Thứ năm 08/10/2026 13:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả xử lý bất động sản thế chấp tại ngân hàng thương mại

Tóm tắt: Pháp luật về thế chấp bất động sản đã tạo ra một công cụ hữu hiệu để các ngân hàng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tiễn vẫn còn nhiều điểm vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về thế chấp bất động sản. Tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp bất động sản để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, nhằm tạo cơ chế thuận lợi hơn khi xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam, bảo đảm sự phát triển lành mạnh, canh tranh của các ngân hàng trong thời hội nhập kinh tế quốc tế.

Abstract: Law on real estate mortgage has created a useful tool for banks to prevent and limit the credit risks. However, in practice there are lots of problems in the process of applying the law on real estate mortgages. The author gives a number of recommendations aimed at improving the law on real estate mortgages to limit risks in lending activity of commercial banks in Vietnam, in order to create more favourable mechanism for asset disposal secured at commercial banks in Vietnam, ensuring healthy development, competitiveness of the banks in the international economic integration.

1. Một số vướng mắc trong xử lý bất động sản thế chấp

Có thể nói, các quy định của pháp luật về xử lý bất động sản thế chấp ở Việt Nam tương đối tương thích với chuẩn mực chung của các nước trên thế giới, tuy nhiên, trên thực tiễn, việc xử lý bất động sản thế chấp ở Việt Nam bộc lộ những hạn chế gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong việc xử lý bất động sản thế chấp. Các vướng mắc được thể hiện như: Vẫn có cách hiểu chưa đúng về việc thỏa thuận xử lý tài sản bảo đảm; các quy định về tự xử lý tài sản thế chấp không rõ ràng, cụ thể, không bảo đảm sự thuận lợi cho ngân hàng xử lý tài sản thế chấp, đồng thời không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bên thế chấp; thủ tục xử lý tài sản thế chấp bằng con đường Tòa án không phải là thủ tục rút gọn, nên mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí cho ngân hàng.

Quá trình tự xử lý bất động sản thế chấp được thực hiện theo hai thủ tục chính là thủ tục thu giữ bất động sản thế chấp để xử lý và thủ tục định đoạt bất động sản thế chấp. Việc thu giữ bất động sản thế chấp để xử lý được quy định tại Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP): “Bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản theo thông báo của người này; nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản thì người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều này để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản có trách nhiệm: Thông báo trước cho người giữ tài sản về việc áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm trong một thời hạn hợp lý. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do, thời gian thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên; không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm. Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là người thứ ba thì bên bảo đảm có trách nhiệm phối hợp với người xử lý tài sản thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm. Bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ tài sản bảo đảm phải chịu các chi phí hợp lý, cần thiết cho việc thu giữ tài sản bảo đảm; trong trường hợp không giao tài sản để xử lý hoặc có hành vi cản trở việc thu giữ hợp pháp tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường. Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm”. Mặc dù các quy định này được coi là cơ sở pháp lý để ngân hàng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, nhưng vẫn chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể nên rất khó vận dụng trên thực tế. Những vướng mắc được thể hiện ở những điểm sau:

Một là, quy định này đòi hỏi bên nhận bảo đảm phải thông báo cho bên đang giữ tài sản, nhưng lại bỏ sót hai chủ thể quan trọng là bên bảo đảm và bên vay

Đáng lẽ ra, bên bảo đảm và bên vay phải là các chủ thể được biết về việc thu giữ tài sản bảo đảm để nếu cần thiết họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Hai là, điểm b, khoản 2 Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định khi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm “không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm”

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có hướng dẫn, giải thích chính thức thế nào là “áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm”. Sự không rõ ràng này khiến cho các chủ nợ dè dặt trong việc thu giữ bất động sản đang do người khác chiếm hữu. “Khách hàng chây ì, không có thiện chí trả nợ đã “vin” vào quy định mập mờ này để “tố ngược” ngân hàng xử lý nợ theo kiểu cưỡng bức, trái đạo đức xã hội, dồn khó cho khách hàng. Hàng loạt những từ ngữ đao to, búa lớn được tung ra để gây sức ép, ví dụ như: Phá nhà dân, niêm phong nhà dân, đuổi khách hàng ra khỏi nhà... Ngân hàng bị “bêu xấu” mà phải “ngậm bồ hòn”, một cán bộ trực tiếp tham gia một vụ thu hồi nợ tốn nhiều giấy mực mới đây ở Hà Nội chia sẻ. Vụ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) niêm phong căn hộ 1401 Tòa nhà 17T2 phố Hoàng Đạo Thúy, phường Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội của anh Nguyễn Sỹ Minh để xử lý tài sản thế chấp gây ra nhiều tranh cãi về tính hợp pháp của hành vi này.

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật hiện hành có quy định về việc tham gia của chính quyền hoặc cơ quan công an địa phương, tuy nhiên, không có quy định nào xác định rõ trách nhiệm của chính quyền hoặc công an địa phương trong việc tham gia chứng kiến, bảo đảm an toàn cho việc thu giữ tài sản bảo đảm. Các quy định hiện hành cũng chưa cụ thể và hợp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thế chấp, như quy định về xác định giá trị tài sản bảo đảm khi xử lý, nghĩa vụ của bên nhận thế chấp đối với bên thế chấp khi xử lý tài sản thế chấp.

2. Một vài kiến nghị

Từ các nội dung được phân tích ở trên cho thấy, thế chấp bất động sản là biện pháp bảo đảm phổ biến trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Hoạt động này dành cho bên nhận thế chấp quyền định đoạt tài sản có điều kiện. Vì vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, tạo cơ chế thuận lợi hơn khi xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng thương mại, cần thiết phải có các giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho vấn đề này, cụ thể là các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, cần đơn giản hóa thủ tục xác lập hợp đồng thế chấp bất động sản

Theo Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”. Quy định này cần được Tòa án giải thích thông qua án lệ theo hướng không bắt buộc phải đăng ký hợp đồng thế chấp. Hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực đối với bên thế chấp và bên nhận thế chấp nếu được xác lập hợp lệ mà không cần phải đăng ký. Tuy nhiên, bên nhận thế chấp chỉ có quyền đối kháng đối với bên thứ ba khi hợp đồng thế chấp được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thêm nữa, để giảm thiểu chi phí và tiết kiệm cho các bên, nên bỏ quy định bắt buộc phải công chứng đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc nhà ở. Ngoài ra, án lệ cũng cần thừa nhận hợp đồng thế chấp bằng miệng nhưng được cả bên thế chấp và bên nhận thế chấp công nhận sự tồn tại của hợp đồng và nội dung của nó, thì hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực đối với hai bên. Song việc xử lý tài sản thế chấp trên cơ sở hợp đồng miệng phải được thực hiện thông qua thủ tục tư pháp hoặc chỉ được tự xử lý tài sản thế chấp nếu bên thế chấp đồng ý.

Thứ hai, về thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản để xử lý

Để bảo đảm an toàn cho việc thu giữ bất động sản thế chấp, pháp luật cần quy định rõ chính quyền cấp xã, phường, thị trấn hoặc công an cấp xã, phường, thị trấn có nghĩa vụ tham gia hỗ trợ bên nhận thế chấp thu giữ bất động sản thế chấp theo yêu cầu của bên nhận thế chấp. Chính quyền hoặc công an không tham gia trực tiếp thu giữ bất động sản thế chấp mà chỉ có nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi thu giữ tài sản, đồng thời, tham gia chứng kiến và ghi nhận việc bên nhận bảo đảm thực hiện các biện pháp hợp lệ và hợp lý nhằm thu giữ tài sản bảo đảm trong trường hợp bên bảo đảm không hợp tác, như phá khóa, phá cổng, dỡ mái, yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba rời khỏi nhà, đất được thu giữ, niêm phòng tài sản bảo đảm... Chính quyền hoặc công an xã/phường/thị trấn phải tham gia theo yêu cầu của bên nhận thế chấp, nếu từ chối hỗ trợ không có lý do chính đáng dẫn đến gây thiệt hại cho bên nhận thế chấp thì người đứng đầu của các cơ quan này phải chịu trách nhiệm pháp lý bao gồm trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại, trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiệm trọng.

Thứ ba, về thủ tục xử lý bất động sản thế chấp bằng con đường Tòa án

Trước hết, nên coi thủ tục yêu cầu Tòa án ra quyết định xử lý tài sản bảo đảm là thủ tục yêu cầu việc dân sự, nghĩa là một thủ tục tố tụng đặc thù có tính chất rút gọn. Tòa án không cần phải tuyên buộc bên vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện nghĩa vụ. Quyết định xử lý tài sản bảo đảm là căn cứ pháp lý để cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền do Tòa án chỉ định xử lý tài sản bảo đảm ngay lập tức mà không cần phải chờ đến khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ do Tòa án tuyên. Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự cần dành cho bên nhận bảo đảm hai lựa chọn: (i) Khởi kiện một vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng trong đó có yêu cầu buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ nếu không sẽ áp dụng các phương thức xử lý tài sản bảo đảm; (ii) Yêu cầu Tòa án ra quyết định xử lý tài sản bảo đảm.

Pháp luật cần quy định rõ bên nhận bảo đảm chỉ cần chứng minh: (i) Giữa bên nhận bảo đảm và bên có nghĩa vụ tồn tại một quan hệ nghĩa vụ hoặc bên nhận bảo đảm là bên kế thừa hoặc nhận chuyển nhượng quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ và nghĩa vụ này được bảo đảm bởi biện pháp bảo đảm; (ii) Tồn tại một hợp đồng bảo đảm giữa bên nhận bảo đảm với bên bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm; (iii) Bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm và giá trị nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm; (iv) Bên nhận bảo đảm đã thông báo bằng văn bản cho bên vi phạm và bên nhận bảo đảm về sự kiện vi phạm nghĩa vụ và phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Nếu bên nhận bảo đảm không chứng minh được một trong các yếu tố trên, Tòa án sẽ ra quyết định từ chối xử lý tài sản bảo đảm.

Bên bảo đảm có quyền có ý kiến về yêu cầu của bên nhận bảo đảm, có quyền tham gia phiên họp giải quyết yêu cầu. Bên bảo đảm có quyền phản đối về tư cách đương sự của bên nhận bảo đảm, yêu cầu của bên nhận bảo đảm, tính xác thực của các chứng cứ do bên nhận bảo đảm cung cấp nhưng phải chứng minh. Nếu bên bảo đảm đã được thông báo về thủ tục xử lý tài sản bảo đảm nhưng không tham gia hoặc không có ý kiến phản đối hoặc có ý kiến phản đối nhưng không có đầy đủ chứng cứ, thì Tòa án ra quyết định xử lý tài sản bảo đảm theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm với điều kiện bên nhận bảo đảm chứng minh đầy đủ các yếu tố được đề xuất ở trên. Quy tắc này nhằm tránh trường hợp bên bảo đảm chây ì, không hợp tác, cố tình không tham gia tố tụng để kéo dài thời gian xử lý tài sản bảo đảm.

Bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là vấn đề quan trọng và đã được pháp luật điều chỉnh từ rất sớm. Thế chấp bất động sản là biện pháp bảo đảm phổ biến trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, nếu bên nhận thế chấp được trao quyền định đoạt tài sản có điều kiện, thì việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ trở nên thuận lợi hơn. Ngoài ra, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm bằng Tòa án cũng cần được hiểu theo hướng đây là thủ tục yêu cầu một việc dân sự để quy trình tố tụng nhanh gọn, thuận tiện. Việc xử lý tài sản bảo đảm hiệu quả sẽ góp phần giúp cho các ngân hàng giải quyết được tình trạng nợ xấu, vốn là điểm nghẽn trong hoạt động tín dụng hiện nay

ThS. Nguyễn Thị Mai Hoa

Đài Truyền hình Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: