Thứ năm 15/01/2026 19:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) thường xuất hiện nhiều chủ thể tham gia tranh tụng. Họ có thể là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại, đương sự.


1. Vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) thường xuất hiện nhiều chủ thể tham gia tranh tụng. Họ có thể là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại, đương sự.

Dù ở tư cách nào thì trong quá trình tranh tụng, các chủ thể đó đều có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc pháp chế, phát huy tinh thần, trách nhiệm của mình trên cơ sở thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được hiến định. Trong số các chủ thể tham gia tranh tụng nêu trên thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong VAHS giữ một vai trò quan trọng.

Có thể hiểu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi bị hại có yêu cầu và được cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) chấp thuận theo quy định của pháp luật. Để ghi nhận vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự (TTHS), Đảng và Nhà nước ta đã thể chế hóa bằng các văn bản pháp lý qua các thời kỳ.

Trước hết, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW) là một văn bản pháp lý, một chủ trương chính sách lớn mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước ta. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngoài việc đề cập đến các nội dung khác nhau liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… thì cũng gián tiếp nhấn mạnh đến vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong xét xử VAHS.

Tiếp đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48/NQ-TW) quy định một số vấn đề trọng tâm trong đó có việc cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm cho sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, lấy kết quả tranh tụng tại Tòa án làm căn cứ quan trọng để đưa ra những phán quyết thông qua bản án.

Để cụ thể hóa mục tiêu của cải cách tư pháp, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW), trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp; từng bước xã hội hóa một số hoạt động tư pháp…”. Ở một khía cạnh nào đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW đã ghi nhận vai trò, địa vị pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong tranh tụng VAHS.

Đặc biệt hơn, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa tinh thần cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49/NQ-TW khi quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”[1]. Điều này một lần nữa khẳng định vị trí, vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại khi tham gia tố tụng.

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm đồng nghĩa với việc các cơ quan có thẩm quyền THTT phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại khi tham gia VAHS.

Do vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã được hiến định, nên pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ thể này thông qua các văn bản pháp luật. Trước đây, vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong VAHS chưa được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Khắc phục nhược điểm đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung quy định nhằm xác định rõ vai trò tham gia tố tụng của chủ thể này mặc dù lúc đó chỉ quy định bằng tên ngắn gọn là người bảo vệ quyền lợi của đương sự[2]. Mặc dù vậy, quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế, bởi vì các văn bản pháp luật này quy định ở phạm vi hẹp, chỉ tập trung quy định vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong giai đoạn xét xử VAHS mà chưa có quy định về vai trò của chủ thể này trong tất cả các giai đoạn (tiền tố tụng, điều tra, truy tố, xét xử) làm hạn chế các quyền tranh tụng của chủ thể này quyền con người, quyền công dân, chưa thực sự được bảo đảm. Những biểu hiện vi phạm tố tụng, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tình trạng hủy án hay bỏ lọt tội phạm diễn ra khá phổ biến.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam, khắc phục những tồn tại trong công tác xây dựng và thực thi pháp luật, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nhiều điểm tiến bộ, trong đó nêu rõ khái niệm về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những ai có thể đảm nhận vai trò này, đó là luật sư, người đại diện của bị hại, bào chữa viên nhân dân và trợ giúp viên pháp lý[3]. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) cũng dành một điều quy định về việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Theo đó, cùng với chủ thể là người bào chữa thì vị trí, vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được đề cao và phát huy không chỉ ở giai đoạn xét xử mà ở tất cả các giai đoạn của một quá trình giải quyết vụ án[4].

Có thể nói, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đóng vai trò rất quan trọng, đó là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo đảm công lý được thực thi.

2. Những nguyên nhân làm hạn chế vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Pháp luật có quy định rõ cơ chế để khi tham gia VAHS, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được phát huy vai trò tranh tụng của mình, các cơ quan THTT, người có thẩm quyền THTT phải tuân theo. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, có khá nhiều những cản trở ảnh hưởng đến hoạt động của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi họ tham gia tố tụng.

2.1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại còn một số hạn chế khi tham gia tố tụng

- Trong việc thu thập chứng cứ: Điều này thể hiện rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự khi quy định các quyền của người bào chữa và quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Hai chủ thể này đều giống nhau ở vai trò người bảo vệ thân chủ, đều có nghĩa vụ giúp đỡ cho thân chủ về mặt pháp lý, sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án trên tinh thần tuân thủ nguyên tắc pháp chế. Tuy nhiên, nếu là người bào chữa thì họ được quyền thu thập chứng cứ để cung cấp cho cơ quan THTT còn người bảo vệ thì không có quyền thu thập chứng cứ. Điều này gây khó khăn cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nếu muốn chứng minh lỗi của bị can, bị cáo. Nhiều trường hợp người bảo vệ cần xác minh, làm việc với các cơ quan nhà nước để thu thập chứng cứ, mặc dù thủ tục pháp lý đầy đủ nhưng họ rất khó nhận được sự hợp tác, giúp đỡ thậm chí bị từ chối cung cấp thông tin vì trong Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định quyền này.

Việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chủ động đi thu thập chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần củng cố chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền THTT xem xét, đánh giá. Bởi vì, thực thế đã chứng minh trong quá trình giải quyết một VAHS thì củng cố chứng cứ cũng là vấn đề hết sức quan trọng, đó là những phương pháp, cách thức làm cho chứng cứ, tài liệu thu thập được bảo đảm giá trị chứng minh, nói cách khác là bảo đảm ba thuộc tính: Hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án[5].

- Trong việc đề nghị thu thập chứng cứ: Trong trường hợp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không thể tự mình đi thu thập chứng cứ được mà xét thấy cần phải thu thập một số chứng cứ quan trọng thì rất cần nhận được sự hỗ trợ hay đề nghị cơ quan có thẩm quyền THTT thu thập những chứng cứ đó để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền này trong khi người bào chữa thì có. Điều đó dẫn đến việc quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo đảm.

- Trong việc đề nghị giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản: Đây là các quyền rất cần thiết trong quá trình giải quyết VAHS để bảo đảm quyền lợi cho các bên. Khi bị hại là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, họ cần giám định về tỷ lệ tổn hại sức khỏe. Sau khi có kết quả giám định rồi mà vẫn có căn cứ cho rằng kết quả đó chưa chính xác, chưa khách quan hoặc tình hình sức khỏe có chiều hướng xấu đi thì việc yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết. Hoặc khi bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản mà tài sản đó đã được định giá rồi nhưng chưa khách quan thì cũng cần được định giá lại. Đây là những việc mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cần tính toán, cân nhắc cho thân chủ của mình. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự không cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có những quyền năng này. Chính vì không quy định quyền năng này nên nhiều trường hợp người bảo vệ có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền THTT giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản nhưng không được chấp thuận.

- Quyền được đề nghị yêu cầu áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: Trong nhiều VAHS, việc áp dụng các biện pháp này rất cần thiết khi những thiệt hại mà bị can, bị cáo gây ra đối với bị hại là rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này lại phụ thuộc vào ý chí nhận thức chủ quan của cơ quan THTT, người THTT. Họ chỉ áp dụng khi thấy cần thiết. Thực tế đã xảy ra những bị can khi bị khởi tố, được áp dụng biện pháp cho tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú lại tiếp tục phạm tội ở những nơi khác hoặc bỏ trốn, thậm chí có những hành vi đe dọa người bị hại, hoặc cùng các đồng phạm khác thay đổi lời khai theo hướng phủ nhận hành vi phạm tội gây khó khăn cho cơ quan điều tra giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, cần phải thay đổi biện pháp ngăn chặn từ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chuyển sang biện pháp tạm giam. Thực tế có những trường hợp gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế của bị hại trong khi bị can, bị cáo có những nguồn tài sản lớn (động sản, bất động sản, các khoản tiền tiết kiệm…), tuy nhiên, thời gian tại ngoại đã giúp họ có điều kiện tẩu tán các tài sản đó dẫn đến việc khó khăn khi thi hành án sau này để bảo đảm quyền lợi cho bị hại. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại có thể nhận thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội là cần thiết nhưng khi đưa ra đề nghị được áp dụng các biện pháp này thì rất khó thực hiện được bởi trong luật không quy định người bảo vệ có các quyền đó.

Quyền được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng: Xét về vai trò, chức năng thực hiện nhiệm vụ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng giống như người bào chữa. Họ cũng phải thu thập tài liệu, nghiên cứu hồ sơ để tìm ra giải pháp tốt nhất cho thân chủ. Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định sau khi kết thúc điều tra thì chỉ có người bào chữa được nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra còn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không được nhận văn bản này mà chỉ được cơ quan điều tra thông báo cho biết. Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng có quy định khi kết thúc giai đoạn truy tố thì người bào chữa được nhận cáo trạng hay quyết định đình chỉ vụ án còn đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thì họ chỉ được thông báo mà thôi. Việc quy định như vậy làm ảnh hưởng đến việc theo dõi, nắm bắt thông tin chính xác về nội dung vụ án cũng như việc không bảo đảm tính kịp thời trong trường hợp nếu bị hại hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại muốn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng khi có căn cứ cho rằng bản kết luận điều tra vụ án, cáo trạng hay quyết định đình chỉ vụ án có thể làm bỏ lọt tội phạm hay gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.

2.2. Chất lượng tranh tụng và việc bảo đảm tranh tụng còn hạn chế

Trong giai đoạn điều tra, pháp luật chỉ cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được sao chụp hồ sơ khi kết thúc điều tra. Việc quy định này làm hạn chế vai trò tác nghiệp của người bảo vệ. Khi không nắm bắt được đầy đủ thông tin, lời khai của người phạm tội, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác hoặc chứng cứ là tài liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì rất khó để kiểm chứng thông tin và đưa ra quan điểm phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho thân chủ. Hay tại giai đoạn xét xử, do nhận thức chưa đúng đắn của các chủ thể tham gia tranh tụng đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng tranh tụng. Mặc dù, tranh tụng là bình đẳng nhưng do ảnh hưởng bởi quan niệm cho rằng, việc xét hỏi tại phiên tòa là trách nhiệm của Hội đồng xét xử nên kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đều hạn chế việc tham gia xét hỏi. Kiểm sát viên thường quan tâm đến nhiệm vụ của mình là bảo vệ cáo trạng, đưa ra quan điểm luận tội nên việc xét hỏi để làm sáng tỏ thêm các tình tiết khác của vụ án liên quan đến nghĩa vụ chịu trách nhiệm của bị cáo trước pháp luật và trước bị hại còn hạn chế. Trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo đối với bị hại đôi khi chưa được xem xét một cách thỏa đáng.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành đã khắc phục những mặt hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện nhanh chóng, kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật quy định chặt chẽ các thủ tục tố tụng nhằm hạn chế tối đa sự lạm dụng của các cơ quan THTT, người THTT trong quá trình giải quyết vụ án để không xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đã được hiến định.

Thực tế đã chỉ ra nguyên nhân của hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống đó chính là “chưa hoạch định được một chương trình xây dựng luật toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược...”[6].

Để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS cần phải tiến hành giải pháp mang tính quyết định là hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng khắc phục những hạn chế mà Nghị quyết số 48/NQ-TW đã chỉ ra. Pháp luật TTHS phải phù hợp với thực tế, được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền con người của xã hội dân sự trong điều kiện của Nhà nước pháp quyền Việt Nam[7]. Quan điểm này rất đúng trong tình hình hiện nay. Việc hoàn thiện khung pháp luật TTHS theo hướng phù hợp với thực tiễn là cần thiết. Cụ thể:

Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trên cơ sở nêu rõ vai trò của từng cơ quan này. Cần hoàn thiện các quy định về việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm điều tra các loại tội phạm còn các cơ quan khác chỉ điều tra sơ bộ ban đầu sau đó chuyển cơ quan điều tra theo thẩm quyền. Xác định rõ vai trò của Viện kiểm sát là cần tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Tòa án là cơ quan trung tâm của hoạt động TTHS bảo vệ quyền con người, xử lý nghiêm mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Thứ hai, cần xây dựng hành lang pháp lý vững chắc, hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng bổ sung quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại khi tham gia tố tụng và cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền THTT trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời, cần quy định rõ nghĩa vụ cũng như chế tài đối với cá nhân người có thẩm quyền THTT khi có vi phạm. Hiện nay, còn thiếu những quy định mang tính bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có một số quyền như người bào chữa trong khi họ có vai trò, chức năng như nhau trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động TTHS, theo đó, cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về cơ chế kiểm tra, giám sát của Quốc hội, của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động TTHS. Đồng thời, cũng cần hoàn thiện cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với hoạt động TTHS. Ngoài ra, đối với Viện kiểm sát và Tòa án cũng cần xây dựng các biện pháp giám sát cụ thể để Viện kiểm sát phát huy tốt chức năng của mình là giám sát việc thực hiện pháp luật và tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết VAHS. Tòa án phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử.

3.2. Nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại gồm có luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý. Các chủ thể này xuất phát điểm từ những môi trường đào tạo khác nhau do vậy chất lượng của họ khi tham gia tranh tụng trong các VAHS cũng khác nhau. Đối với người đại diện và bào chữa viên nhân dân về cơ bản thì kiến thức pháp luật của họ sẽ hạn chế hơn. Trong điều kiện đó thì việc tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân là sự lựa chọn tốt nhất.

Đối với hai chủ thể là luật sư và trợ giúp viên pháp lý thì họ là những người đã từng trải qua các lớp đào tạo chuyên môn nên kiến thức pháp luật tốt hơn. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn tình trạng một số người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yếu về kiến thức chuyên môn, yếu về kỹ năng hành nghề dẫn đến việc bảo vệ cho thân chủ đạt hiệu quả không cao.

Để khắc phục tình trạng trên, trong rất nhiều giải pháp tổ chức, thực hiện thì có một giải pháp quan trọng đó là phải hoàn thiện pháp luật về chế định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự và luật chuyên ngành (Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản pháp lý liên quan). Cần đưa ra các biện pháp khuyến khích những chủ thể này có sự chủ động thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, nắm vững văn bản pháp luật cộng với việc vận dụng kinh nghiệm tích lũy của bản thân để chủ động đưa ra các kiến nghị, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền THTT khi cần thiết. Đồng thời, trong phạm vi hoạt động hành nghề, các cơ quan chủ quản tăng cường đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để đội ngũ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có điều kiện được củng cố kiến thức, kỹ năng để tự tin khi tham gia tố tụng, bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

3.3. Bảo đảm vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong vụ án hình sự từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tố tụng khác

Để bảo đảm được vai trò tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong các VAHS phụ thuộc nhiều vào các cơ quan THTT và người THTT. Do luật còn có những quy định chưa cụ thể nên quá trình tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại gặp không ít khó khăn. Một số quyền được pháp luật tố tụng quy định nhưng lại không quy định rõ trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT phải tạo điều kiện cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Điều này dẫn đến việc có thể có những hành vi gây khó khăn cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Hoặc khi tham gia tranh tụng thì do kỹ năng điều khiển phiên tòa của Hội đồng xét xử còn nhiều bất cập dẫn đến việc không phát huy được hiệu quả tranh tụng. Kiểm sát viên hay người bào chữa không tham gia tranh tụng thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng khó có cơ hội được trình bày cụ thể quan điểm của mình. Đây là một bất cập xảy ra nhiều trên thực tế.

Theo quy định, “kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”[8]. Tuy nhiên, trên thực tế, có trường hợp kiểm sát viên không đối đáp lại quan điểm của luật sư. Vì Bộ luật Tố tụng hình sự mới chỉ quy định đối đáp là trách nhiệm, là quyền năng của kiểm sát viên, nhưng lại không quy định đó là nghĩa vụ, do đó, không có chế tài nào cho việc vi phạm nghĩa vụ đó.

Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, kiểm sát viên không đối đáp mà chỉ bảo lưu ý kiến thì đương nhiên việc tranh tụng sẽ dừng lại ở đó. Do vậy, cần thiết phải quy định đối đáp là nghĩa vụ của kiểm sát viên để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, cần quy định rõ trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa là bảo đảm quyền tranh tụng của tất cả các chủ thể khi tham gia tố tụng theo tinh thần của cải cách tư pháp. Có như vậy, chất lượng tranh tụng mới được nâng cao.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết VAHS. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và các văn bản pháp lý liên quan đã ghi nhận vai trò của chủ thể này. Trong quá trình giải quyết VAHS, sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là một yếu tố thúc đẩy hoạt động tranh tụng. Sự đối trọng về quan điểm giữa người bào chữa và người bảo vệ hay kiểm sát viên sẽ giúp cho những tình tiết khách quan của vụ án được làm sáng tỏ. Tòa án sẽ lấy đó làm căn cứ để đưa ra phán quyết công bằng, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đối với việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử ở Việt Nam chính là sự ảnh hưởng tích cực của họ trong quá trình tham gia tranh tụng các VAHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình giải quyết VAHS, việc thực hiện quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hành lang pháp lý còn chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ và thiếu tính thống nhất. Do vậy, cần khắc phục những hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự để phát huy tốt vai trò, vị trí của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong các VAHS.

ThS. Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan
Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
NCS. Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[3]. Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[4]. Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[5]. TS. Phạm Minh Tuyên, Thu thập, kiểm tra, đánh giá và nguyên tắc sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, tr. 23, Tạp chí Kiểm sát số 21/2017.

[6]. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020.

[7]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[8]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: