tín dụng lại có quy định về rất nhiều loại lãi như lãi suất vay quá hạn, lãi phạt, lãi suất chiết khấu… và mức lãi khác nhau trên số tiền vay gốc, khiến chấp hành viên không biết phải tính theo loại lãi nào.

Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc tính lãi suất đối với trường hợp chậm thanh toán nghĩa vụ. Theo đó, việc tuyên lãi suất của Tòa án được thực hiện theo hai phương thức: (i) Theo thỏa thuận của đương sự: Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; (ii) Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ. Dẫn chiếu đến quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015: Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Hiện nay, trong rất nhiều bản án, quyết định của Tòa án có tuyên nội dung: “Người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án”. Xem xét quy định trên, có thể thấy, việc tuyên áp dụng mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là rất chung chung, chưa cụ thể, dẫn đến khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự khi xác định rõ mức lãi suất cần phải thi hành.

Một trong những khó khăn khác là khi tổ chức thi hành khoản lãi suất chậm thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước. Trong thực tiễn, có rất nhiều bản án, quyết định tuyên lãi suất chậm thi hành án đối với các khoản án phí, tiền phạt… thu nộp ngân sách nhà nước. Có những khoản phải thi hành có giá trị không lớn (dưới 5 triệu đồng) nhưng cũng có lãi suất chậm thi hành án kèm theo. Tuy nhiên, việc thi hành khoản lãi suất này cũng gặp nhiều khó khăn khi nhiều trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện kinh tế, không có tiền để nộp, chấp hành viên đôn đốc thu được khoản tiền gốc đã là rất nan giải. Do đó, đối với các khoản phải thi hành án khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị không lớn (có thể xác định mức dưới 5 triệu đồng) thì đề nghị pháp luật có quy định rõ về việc không tuyên lãi suất chậm thi hành án.

Bốn là, về thời hạn giải thích bản án

Điều 179 Luật Thi hành án dân sự quy định về trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án. Theo đó, cơ quan ra bản án, quyết định có trách nhiệm bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế. Có văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án dân sự, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành; kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ vẫn còn nhiều hạn chế.

Theo thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự, năm 2020[6], các cơ quan thi hành án dân sự đã ban hành 385 văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xử lý theo quy định, trong đó có 313 văn bản yêu cầu đính chính, giải thích và 72 văn bản kiến nghị xem xét kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Kết quả, các cơ quan thi hành án dân sự đã nhận được 104 văn bản phúc đáp, trong đó có 61 văn bản phúc đáp đầy đủ nội dung theo đề nghị, 43 văn bản giải thích nhưng chưa đầy đủ, nội dung chưa rõ, nên cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa thi hành được... Số còn lại là 281 văn bản, cơ quan thi hành án dân sự chưa nhận được trả lời, trong đó có 136 văn bản đang trong thời hạn trả lời, 145 văn bản đã hết thời hạn trả lời.

Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành chỉ thị về việc giải quyết các bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành, trong đó, đưa ra nhiều giải pháp về việc rà soát, giải quyết dứt điểm các kiến nghị của cơ quan thi hành án cho rằng bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành và phân công trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc chỉ đạo và chịu trách nhiệm về việc rà soát, xem xét và xử lý, khắc phục đối với các bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành… Tuy nhiên, phân tích số lượng các bản án chưa được giải thích, chưa trả lời cho các cơ quan thi hành án dân sự thì thấy rằng vẫn cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác này.

Năm là, về cách thức sửa chữa, bổ sung bản án

Theo quy định tại Điều 268, Điều 486 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai. 2. Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thẩm phán phối hợp với các hội thẩm nhân dân là thành viên hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự…” (Điều 268).

Theo Điều 9 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự thì: Trường hợp phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có những điểm chưa rõ gây khó khăn cho việc thi hành án hoặc phát hiện lỗi chính tả, số liệu có nhầm lẫn hoặc tính toán sai thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, sửa chữa lỗi chính tả hoặc số liệu nhầm lẫn. Tòa án có trách nhiệm trả lời về những vấn đề được nêu trong văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự. Việc giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ, sửa chữa lỗi chính tả hoặc sai sót về số liệu được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng và Điều 179 Luật Thi hành án dân sự. Điều 179 Luật Thi hành án dân sự quy định: Tòa án có văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành án dân sự.

Thực tiễn, khi sửa chữa, bổ sung bản án, Tòa án thường chỉ ban hành công văn về việc sửa chữa, bổ sung bản án mà không ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án. Do đó, cần quy định thống nhất về hình thức ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định để áp dụng, thực hiện.

Một phán quyết đúng, chính xác, rõ ràng là điều kiện vô cùng quan trọng để việc thi hành phán quyết được thuận lợi[7]. Vì vậy, một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng là Tòa án phải nâng cao chất lượng của phán quyết. Để làm được điều này đòi hỏi một giải pháp đồng bộ trong toàn bộ quá trình tố tụng và trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Bên cạnh các quy định về đính chính, sửa đổi, bổ sung bản án, hủy bản án, cần có các quy định cụ thể về trách nhiệm cá nhân của thẩm phán ra bản án, quyết định không rõ, không thống nhất, khó thi hành để hạn chế tình trạng này. Đồng thời, cần có cơ chế phát huy vai trò chủ động của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên trong việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải thích các bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1] Điểm này được sửa đổi bởi điểm c khoản 1 Điều 116 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[2] Công văn số 4996/BTP-TCTHADS ngày 02/12/2020 của Bộ Tư pháp về việc rà soát, thống kê, lập danh sách bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành 12 tháng năm 2020.

[3] So với 12 tháng năm 2019 tăng 139 bản án, quyết định (12 tháng năm 2019 có 253 bản án, quyết định).

[4] Công văn số 4996/BTP-TCTHADS ngày 02/12/2020 của Bộ Tư pháp; tlđd..

[6] Công văn số 4996/BTP-TCTHADS ngày 02/12/2020 của Bộ Tư pháp, tlđd.

[7] Tưởng Duy Lượng, phát biểu tại hội thảo Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam ngày 21, 22/5/2017 tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: