Thứ sáu 13/03/2026 13:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của luật sư

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh[1]. Với tính chất đặc thù của mình, nghề luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.


Nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư được quy định tại Luật Luật sư năm 2012, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam (Ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20/7/2001 của Hội đồng Luật sư toàn quốc).

1. Trách nhiệm giữ bí mật thông tin khách hàng của luật sư

Thông tin của khách hàng là những tin tức, thông điệp khách hàng truyền đạt (nói, viết, trao đổi, tiết lộ) cho luật sư trong quá trình tiếp xúc, trao đổi giữa luật sư và khách hàng hoặc do luật sư biết được, thu thập được trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc của khách hàng. Thông tin về khách hàng (trong mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng) là những gì khách hàng đã biết hoặc do luật sư thu thập được bằng các biện pháp hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc. Đó có thể là thông tin cá nhân của khách hàng, bí mật đời tư của khách hàng, tình hình tài chính, bí mật kinh doanh của khách hàng[2],...

Vấn đề giữ bí mật thông tin khách hàng của luật sư được pháp luật nước ta quy định từ rất sớm. Tại khoản 3 Điều 18 Pháp lệnh Tổ chức luật sư số 2A-LCT/HĐNN ngày 18/12/1987 của Hội đồng Nhà nước (Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987) đã quy định luật sư có nghĩa vụ: “Không được tiết lộ những bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ giúp đỡ pháp lý”. Sau đó Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25/7/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X về Luật sư (Pháp lệnh Luật sư năm 2001) tiếp tục quy định về việc luật sư giữ bí mật thông tin khách hàng thông qua quy định về điều cấm đối với luật sư. Khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định cấm luật sư: “Tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư, pháp luật có quy định khác”. Luật Luật sư năm 2006 cũng quy định một trong những nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động hành nghề luật sư “giữ bí mật thông tin khách hàng” và nghiêm cấm luật sư thực hiện hành vi: “Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”[3].

Đồng thời, Điều 25 Luật Luật sư năm 2006 còn quy định về “Bí mật thông tin” như sau: “(1) Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; (2) Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (3) Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình”. Điều 25 Luật Luật sư năm 2012 vẫn giữ nguyên quy định về bí mật thông tin khách hàng như quy định tại Luật Luật sư năm 2006.

Ngoài ra, vấn đề giữ bí mật thông tin khách hàng còn được quy định tại các Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam. Đầu tiên là “Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư” được ban hành theo Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong đó, Quy tắc 9 quy định hai nội dung: “Luật sư không tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng khi không được khách hàng đồng ý” và “luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên của mình cũng không tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng của mình”. Ngày 20/7/2001, Hội đồng Luật sư toàn quốc đã ban hành Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ban hành “Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam”, trong đó, Quy tắc 12 chương II (Quan hệ với khách hàng) quy định về “giữ bí mật thông tin”: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Có thể thấy, vấn đề giữ bí mật thông về khách hàng của luật sư là một vấn đề mang tính pháp lý, được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Mặt khác, đây cũng là vấn đề đạo đức, ứng xử nghề nghiệp, là một trong những nét đặc thù của nghề luật sư. Hơn thế, việc giữ bí mật thông tin khách hàng còn là một trong những yếu tố tạo nên uy tín và sự thành công của cá nhân luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, bởi vì để có được niềm tin tuyệt đối của khách hàng, luật sư không chỉ cần giỏi ở chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải đảm bảo với khách hàng về việc giữ bí mật thông tin của họ.

2. Nguyên tắc giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật sư

Thứ nhất, luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề[4]. Quy tắc 12 trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam cũng quy định: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý”. Do đó, đối với bản thân luật sư, luật sư phải bảo mật thông tin về khách hàng, không tiết lộ các thông tin về khách hàng.

Thứ hai, đối với các chủ thể khác ngoài luật sư và khách hàng, luật sư phải hạn chế các khả năng những thông tin về khách hàng bị tiết lộ, bị xâm phạm. Đối với các luật sư cùng hành nghề trong một tổ chức hành nghề luật sư (văn phòng luật sư hoặc công ty luật), không chỉ bản thân luật sư tiếp nhận, thụ lý giải quyết vụ việc của khách hàng phải giữ bí mật thông tin về khách hàng mà các luật sư khác trong cùng tổ chức hành nghề luật sư cũng phải giữ bí mật thông tin về khách hàng của tổ chức mình. Khoản 3 Điều 25 Luật Luật sư 2012 quy định: “Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình” và Quy tắc 12 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam quy định: “luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”[5].

Luật sư có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về khách hàng trong lúc đang thụ lý giải quyết vụ việc cho đến khi vụ việc đã kết thúc. Quy tắc 12 chương II (Quan hệ với khách hàng) của Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam quy định rõ: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó”. Theo đó, việc giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật sư không có sự giới hạn về thời gian. Khi kết thúc vụ việc, luật sư vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về khách hàng.

Hiện nay, vẫn có một số quan điểm khác nhau về vấn đề bảo mật thông tin khách hàng của luật sư[6].

Quan điểm thứ nhất. luật sư phải giữ bí mật tất cả các thông tin về khách hàng. Quan điểm này cho rằng luật sư phải bảo mật tất cả các thông tin liên quan đến khách hàng, gồm cả các thông tin về nhân thân, nghề nghiệp và các thông tin của vụ việc. Việc giữ bí mật tuyệt đối và toàn diện sẽ tạo được sự tin cậy tuyệt đối cho khách hàng, nâng cao quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp của luật sư đối với khách hàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của luật sư; quan điểm này cũng phù hợp với quy tắc “bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng”[7]. Tuy nhiên, quan điểm này cũng không phải là đúng trong mọi trường hợp, có những thông tin có tính chất đơn giản và không có khả năng gây hại cho khách hàng hay tác động đến bản chất vụ việc, do đó quan điểm này cũng có những bất cập cho luật sư trong thực tế.

Quan điểm thứ hai, luật sư chỉ có nghĩa vụ bảo mật đối với những tin về khách hàng được xem, được xác định là thông tin mật theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận bảo mật giữa luật sư và khách hàng. Quan điểm này tạo sự linh động cho luật sư khi xử lý thông tin khách hàng, tuy nhiên, vấn đề giới hạn thông tin là một vấn đề rất khó để định lượng trong thực tế. Để xác định loại thông tin nào cần bảo mật, loại thông tin nào không cần bảo mật, việc bảo mật có lập thành văn bản không… là cả một vấn đề nan giải, do đó cần quy định luật hóa và chi tiết hơn về vấn đề này.

Một lưu ý khác là luật sư chỉ bảo mật tất cả các thông tin mà luật sư biết được về khách hàng trong mối quan hệ nghề nghiệp với khách hàng, khi thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Luật sư không có nghĩa vụ giữ bí mật những thông tin về khách hàng mà luật sư biết được trước khi có quan hệ nghề nghiệp với khách hàng hoặc sau khi đã kết thúc vụ việc với khách hàng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Luật sư năm 2012: Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối với những vụ việc đã được công bố luật sư chỉ được phát biểu trên nguyên tắc “bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng” và trên cơ sở những thông tin về khách hàng, liên quan đến vụ việc đã được công bố, tuyệt đối tránh vô tình tiết lộ các thông tin khác về khách hàng, về vụ việc nếu chưa được sự đồng ý của khách hàng[8].

3. Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của luật sư và vấn đề liên quan đến tội không tố giác tội phạm

Điều 19 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) đã bổ sung thêm một chủ thể mới là người bào chữa. Theo đó, người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này (Nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, từ Điều 108 đến Điều 122) hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Hiện nay, vẫn có những quan điểm khác nhau về vấn đề liệu có sự mâu thuẫn giữa quy định về giữ bí mật thông tin khách hàng của luật sư với vấn đề không tố giác tội phạm?

Quan điểm thứ nhất cho rằng, về nguyên tắc, với tư cách là công dân thì người bào chữa có nghĩa vụ bình đẳng như mọi công dân khác trong việc tố giác tội phạm. Nguyên tắc này đã được Hiến pháp ghi nhận “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”[9] và được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật. Điều 4 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”; Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “… cá nhân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm” . Do đó, việc Nhà nước không miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa là đúng đắn. Xuất phát từ mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng nên trong một số trường hợp người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của chính người mà mình bào chữa.

Quan điểm thứ hai cho rằng, luật sư có trách nhiệm làm sáng tỏ những tình tiết xác định thân chủ vô tội hoặc những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ. Khi tham gia bào chữa, thực chất luật sư không chỉ hỗ trợ cho thân chủ về mặt pháp lý mà còn giúp họ ổn định về mặt tâm lý, tinh thần, là cầu nối giữa thân chủ và gia đình họ; và luật sư thường được thân chủ tiết lộ các thông tin liên quan đến vụ việc một cách chi tiết, cụ thể nhất. Luật sư không được phép xúi giục thân chủ khai sai sự thật hay cung cấp tài liệu, bằng chứng giả nhưng không có nghĩa là luật sư có nghĩa vụ sử dụng thông tin mà thân chủ tiết lộ để tố giác ngược lại họ cho cơ quan tiến hành tố tụng. Bởi nếu tố giác thân chủ rõ ràng làm trái với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp luật sư, phản bội lại niềm tin của thân chủ dành cho luật sư.

Mặt khác , điểm g, khoản 2, Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Người bào chữa không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Thông lệ của hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng cho thấy việc bảo mật thông tin cho thân chủ là nghĩa vụ của luật sư và họ không phải chịu trách nhiệm hình sự vì không có hành động tố giác tội phạm. Luật sư có quyền từ chối tiếp tục bào chữa, biện hộ cho thân chủ nhưng không thể sử dụng các thông tin mà thân chủ đã tiết lộ cho họ để khai báo với các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm buộc tội thân chủ của mình.

Có thể thấy mỗi quan điểm lại có những luận cứ riêng, song đa số quan điểm cho rằng với tính chất nghề nghiệp đặc biệt như nghề luật sư, với những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, phạm vi trách nhiệm của người bào chữa theo Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015[10] cần phải được thu hẹp hơn (theo Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015, có khoảng 100 loại tội phạm mà người bào chữa có nghĩa vụ phải tố giác nếu biết được, kể cả trong trường hợp tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện)[11]. Nên chăng pháp luật chỉ quy định luật sư chỉ phải tố giác tội phạm đối với khách hàng khi khách hàng đó phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, không buộc luật sư phải tố giác đối với thân chủ phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng[12].

4. Liên hệ nghĩa vụ bảo mật thông tin của một số chức danh tư pháp khác

Hiện nay, một số văn bản pháp luật cũng đã quy định về vấn đề bảo mật thông tin của các chức danh tư pháp khác. Đối với công chứng viên, Điều 7 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Điểm đ khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 cũng quy định về một trong những nghĩa vụ của công chứng viên là giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.

Đối với thừa phát lại, Điều 6 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh cũng quy định một trong những việc thừa phát lại không được làm là “Không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của mình, trừ trường hợp pháp luật cho phép”.

Đối với thẩm phán, tại khoản 4 Điều 76 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng quy định trách nhiệm của thẩm phán là “Giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật”.

Tuy nhiên, về vấn đề giữ bí mật thông tin khách hàng (đối với công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên…) hoặc đối với việc thực hiện công việc của mình của một số chức danh tư pháp khác( thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên…) cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện và quy định cụ thể hơn, tương tự như quy định về vấn đề bảo mật thông tin khách hàng của luật sư. Từ đó, sẽ góp phần nâng cao văn hoá pháp lý cũng như chất lượng công tác tư pháp của nước ta hiện nay./.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội


[1] Điều 3 Luật Luật sư năm 2012.

[2] Kiều Anh Vũ, Giữ bí mật thông tin về khách hàng- giới hạn và trách nhiệm của luật sư. https://danluat.thuvienphapluat.vn/ls-file.ashx?__key=00.00.20.96.75/...VU..., truy cập ngày 01/.03/2018.

[3] Điểm c khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư năm 2006.

[4] Khoản 1 Điều 25 Luật Luật sư năm 2012.

[5] Quy tắc 12 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam.

[6] Luật sư Kiều Anh Vũ, Giữ bí mật thông tin về khách hàng- giới hạn và trách nhiệm của luật sư,

https://danluat.thuvienphapluat.vn/ls-file.ashx?__key=00.00.20.96.75/NGHIA-VU-BAO-MAT-CUA-LUAT-SU.pdf, truy cập ngày 14/04/2019

[7] Quy tắc 3 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam.

[8] Luật sư Kiều Anh Vũ, Giữ bí mật thông tin về khách hàng- giới hạn và trách nhiệm của luật sư, https://danluat.thuvienphapluat.vn/ls-file.ashx?__key=00.00.20.96.75/NGHIA-VU-BAO-MAT-CUA-LUAT-SU.pdf; truy cập ngày 14/4/2019

[9] Điều 46 Hiến pháp năm 2013.

[10] Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm của người bào chữa đối với trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

[11] Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Bàn về nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư, http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/ban-ve-nghia-vu-to-giac-toi-pham-cua-luat-su-63845.html, ngày đăng 26/5/2017, ngày trc: 07/3/2019.

[12] Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Bàn về nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư, http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/ban-ve-nghia-vu-to-giac-toi-pham-cua-luat-su-63845.html, ngày đăng 26/5/2017, ngày trc: 07/3/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: