Thứ năm 11/12/2025 13:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật giám sát tài chính - ngân sách của hội đồng nhân dân

Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh)

1. Quy định pháp luật về giám sát tài chính - ngân sách của Hội đồng nhân dân
Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh). Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Theo quy định tại Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 thì Hội đồng nhân dân (HĐND) có quyền quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong thời gian cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã quyết định1. Riêng đối với HĐND cấp tỉnh, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên còn được quyền quyết định thu, chi, lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Giám sát là một hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, mà trong bộ máy nhà nước chỉ có Quốc hội và HĐND mới có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật. Chức năng giám sát của HĐND được cụ thể hóa qua các hoạt động giám sát của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định thẩm quyền giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND khá cụ thể và khi xét thấy cần thiết, HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tiến hành giám sát các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.
Với đặc điểm việc thu, chi ngân sách nhà nước có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau, cơ quan nhà nước các cấp và thậm chí cả khu vực ngoài nhà nước như các doanh nghiệp thực hiện các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước... Vì vậy, giám sát tài chính - ngân sách nhà nước là vấn đề hệ trọng. Giám sát ngân sách nhà nước là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của ngân sách nhà nước với các hoạt động kinh tế - xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đầy đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước2. Bảo đảm ngân sách nhà nước luôn đúng đắn và hợp lý không chỉ bảo đảm phương tiện tài chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân sách từ trung ương đến địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước. Tăng cường kỷ luật tài chính, thị trường, nâng cao hiệu quả, giảm chi phí cung cấp hàng hóa/dịch vụ công.
2. Thực trạng thi hành pháp luật về giám sát tài chính - ngân sách của Hội đồng nhân dân hiện nay
Hiện nay, trong thực hiện nhiệm vụ quyết định và giám sát các vấn tài chính - ngân sách vẫn còn nhiều khó khăn. HĐND đã thực hiện tốt hơn, nhưng chưa thật đầy đủ quyền quyết định, giám sát các vấn đề mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các vấn đề tài chính, đặc biệt là quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách, giám sát tình hình chấp hành ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương3. Chất lượng quyết định các vấn đề tài chính, dự toán ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và giám sát tình hình chấp hành ngân sách chưa cao, chưa hoàn toàn thỏa mãn và chưa đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân, của cử tri. Cần có sự đổi mới cả về nhận thức, nội dung, cả về phương pháp và bảo đảm đầy đủ các điều kiện để hoạt động thẩm tra, quyết định và giám sát của HĐND về tài chính - ngân sách và chính sách tài khóa thực chất hơn, thực quyền và đúng mức, có tác dụng thực sự.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 đã quy định HĐND có nhiệm vụ quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, quyết định ngân sách địa phương; đồng thời, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương, giám sát việc tuân thủ nghị quyết của HĐND, giám sát việc tuân thủ luật pháp nhà nước, trong đó có vấn đề tài chính và ngân sách địa phương.
Quyền hạn của HĐND trong phân bổ dự toán ngân sách cấp mình và mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương và tỷ lệ phần trăm phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương còn đang ở bước đầu và cơ chế, phương thức để thực hiện các quyền này chưa có được sự đổi mới lớn. Vẫn còn thiếu một số quy định tạo sự độc lập cao hơn của HĐND, hạn chế sự phụ thuộc vào bộ máy của Ủy ban nhân dân (UBND) khi xem xét các vấn đề tài chính. Kiểm toán nhà nước chưa cung cấp dịch vụ kiểm toán phục vụ giám sát tài chính công của HĐND.
Nếu chỉ với số lượng đại biểu chuyên trách mỏng và đội ngũ cán bộ giúp việc còn rất hạn chế về số lượng thì HĐND vẫn chưa thể tự mình thẩm tra, xem xét, đánh giá được đầy đủ nếu không thông qua bộ máy của UBND. Thiếu cơ chế cụ thể cho phép HĐND thường xuyên được yêu cầu và tiếp nhận các thông tin kiểm chứng độc lập đối với những thông tin, số liệu tài chính mà UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND báo cáo. Những điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính thực chất của các quyết định của HĐND.
Phương thức giám sát tình hình thực thi ngân sách thông qua việc tổ chức các cuộc giám sát của Thường trực và các Ban của HĐND bao gồm cả xem xét báo cáo và kiểm tra thực tế. Nhưng tình trạng nặng về xem xét báo cáo vẫn phổ biến do bộ phận chuyên trách còn mỏng, đại biểu kiêm nhiệm chưa dành được nhiều thời gian cho hoạt động và do thông tin liên quan đến nội dung giám sát chưa đa chiều. Điều này làm cho hiệu quả giám sát chưa cao, thể hiện ở chỗ chưa nhận ra trách nhiệm về chính sách đằng sau các con số về tài chính - ngân sách. Giám sát thực hiện chính sách có mục đích đưa ra các định hướng lâu dài cho cộng đồng, trải qua nhiều nhiệm kỳ của HĐND, vì thế phải cân nhắc ở tầm chiến lược; tránh tình trạng khóa này làm, khóa kia sửa. Hạn chế lớn nhất đối với tầm chiến lược của HĐND chính là cách làm ngân sách mỗi năm ở thế bị động. Đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và phân cấp quản lý tài chính - ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương làm cơ sở để HĐND thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Sự tập trung quá cao vào các cơ quan trung ương trong quản lý và điều hành ngân sách là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém năng động, ỷ lại của các cấp chính quyền địa phương, trong đó có HĐND. Tăng quyền chủ động và trách nhiệm của HĐND cũng sẽ góp phần hạn chế sự chồng chéo, trùng lặp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân sách nhà nước.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giám sát tài chính - ngân sách của Hội đồng nhân dân
Một là, về xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát:
Thường trực HĐND và Ban Kinh tế - Ngân sách (giám sát thuộc lĩnh vực tài chính - ngân sách) sẽ chủ động xây dựng kế hoạch giám sát và tổ chức thực hiện cần tập trung vào vấn đề sau:
(i) Chọn nội dung giám sát: Liên quan đến việc xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát, lựa chọn chủ đề nội dung giám sát là rất quan trọng. Chọn cho “trúng” và cho “đúng” những vấn đề điểm “nóng”, những vấn đề “bức xúc” ở địa phương, ở cơ sở, cần phải tháo gỡ, trong từng thời điểm nhất định, được nhiều cử tri, nhiều người, nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm, để sau khi giám sát, như: Việc sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn HĐND các cấp định thông qua? Bội chi ngân sách được bù đắp từ nguồn nào?...
(ii) Chọn đối tượng giám sát: Phải mang tính đại diện và bao quát đối với các vấn đề cần giám sát. Qua đó, có thể vừa nhìn nhận sự việc từ một đơn vị cụ thể, đồng thời có thể đánh giá một cách khái quát vấn đề đang giám sát trên diện rộng, nhất là những yếu kém, khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện, từ đó có những kiến nghị sát đúng, phù hợp và có tính khả thi cao.
(iii) Chọn thời điểm giám sát thích hợp: Để có thể thu được khối lượng thông tin nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đơn vị chịu sự giám sát cần tính toán để không bỏ lỡ thời điểm “nóng”, hiệu lực, hiệu quả của đợt giám sát sẽ bị hạn chế. Ví dụ: Muốn nắm thực trạng về quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn tăng thu, kết dư ngân sách, bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm và các nguồn tài chính khác… thì nên tổ chức giám sát vào tháng 8, 9 hàng năm.
Hai là, phát huy vai trò của Ban Kinh tế - Ngân sách của Hội đồng nhân dân:
Ban Kinh tế - Ngân sách với tư cách là cơ quan chủ trì và chủ động phối hợp với các Ban của HĐND có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp và tham mưu cho Thường trực HĐND và HĐND xem xét, quyết định và tổ chức các hoạt động giám sát các vấn đề tài chính - ngân sách. Cần phải có nhận thức đầy đủ và đúng mức về tài chính. Tài chính - ngân sách là sức mạnh của một quốc gia nói chung, của một địa phương nói riêng và là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong cơ chế quản lý kinh tế của mỗi quốc gia, tài chính luôn luôn là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế, là tổng thể các nội dung và giải pháp tài chính - tiền tệ. Tài chính không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát triển, khai thác các nguồn lực, thúc đẩy, duy trì và tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, mà còn phải quản lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước.
Ba là, phát huy mạnh vai trò đại biểu Hội đồng nhân dân vào cả 03 giai đoạn của quy trình ngân sách:
(i) Giai đoạn lập dự toán ngân sách
Đại biểu HĐND cần tiếp cận ngay từ đầu để trao đổi với các cơ quan chức năng, đề đạt những ý kiến của mình và phản ánh ý kiến của cử tri về tài chính - ngân sách để họ cân nhắc khi lập dự toán ngân sách. Tác động vào ngay từ đầu ở khâu này, hiệu quả sẽ rất cao, lại tạo được sự thống nhất với cơ quan chuyên môn trong giai đoạn tiền dự toán, giảm bớt chỉnh sửa về sau. Tuy vậy, để tham gia có hiệu quả, đại biểu HĐND phải nhiệt tình, tâm huyết, phải có kỹ năng vận động, thuyết phục có lý, có tình, ý kiến đưa ra phải rõ ràng, chính xác, có tính khả thi cao mới có thể đạt kết quả tốt.
(ii) Giai đoạn thẩm tra dự toán ngân sách
Sau khi cơ quan tài chính đưa ra dự thảo về dự toán ngân sách, Ban Kinh tế - Ngân sách và các Ban khác của HĐND sẽ tiến hành thẩm tra dự toán. Ở giai đoạn này, với tư cách là một thành viên tham gia các Ban của HĐND thực hiện các cuộc thẩm tra về dự toán ngân sách, cùng với những hiểu biết thu thập được và quá trình chuẩn bị, đại biểu HĐND có thể đóng góp ý kiến, thảo luận, phân tích sâu hơn về dự thảo dự toán ngân sách. Bằng phương pháp này, ý kiến đại biểu HĐND sẽ được Ban Kinh tế - Ngân sách tổng hợp và báo cáo Thường trực HĐND và thể hiện rõ ràng trong báo cáo thẩm tra của Ban trước kỳ họp HĐND. Nếu giai đoạn đầu, người đại biểu đơn phương đề đạt ý kiến của mình để tham gia với cơ quan chuyên môn lập dự toán ngân sách, thì ở giai đoạn 02 này, người đại biểu có thể thảo luận kỹ hơn để làm sáng tỏ hơn những vấn đề ưu tiên chính sách, xác định rõ hơn những địa chỉ cần được phân bổ nguồn lực từ ngân sách địa phương để tạo ra những bước phát triển có tính nhảy vọt và bền vững.
(iii) Giai đoạn thẩm tra tại kỳ họp
Tại kỳ họp của HĐND, sau khi UBND trình dự thảo dự toán ngân sách (đã được điều chỉnh bước đầu với sự tham gia ý kiến trong quá trình giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách hoặc của Thường trực HĐND), người đại biểu HĐND có cơ hội tốt nhất để phát biểu, tranh luận để cùng tập thể HĐND lựa chọn phương án tối ưu về huy động nguồn thu và phân bổ chi ngân sách địa phương.
(iv) Giai đoạn thẩm tra, phê duyệt báo cáo quyết toán hàng năm
Cơ quan và đại biểu nghiên cứu kỹ dự thảo báo cáo quyết toán do UBND trình, đối chiếu với kế hoạch thu, chi ngân sách đã được HĐND ra nghị quyết phân bổ để phát hiện những phát sinh cần được cơ quan chuyên môn giải trình,
Vì phần lớn đại biểu đều không có chuyên sâu về thu, chi ngân sách nên thường có biểu hiện lúng túng, cho rằng mình là người “ngoại đạo”, chỉ nghiên cứu có chừng mực, quan tâm chủ yếu đến những vấn đề “nổi cộm” trong báo cáo ngân sách mà các đại biểu khác đã nêu. Một số đại biểu lại đi sâu vào những nội dung mang tính tác nghiệp đã có chuẩn mực, chế độ thu, chi rõ ràng nên bị phân tán tư tưởng vào những vấn đề thứ yếu, không dồn hết tâm trí vào việc xem xét kế hoạch phân bổ và thực hiện các chính sách ưu tiên có liên quan đến ngành, địa phương mình mà HĐND đã có quyết định./.

ThS. Lê Ngọc Hưng
Học viện Hành chính Quốc gia



Tài liệu tham khảo:

  1. Hiến pháp năm 2013.
  2. Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam năm 2015.
  3. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
  4. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.
  5. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
  6. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015.
  7. Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  8. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: