Thứ sáu 13/03/2026 18:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp có đúng không?

Nay ông Nhạ, bà Phương xác định chỉ có bà Phương ký hợp đồng vay tiền của Ngân hàng, ông Nhạ không liên quan. Ngân hàng nhận thế chấp tài sản không đúng quy định của pháp luật, vì tại thời điểm đó 14 lô đất ở xã An Lễ của ông Nhạ, bà Phương chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Nội dung vụ việc

Tháng 8/1995, ông Khúc Thừa Nhạ, bà Nguyễn Thị Mai Phương vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh huyện Q, tỉnh T 90.000.000đ, mục đích là để xây dựng khu nhà nghỉ và bãi gửi xe phục vụ khách thập phương đến tham quan Khu dich tích tại xã An Lễ, huyện Q. Ông Nhạ, bà Phương có thế chấp cho Ngân hàng một số tài sản để đảm bảo khả năng trả nợ gồm nhà và quyền sử dụng đất của ông, bà đang ở tại xã An Bài, huyện Q và quyền sử dụng 14 lô đất, trên đã có móng nhà, bể nước, ao cá... tại xã An Lễ, huyện Q. Do việc kinh doanh bị thua lỗ nên ông, bà đã đi khỏi địa phương làm ăn. Trong thời gian ông Nhạ, bà Phương vắng mặt tại địa phương, Ngân hàng đã tự ý phát mại tài sản của ông, bà để thu hồi nợ.

Nay ông Nhạ, bà Phương xác định chỉ có bà Phương ký hợp đồng vay tiền của Ngân hàng, ông Nhạ không liên quan. Ngân hàng nhận thế chấp tài sản không đúng quy định của pháp luật, vì tại thời điểm đó 14 lô đất ở xã An Lễ của ông Nhạ, bà Phương chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Nhạ, bà Phương yêu cầu Tòa án buộc Ngân hàng phải trả lại cho ông, bà toàn bộ tài sản đã phát mại và phải bồi thường thiệt hại cho ông, bà tổng số tiền 1.770.410.000đ. Ông Nhạ, bà Phương đồng ý trả khoản tiền đã vay của Ngân hàng gồm nợ gốc tính đến thời điểm Ngân hàng phát mại tài sản là 86.500.000đ và nợ lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam do bà Nguyễn Thị Sánh Giám đốc Chi nhánh huyện Q trình bày: Ngày 01/8/1995, Ngân hàng cho vợ chồng ông Nhạ, bà Phương vay 90.000.000đ, gồm 70.000.000đ vay ngắn hạn (thời hạn 12 tháng, lãi suất 2,5%/tháng) và 20.000.000đ vay trung hạn (thời hạn 24 tháng, lãi suất 2,2%/tháng). Khi vay tiền, ông Nhạ, bà Phương có thế chấp tài sản gồm 1 căn nhà mái bằng diện tích 23m2 và công trình phụ trên diện tích 110m2 đất tại xã An Bài và quyền sử dụng 14 lô đất có tổng diện tích 2.300m2 ở xã An Lễ; tổng giá trị là 140.000.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nhạ, bà Phương đã nhiều lần trả nợ gốc, trả lãi rồi lại vay. Tính đến cuối tháng 5/1997, ông bà nợ Ngân hàng 87.500.000đ nợ gốc, trong đó nợ quá hạn là 80.000.000đ. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo về khoản nợ quá hạn nhưng ông Nhạ, bà Phương không thực hiện việc trả nợ. Ngày 30/6/1997, ông Nhạ, bà Phương trả cho Ngân hàng thêm 1.000.000đ, còn nợ 86.500.000đ. Ngày 08/12/1997, bà Phương xin khất nợ và xin tự bán tài sản thế chấp để trả nợ Ngân hàng. Ngày 12/12/1997, Ngân hàng có văn bản đề nghị bà Phương, nếu có người mua tài sản thế chấp, thì Ngân hàng sẽ kết hợp cùng bà Phương bán để thu hồi nợ, nhưng bà Phương không có ý kiến phản hồi.

Tháng 4/1998, do không nhận được thông tin phản hồi từ phía vợ chồng ông Nhạ, bà Phương nên Ngân hàng đã tiến hành việc kê biên, định giá và phát mại tài sản thế chấp của họ. Số nợ được xác định trước khi phát mại tài sản thế chấp là 86.500.000đ nợ gốc và 140.740.000đ nợ lãi. Sau khi phát mại tài sản thế chấp, trừ vào số tiền ông Nhạ, bà Phương nợ, Ngân hàng xác định, tính đến nay ông bà còn nợ 19.466.000đ nợ gốc và 149.740.000đ. Ngân hàng thừa nhận, việc Ngân hàng khi phát mại tài sản đã giao lại cho Ủy ban nhân dân xã An Lễ 20.000.000đ do Uỷ ban nhân dân xã An Lễ yêu cầu để trừ vào số tiền ông Nhạ, bà Phương còn thiếu khi mua đất là không đúng. Do đó, Ngân hàng xác định hiện ông Nhạ, bà Phương còn nợ 149.206.000đ sau khi phát mại tài sản, nhưng Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Đối với khoản tiền 20.000.000đ đã giao cho Uỷ ban nhân dân xã An Lễ, Ngân hàng và Uỷ ban nhân dân xã An Lễ sẽ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Ngân hàng xác định việc nhận thế chấp, kê biên, định giá và phát mại tài sản thế chấp của vợ chồng ông Nhạ, bà Phương là đúng với các quy định của pháp luật, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nhạ, bà Phương.

2. Giải quyết của Tòa án

Tòa án cấp sơ thẩm (Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DSST ngày 12/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Q) đã quyết định: Bác yêu cầu của ông Nhạ, bà Phương về việc đòi Ngân hàng trả lại tài sản là nhà đất và quyền sử dụng 14 lô đất đã phát mại và việc đòi Ngân hàng bồi thường thiệt hại về các khoản đền bù giải phóng mặt bằng một phần quyền sử dụng đất ở xã An Bài, phần tài sản có trên 14 lô đất đã phát mại và phần thiệt hại do ông, bà không được sử dụng tài sản là nhà đất từ tháng 5/1997 đến khi xét xử sơ thẩm, tổng cộng là 1.770.410.000đ. Đồng thời, buộc Ngân hàng có trách nhiệm trả ông Nhạ, bà Phương số tiền 20.000.000đ (do đã trừ lùi cho Uỷ ban nhân dân xã An Lễ khi Uỷ ban nhân dân xã An Lễ trúng thầu quyền sử dụng 14 lô đất do Ngân hàng phát mại). Khoản tiền này được trừ vào số tiền ông Nhạ, bà Phương vẫn còn nợ Ngân hàng sau khi phát mại tài sản.

Tòa án cấp phúc thẩm (Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DSPT ngày 28/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh T) đã sửa bản án sơ thẩm quyết định: Buộc Ngân hàng phải bồi thường cho ông Nhạ, bà Phương số tiền 117.600.000đ (do khi phát mại nhà đất cho vợ chồng ông Lộng, bà Khuyên đã tính thiếu giá trị 28m2 đất, theo định giá hiện tại là 4.200.000đ/m2).

3. Các quan điểm chưa thống nhất về giải quyết vụ án

Tuy quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm đã có hiệu lực phải thi hành, song trong quá trình giải quyết thi hành án vẫn có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết vụ án cần được cấp giám đốc thẩm xem xét lại. Chúng tôi xin nêu ra một số quan điểm để các nhà nghiên cứu pháp luật và áp dụng pháp luật phân tích đánh giá về quá trình giải quyết.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thủ tục thế chấp quyền sử dụng 14 lô đất giữa ông Nhạ, bà Phương và Ngân hàng; việc định giá tài sản thế chấp vắng mặt ông Nhạ, bà Phương và việc bán đấu giá tài sản thế chấp là trái với quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Nhạ, bà Phương là không đúng.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Do vợ chồng ông Nhạ, bà Phương không trả nợ đầy đủ nên Ngân hàng buộc phải phát mại các tài sản mà ông, bà đã thế chấp để thu hồi vốn. Việc kê biên, định giá và phát mại các tài sản thế chấp được chính quyền địa phương chấp thuận và được Ngân hàng thực hiện công khai. Số tiền thuê được từ việc bán đấu giá tài sản thế chấp đã khấu trừ vào khoản tiền vợ chồng ông Nhạ, bà Phương nợ Ngân hàng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nhạ, bà Phương đòi Ngân hàng phải trả toàn bộ tài sản thế chấp và bồi thường thiệt hại là có căn cứ.

4. Ý kiến trao đổi

Ngày 20/7/1995, ông Nhạ có 2 đơn xin vay vốn, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã An Bài, kèm theo là dự án sản xuất, kinh doanh hàng tổng hợp và xây dựng khách sạn mini. Tại khế ước vay tiền ngày 01/8/1995 và hai phiếu chi cùng ngày đã thể hiện, Ngân hàng đồng ý cho ông Nhạ (ký tên ở phần chủ hộ vay vốn) và bà Phương (ký tên ở phần người thừa kế thay chủ hộ) vay tổng số tiền 90.000.000đ, gồm 70.000.000đ thời hạn 12 tháng, lãi suất 2,5%/tháng và 20.000.000đ thời hạn 24 tháng, lãi suất 2,2%/tháng. Như vậy, đủ cơ sở xác định ông Nhạ, bà Phương có vay của Ngân hàng số tiền 90.000.000đ. Nay ông Nhạ, bà Phương cũng thừa nhận về vấn đề này.

Việc thế chấp, xử lý tài sản thế chấp là căn nhà mái bằng 23m2 và công trình phụ trên tổng diện tích 110m2 đất, trị giá 40.000.000đ: Ông Nhạ, bà Phương đã thế chấp nhà đất này cho Ngân hàng, thể hiện tại Biên bản định giá tài sản thế chấp xin vay vốn ngân hàng ngày 22/7/1995. Tuy nhiên, khi xử lý tài sản thế chấp, Ngân hàng chỉ phát mại quyền sử dụng 82m2 đất, thiếu 28m2 so với diện tích thực tế ông Nhạ, bà Phương đã thế chấp. Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, buộc Ngân hàng phải hoàn trả cho ông Nhạ, bà Phương giá trị quyền sử dụng 28m2 đất theo biên bản định giá của Tòa án cấp sơ thẩm với đơn giá 4.200.000đ/m2, bằng 117.600.000đ là có căn cứ.

Việc thế chấp, xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng 14 lô đất ở xã An Lễ: Tại thời điểm Ngân hàng giải ngân cho vợ chồng ông Nhạ vay vốn (ngày 01/8/1995), thì vợ chồng ông Nhạ chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chính vợ chồng ông Nhạ đã nhiều lần khẳng định ông, bà là chủ sử dụng 14 lô đất và đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng 14 lô đất này. Tại Phiếu đăng ký tài sản thế chấp ngày 05/8/1995 (sau khi được giải ngân), vợ chồng ông Nhạ cũng đã ký xác nhận thế chấp quyền sử dụng 14 lô đất, tổng diện tích 2.300m2, trị giá 100.000.000đ để vay vốn Ngân hàng. Quá trình Ngân hàng nhận thế chấp tài sản, không có đương sự nào tranh chấp với vợ chồng ông Nhạ về quyền sử dụng 14 lô đất nêu trên; đồng thời, cũng không có quyết định nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định các lô đất nêu trên là bất hợp pháp. Cuối năm 1995, vợ chồng ông Nhạ đã được Uỷ ban nhân dân huyện Q ra quyết định giao đất. Do đó, đủ cơ sở xác định vợ chồng ông Nhạ là chủ sử dụng hợp pháp 14 lô đất đã thế chấp cho Ngân hàng để vay vốn.

Quá trình sử dụng vốn vay của Ngân hàng, vợ chồng ông Nhạ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng kỳ hạn. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, nhưng vợ chồng ông Nhạ không thực hiện việc trả nợ. Ngày 02/5/1997, Ngân hàng đã lập tờ trình về việc phát mại tài sản thế chấp của ông Nhạ, bà Phương để thu hồi nợ, được Uỷ ban nhân dân huyện Q phê duyệt. Tính đến thời điểm lập tờ trình phát mại, ông Nhạ, bà Phương còn nợ Ngân hàng 87.500.000đ nợ gốc, trong đó nợ quá hạn là 80.000.000đ. Ngày 30/6/1997, bà Phương trả cho Ngân hàng được 1.000.000đ, sau đó không trả nữa, tiếp đó vợ chồng ông Nhạ đã đi khỏi địa phương, không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú. Ngày 29/6/2001, Ngân hàng đã tổ chức đấu giá công khai quyền sử dụng 14 lô đất của vợ chồng ông Nhạ, kết quả chỉ có ông Phạm Ngọc Thạch mua 1 lô, 13 lô còn lại không có người mua, sau đó Uỷ ban nhân dân xã An Lễ xin mua để làm mặt bằng bãi để xe cho khách đến tham quan di tích. Như vậy, việc kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng 14 lô đất của vợ chồng ông Nhạ đã được Ngân hàng thực hiện công khai, đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là quan điểm của chúng tôi về việc giải quyết vụ án. Vụ án này có thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài, việc xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng vẫn còn có ý kiến chưa đúng quy trình, thủ tục. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của bạn đọc.

ThS. Phan Ngọc Hà

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: