Thứ tư 26/08/2026 19:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) thường xuất hiện nhiều chủ thể tham gia tranh tụng. Họ có thể là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại, đương sự.


1. Vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) thường xuất hiện nhiều chủ thể tham gia tranh tụng. Họ có thể là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại, đương sự.

Dù ở tư cách nào thì trong quá trình tranh tụng, các chủ thể đó đều có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc pháp chế, phát huy tinh thần, trách nhiệm của mình trên cơ sở thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được hiến định. Trong số các chủ thể tham gia tranh tụng nêu trên thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong VAHS giữ một vai trò quan trọng.

Có thể hiểu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi bị hại có yêu cầu và được cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) chấp thuận theo quy định của pháp luật. Để ghi nhận vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự (TTHS), Đảng và Nhà nước ta đã thể chế hóa bằng các văn bản pháp lý qua các thời kỳ.

Trước hết, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW) là một văn bản pháp lý, một chủ trương chính sách lớn mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước ta. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngoài việc đề cập đến các nội dung khác nhau liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… thì cũng gián tiếp nhấn mạnh đến vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong xét xử VAHS.

Tiếp đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48/NQ-TW) quy định một số vấn đề trọng tâm trong đó có việc cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm cho sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, lấy kết quả tranh tụng tại Tòa án làm căn cứ quan trọng để đưa ra những phán quyết thông qua bản án.

Để cụ thể hóa mục tiêu của cải cách tư pháp, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW), trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp; từng bước xã hội hóa một số hoạt động tư pháp…”. Ở một khía cạnh nào đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW đã ghi nhận vai trò, địa vị pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong tranh tụng VAHS.

Đặc biệt hơn, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa tinh thần cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49/NQ-TW khi quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”[1]. Điều này một lần nữa khẳng định vị trí, vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại khi tham gia tố tụng.

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm đồng nghĩa với việc các cơ quan có thẩm quyền THTT phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại khi tham gia VAHS.

Do vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã được hiến định, nên pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ thể này thông qua các văn bản pháp luật. Trước đây, vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong VAHS chưa được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Khắc phục nhược điểm đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung quy định nhằm xác định rõ vai trò tham gia tố tụng của chủ thể này mặc dù lúc đó chỉ quy định bằng tên ngắn gọn là người bảo vệ quyền lợi của đương sự[2]. Mặc dù vậy, quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế, bởi vì các văn bản pháp luật này quy định ở phạm vi hẹp, chỉ tập trung quy định vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong giai đoạn xét xử VAHS mà chưa có quy định về vai trò của chủ thể này trong tất cả các giai đoạn (tiền tố tụng, điều tra, truy tố, xét xử) làm hạn chế các quyền tranh tụng của chủ thể này quyền con người, quyền công dân, chưa thực sự được bảo đảm. Những biểu hiện vi phạm tố tụng, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tình trạng hủy án hay bỏ lọt tội phạm diễn ra khá phổ biến.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam, khắc phục những tồn tại trong công tác xây dựng và thực thi pháp luật, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nhiều điểm tiến bộ, trong đó nêu rõ khái niệm về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những ai có thể đảm nhận vai trò này, đó là luật sư, người đại diện của bị hại, bào chữa viên nhân dân và trợ giúp viên pháp lý[3]. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) cũng dành một điều quy định về việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Theo đó, cùng với chủ thể là người bào chữa thì vị trí, vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được đề cao và phát huy không chỉ ở giai đoạn xét xử mà ở tất cả các giai đoạn của một quá trình giải quyết vụ án[4].

Có thể nói, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đóng vai trò rất quan trọng, đó là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo đảm công lý được thực thi.

2. Những nguyên nhân làm hạn chế vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Pháp luật có quy định rõ cơ chế để khi tham gia VAHS, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được phát huy vai trò tranh tụng của mình, các cơ quan THTT, người có thẩm quyền THTT phải tuân theo. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, có khá nhiều những cản trở ảnh hưởng đến hoạt động của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi họ tham gia tố tụng.

2.1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại còn một số hạn chế khi tham gia tố tụng

- Trong việc thu thập chứng cứ: Điều này thể hiện rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự khi quy định các quyền của người bào chữa và quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Hai chủ thể này đều giống nhau ở vai trò người bảo vệ thân chủ, đều có nghĩa vụ giúp đỡ cho thân chủ về mặt pháp lý, sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án trên tinh thần tuân thủ nguyên tắc pháp chế. Tuy nhiên, nếu là người bào chữa thì họ được quyền thu thập chứng cứ để cung cấp cho cơ quan THTT còn người bảo vệ thì không có quyền thu thập chứng cứ. Điều này gây khó khăn cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nếu muốn chứng minh lỗi của bị can, bị cáo. Nhiều trường hợp người bảo vệ cần xác minh, làm việc với các cơ quan nhà nước để thu thập chứng cứ, mặc dù thủ tục pháp lý đầy đủ nhưng họ rất khó nhận được sự hợp tác, giúp đỡ thậm chí bị từ chối cung cấp thông tin vì trong Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định quyền này.

Việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chủ động đi thu thập chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần củng cố chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền THTT xem xét, đánh giá. Bởi vì, thực thế đã chứng minh trong quá trình giải quyết một VAHS thì củng cố chứng cứ cũng là vấn đề hết sức quan trọng, đó là những phương pháp, cách thức làm cho chứng cứ, tài liệu thu thập được bảo đảm giá trị chứng minh, nói cách khác là bảo đảm ba thuộc tính: Hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án[5].

- Trong việc đề nghị thu thập chứng cứ: Trong trường hợp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không thể tự mình đi thu thập chứng cứ được mà xét thấy cần phải thu thập một số chứng cứ quan trọng thì rất cần nhận được sự hỗ trợ hay đề nghị cơ quan có thẩm quyền THTT thu thập những chứng cứ đó để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền này trong khi người bào chữa thì có. Điều đó dẫn đến việc quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo đảm.

- Trong việc đề nghị giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản: Đây là các quyền rất cần thiết trong quá trình giải quyết VAHS để bảo đảm quyền lợi cho các bên. Khi bị hại là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, họ cần giám định về tỷ lệ tổn hại sức khỏe. Sau khi có kết quả giám định rồi mà vẫn có căn cứ cho rằng kết quả đó chưa chính xác, chưa khách quan hoặc tình hình sức khỏe có chiều hướng xấu đi thì việc yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết. Hoặc khi bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản mà tài sản đó đã được định giá rồi nhưng chưa khách quan thì cũng cần được định giá lại. Đây là những việc mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cần tính toán, cân nhắc cho thân chủ của mình. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự không cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có những quyền năng này. Chính vì không quy định quyền năng này nên nhiều trường hợp người bảo vệ có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền THTT giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản nhưng không được chấp thuận.

- Quyền được đề nghị yêu cầu áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: Trong nhiều VAHS, việc áp dụng các biện pháp này rất cần thiết khi những thiệt hại mà bị can, bị cáo gây ra đối với bị hại là rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này lại phụ thuộc vào ý chí nhận thức chủ quan của cơ quan THTT, người THTT. Họ chỉ áp dụng khi thấy cần thiết. Thực tế đã xảy ra những bị can khi bị khởi tố, được áp dụng biện pháp cho tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú lại tiếp tục phạm tội ở những nơi khác hoặc bỏ trốn, thậm chí có những hành vi đe dọa người bị hại, hoặc cùng các đồng phạm khác thay đổi lời khai theo hướng phủ nhận hành vi phạm tội gây khó khăn cho cơ quan điều tra giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, cần phải thay đổi biện pháp ngăn chặn từ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chuyển sang biện pháp tạm giam. Thực tế có những trường hợp gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế của bị hại trong khi bị can, bị cáo có những nguồn tài sản lớn (động sản, bất động sản, các khoản tiền tiết kiệm…), tuy nhiên, thời gian tại ngoại đã giúp họ có điều kiện tẩu tán các tài sản đó dẫn đến việc khó khăn khi thi hành án sau này để bảo đảm quyền lợi cho bị hại. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại có thể nhận thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội là cần thiết nhưng khi đưa ra đề nghị được áp dụng các biện pháp này thì rất khó thực hiện được bởi trong luật không quy định người bảo vệ có các quyền đó.

Quyền được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng: Xét về vai trò, chức năng thực hiện nhiệm vụ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng giống như người bào chữa. Họ cũng phải thu thập tài liệu, nghiên cứu hồ sơ để tìm ra giải pháp tốt nhất cho thân chủ. Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định sau khi kết thúc điều tra thì chỉ có người bào chữa được nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra còn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không được nhận văn bản này mà chỉ được cơ quan điều tra thông báo cho biết. Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng có quy định khi kết thúc giai đoạn truy tố thì người bào chữa được nhận cáo trạng hay quyết định đình chỉ vụ án còn đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thì họ chỉ được thông báo mà thôi. Việc quy định như vậy làm ảnh hưởng đến việc theo dõi, nắm bắt thông tin chính xác về nội dung vụ án cũng như việc không bảo đảm tính kịp thời trong trường hợp nếu bị hại hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại muốn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng khi có căn cứ cho rằng bản kết luận điều tra vụ án, cáo trạng hay quyết định đình chỉ vụ án có thể làm bỏ lọt tội phạm hay gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.

2.2. Chất lượng tranh tụng và việc bảo đảm tranh tụng còn hạn chế

Trong giai đoạn điều tra, pháp luật chỉ cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được sao chụp hồ sơ khi kết thúc điều tra. Việc quy định này làm hạn chế vai trò tác nghiệp của người bảo vệ. Khi không nắm bắt được đầy đủ thông tin, lời khai của người phạm tội, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác hoặc chứng cứ là tài liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì rất khó để kiểm chứng thông tin và đưa ra quan điểm phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho thân chủ. Hay tại giai đoạn xét xử, do nhận thức chưa đúng đắn của các chủ thể tham gia tranh tụng đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng tranh tụng. Mặc dù, tranh tụng là bình đẳng nhưng do ảnh hưởng bởi quan niệm cho rằng, việc xét hỏi tại phiên tòa là trách nhiệm của Hội đồng xét xử nên kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đều hạn chế việc tham gia xét hỏi. Kiểm sát viên thường quan tâm đến nhiệm vụ của mình là bảo vệ cáo trạng, đưa ra quan điểm luận tội nên việc xét hỏi để làm sáng tỏ thêm các tình tiết khác của vụ án liên quan đến nghĩa vụ chịu trách nhiệm của bị cáo trước pháp luật và trước bị hại còn hạn chế. Trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo đối với bị hại đôi khi chưa được xem xét một cách thỏa đáng.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành đã khắc phục những mặt hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện nhanh chóng, kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật quy định chặt chẽ các thủ tục tố tụng nhằm hạn chế tối đa sự lạm dụng của các cơ quan THTT, người THTT trong quá trình giải quyết vụ án để không xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đã được hiến định.

Thực tế đã chỉ ra nguyên nhân của hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống đó chính là “chưa hoạch định được một chương trình xây dựng luật toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược...”[6].

Để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS cần phải tiến hành giải pháp mang tính quyết định là hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng khắc phục những hạn chế mà Nghị quyết số 48/NQ-TW đã chỉ ra. Pháp luật TTHS phải phù hợp với thực tế, được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền con người của xã hội dân sự trong điều kiện của Nhà nước pháp quyền Việt Nam[7]. Quan điểm này rất đúng trong tình hình hiện nay. Việc hoàn thiện khung pháp luật TTHS theo hướng phù hợp với thực tiễn là cần thiết. Cụ thể:

Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trên cơ sở nêu rõ vai trò của từng cơ quan này. Cần hoàn thiện các quy định về việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm điều tra các loại tội phạm còn các cơ quan khác chỉ điều tra sơ bộ ban đầu sau đó chuyển cơ quan điều tra theo thẩm quyền. Xác định rõ vai trò của Viện kiểm sát là cần tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Tòa án là cơ quan trung tâm của hoạt động TTHS bảo vệ quyền con người, xử lý nghiêm mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Thứ hai, cần xây dựng hành lang pháp lý vững chắc, hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng bổ sung quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại khi tham gia tố tụng và cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền THTT trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời, cần quy định rõ nghĩa vụ cũng như chế tài đối với cá nhân người có thẩm quyền THTT khi có vi phạm. Hiện nay, còn thiếu những quy định mang tính bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có một số quyền như người bào chữa trong khi họ có vai trò, chức năng như nhau trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động TTHS, theo đó, cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về cơ chế kiểm tra, giám sát của Quốc hội, của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động TTHS. Đồng thời, cũng cần hoàn thiện cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với hoạt động TTHS. Ngoài ra, đối với Viện kiểm sát và Tòa án cũng cần xây dựng các biện pháp giám sát cụ thể để Viện kiểm sát phát huy tốt chức năng của mình là giám sát việc thực hiện pháp luật và tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết VAHS. Tòa án phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử.

3.2. Nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại gồm có luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý. Các chủ thể này xuất phát điểm từ những môi trường đào tạo khác nhau do vậy chất lượng của họ khi tham gia tranh tụng trong các VAHS cũng khác nhau. Đối với người đại diện và bào chữa viên nhân dân về cơ bản thì kiến thức pháp luật của họ sẽ hạn chế hơn. Trong điều kiện đó thì việc tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân là sự lựa chọn tốt nhất.

Đối với hai chủ thể là luật sư và trợ giúp viên pháp lý thì họ là những người đã từng trải qua các lớp đào tạo chuyên môn nên kiến thức pháp luật tốt hơn. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn tình trạng một số người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yếu về kiến thức chuyên môn, yếu về kỹ năng hành nghề dẫn đến việc bảo vệ cho thân chủ đạt hiệu quả không cao.

Để khắc phục tình trạng trên, trong rất nhiều giải pháp tổ chức, thực hiện thì có một giải pháp quan trọng đó là phải hoàn thiện pháp luật về chế định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự và luật chuyên ngành (Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản pháp lý liên quan). Cần đưa ra các biện pháp khuyến khích những chủ thể này có sự chủ động thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, nắm vững văn bản pháp luật cộng với việc vận dụng kinh nghiệm tích lũy của bản thân để chủ động đưa ra các kiến nghị, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền THTT khi cần thiết. Đồng thời, trong phạm vi hoạt động hành nghề, các cơ quan chủ quản tăng cường đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để đội ngũ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có điều kiện được củng cố kiến thức, kỹ năng để tự tin khi tham gia tố tụng, bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

3.3. Bảo đảm vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong vụ án hình sự từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tố tụng khác

Để bảo đảm được vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong các VAHS phụ thuộc nhiều vào các cơ quan THTT và người THTT. Do luật còn có những quy định chưa cụ thể nên quá trình tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại gặp không ít khó khăn. Một số quyền được pháp luật tố tụng quy định nhưng lại không quy định rõ trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT phải tạo điều kiện cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Điều này dẫn đến việc có thể có những hành vi gây khó khăn cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Hoặc khi tham gia tranh tụng thì do kỹ năng điều khiển phiên tòa của Hội đồng xét xử còn nhiều bất cập dẫn đến việc không phát huy được hiệu quả tranh tụng. Kiểm sát viên hay người bào chữa không tham gia tranh tụng thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng khó có cơ hội được trình bày cụ thể quan điểm của mình. Đây là một bất cập xảy ra nhiều trên thực tế.

Theo quy định, “kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”[8]. Tuy nhiên, trên thực tế, có trường hợp kiểm sát viên không đối đáp lại quan điểm của luật sư. Vì Bộ luật Tố tụng hình sự mới chỉ quy định đối đáp là trách nhiệm, là quyền năng của kiểm sát viên, nhưng lại không quy định đó là nghĩa vụ, do đó, không có chế tài nào cho việc vi phạm nghĩa vụ đó.

Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, kiểm sát viên không đối đáp mà chỉ bảo lưu ý kiến thì đương nhiên việc tranh tụng sẽ dừng lại ở đó. Do vậy, cần thiết phải quy định đối đáp là nghĩa vụ của kiểm sát viên để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, cần quy định rõ trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa là bảo đảm quyền tranh tụng của tất cả các chủ thể khi tham gia tố tụng theo tinh thần của cải cách tư pháp. Có như vậy, chất lượng tranh tụng mới được nâng cao.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết VAHS. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và các văn bản pháp lý liên quan đã ghi nhận vai trò của chủ thể này. Trong quá trình giải quyết VAHS, sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là một yếu tố thúc đẩy hoạt động tranh tụng. Sự đối trọng về quan điểm giữa người bào chữa và người bảo vệ hay kiểm sát viên sẽ giúp cho những tình tiết khách quan của vụ án được làm sáng tỏ. Tòa án sẽ lấy đó làm căn cứ để đưa ra phán quyết công bằng, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đối với việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử ở Việt Nam chính là sự ảnh hưởng tích cực của họ trong quá trình tham gia tranh tụng các VAHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình giải quyết VAHS, việc thực hiện quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hành lang pháp lý còn chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ và thiếu tính thống nhất. Do vậy, cần khắc phục những hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự để phát huy tốt vai trò, vị trí của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong các VAHS.

ThS. Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan
Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
NCS. Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[3]. Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[4]. Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[5]. TS. Phạm Minh Tuyên, Thu thập, kiểm tra, đánh giá và nguyên tắc sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, tr. 23, Tạp chí Kiểm sát số 21/2017.

[6]. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020.

[7]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[8]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: