Thứ ba 06/10/2026 16:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguồn của Luật Nhân đạo Quốc tế

Bài viết phân tích, làm rõ một số vấn đề về nguồn cơ bản của Luật Nhân đạo Quốc tế và chỉ ra vai trò khác nhau của mỗi loại nguồn được áp dụng trong lĩnh vực nhân đạo quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Khái niệm Luật Nhân đạo Quốc tế (còn được gọi là luật xung đột vũ trang hoặc luật chiến tranh) đã xuất hiện từ thế kỷ XIX, mặc dù, trước đó, các nguyên tắc và thực tiễn là cơ sở của ngành luật này đã tồn tại vì những lý do nhân đạo. Sự hình thành các nguồn của Luật nhân đạo quốc tế gắn liền với lịch sử phát triển của luật pháp về chiến tranh nhằm hạn chế tác động phá hoại của nó và giảm nhẹ sự khổ đau của con người. Vì vậy, Luật Nhân đạo Quốc tế bao gồm các quy phạm trong hai lĩnh vực chính: (i) Bảo vệ và giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi xung đột vũ trang; (ii) Quy định về phương tiện và phương thức tác chiến.

Để xác định các nguồn của Luật Nhân đạo Quốc tế, trước hết, cần nghiên cứu lịch sử về sự phát triển của luật pháp về chiến tranh. Các quy định trong Luật Nhân đạo Quốc tế thường được phát triển để ứng phó với hành vi của quốc gia trong các cuộc chiến tranh cụ thể. Sau trận chiến Solferino[1], năm 1864, Công ước Geneva đầu tiên ra đời với 14 nước châu Âu ký kết, quy định về cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ. Đây là khung pháp lý đầu tiên thiết lập các quy tắc ứng xử chiến tranh, nó đã giúp hạn chế những tổn thất do các cuộc xung đột vũ trang gây ra.

Ngày nay, Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế[2] (ICJ) thường được viện dẫn khi xác định các nguồn của luật quốc tế nói chung (bao gồm Luật Nhân đạo Quốc tế). Trên cơ sở các nguồn của luật quốc tế nói chung, nguồn cơ bản của Luật Nhân đạo Quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế. Các quốc gia cũng bị ràng buộc bởi các nguyên tắc chung của luật. Trong lĩnh vực nhân đạo quốc tế có thể kể đến nguyên tắc chung của luật như: Tương xứng khi tấn công, thiện chí, không có hiệu lực hồi tố, nguyên tắc về tính hợp pháp (không phải là tội phạm nếu không có luật; không bị trừng trị nếu không có luật)... Ngoài ra, Luật Nhân đạo Quốc tế còn có các nguồn khác tuy không chứa đựng các quy phạm pháp luật nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và xác định sự tồn tại của Luật Nhân đạo Quốc tế. Ví dụ như: Phán quyết của cơ quan tài phán, các nghị quyết được thông qua tại các hội nghị của Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế và Lưỡi liềm đỏ quốc tế, các nguyên tắc và cách sử dụng của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp quốc, các công trình nghiên cứu và bài giảng của các chuyên gia có uy tín về Luật Nhân đạo Quốc tế…

2. Điều ước quốc tế

Lịch sử cho thấy, các quy định của Luật Nhân đạo Quốc tế, đặc biệt là quy định về đối xử và trao đổi tù nhân, người bị thương, từ lâu đã được quy định trong các điều ước song phương. Quá trình pháp điển hóa có tính hệ thống và phát triển Luật nhân đạo quốc tế trong các điều ước đa phương cũng đã bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, tức là tương đối sớm so với các ngành luật khác của hệ thống pháp luật quốc tế, khởi đầu từ Công ước Geneva lần thứ nhất năm 1864. Luật Nhân đạo Quốc tế chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, gắn với việc thông qua 04 Công ước Geneva năm 1949 về xung đột vũ trang. Các công ước này pháp điển hóa các quy phạm được áp dụng trong hoàn cảnh xảy ra xung đột vũ trang giữa các quốc gia (xung đột quốc tế), nhằm bảo vệ con người trong lãnh thổ bị chiếm đóng và bảo vệ tù nhân chiến tranh (POWs). Tuy nhiên, tại Điều 3 chung của các công ước này đều áp dụng trong cả hoàn cảnh xung đột vũ trang không có tính quốc tế.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do sự gia tăng của các cuộc xung đột vũ trang trong nội bộ quốc gia nên năm 1977, các quốc gia đã thông qua hai nghị định thư bổ sung cho các công ước trên. Hai văn bản này quy định về việc bảo vệ các nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế và không có tính quốc tế, đồng thời, điều chỉnh “các cuộc đấu tranh vũ trang của người dân thuộc địa chống lại thực dân và ngoại bang, chống lại các chế độ phân biệt chủng tộc nhằm thực thi quyền dân tộc tự quyết… như được ghi trong Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ thân thiện và hợp tác giữa các quốc gia theo Hiến chương Liên Hợp quốc”. Nghị định thư I đã hợp nhất các văn kiện được thông qua tại Hội nghị hòa bình Lahay và 04 Công ước Geneva, trong đó, các điều khoản liên quan đến bảo vệ thường dân và người tham gia, cũng như các quy tắc về phương tiện và phương pháp chiến tranh đã được kết hợp trong một văn kiện. Nghị định thư II phát triển luật về xung đột vũ trang nội bộ, bổ sung cho các khái niệm hạn chế được nêu trong Điều 3 chung của các Công ước Geneva năm 1949. Hoa Kỳ, Pakistan, Israel và Iran nằm trong số các nước không phê chuẩn các Nghị định thư này[3].

Một đặc điểm nổi bật của các điều ước quốc tế về nhân đạo là chúng thường được bổ sung hoặc thay thế bằng các quy định mới và chi tiết hơn sau các cuộc chiến tranh lớn và có tính đến những phát triển công nghệ, kỹ thuật quân sự mới. Do đó, các điều ước là nguồn của Luật Nhân đạo Quốc tế thường được xem là “một cuộc chiến tranh đằng sau thực tế”[4].

Hầu hết các điều ước của Luật Nhân đạo Quốc tế hiện nay được coi là những điều ước phổ cập, được chấp nhận rộng rãi nhất và chỉ có một số ít quốc gia không bị ràng buộc. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, các quốc gia có thể đưa ra bảo lưu làm thay đổi nghĩa vụ pháp lý theo điều ước; một số điều ước thường yêu cầu số lượng quốc gia nhất định phê chuẩn mới có thể phát sinh hiệu lực. Trong trường hợp có xung đột vũ trang quốc tế, điều ước quốc tế về nhân đạo có thể chỉ có hiệu lực giữa các quốc gia là thành viên của điều ước đó, trừ khi chúng là quy phạm jus cogens[5] hoặc các nghĩa vụ erga omnes[6].

Tuy nhiên, giống như tất cả các điều ước trong những lĩnh vực khác của luật quốc tế, điều ước quốc tế là nguồn của Luật Nhân đạo Quốc tế không thể có hiệu lực chung, tức là tự động ràng buộc tất cả các quốc gia. Các quốc gia chỉ ràng buộc với điều ước quốc tế nếu quốc gia đó thực hiện hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được các bên thỏa thuận[7].

Các vấn đề về ký kết, phát sinh hiệu lực, bảo lưu, áp dụng, giải thích, sửa đổi và thậm chí là cả vấn đề bãi bỏ các điều ước trong Luật Nhân đạo Quốc tế được điều chỉnh bởi luật điều ước quốc tế - một ngành luật trong hệ thống luật quốc tế. Tuy nhiên, việc bãi bỏ điều ước trong Luật Nhân đạo Quốc tế chỉ có hiệu lực sau khi kết thúc cuộc xung đột vũ trang mà quốc gia bãi bỏ nó có liên quan. Quốc gia thành viên của điều ước trong Luật Nhân đạo Quốc tế không được đơn phương chấm dứt hoặc đình chỉ thực hiện điều ước trên cơ sở có vi phạm nghiêm trọng bởi một quốc gia khác (kể cả quốc gia thù địch với quốc gia đó) trong một cuộc xung đột vũ trang quốc tế.

3. Tập quán nhân đạo quốc tế

Tập quán trong Luật Nhân đạo Quốc tế bao gồm các quy tắc được hình thành từ “thực tiễn chung được chấp nhận là luật” (luật tập quán nhân đạo quốc tế)[8]. Chứng minh sự tồn tại của một quy tắc luật tập quán nhân đạo quốc tế đòi hỏi phải có bằng chứng mạnh mẽ về sự tồn tại của cả hai yếu tố: Thực tiễn các quốc gia và ý chí của các quốc gia thừa nhận quy tắc xử sự đó là luật (thường được gọi là opinio juris). Có bốn yêu cầu chính thường được đề xuất sử dụng để đánh giá thực tiễn quốc gia, đó là tính “liên tục, nhất quán, lặp đi lặp lại và phổ biến (chung)”[9].

Mặc dù, Luật Nhân đạo Quốc tế là một ngành luật được pháp điển hóa trong các điều ước đa phương được chấp nhận rộng rãi, các quy tắc của luật tập quán vẫn rất quan trọng để bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt là khi: Có các vấn đề không được điều chỉnh hoặc được điều chỉnh nhưng không chi tiết bởi điều ước trong Luật Nhân đạo Quốc tế; các quốc gia không phải là thành viên của điều ước trong luật nhân đạo nhưng lại có liên quan đến một cuộc xung đột vũ trang; các bảo lưu được đưa ra nhằm loại trừ một số điều khoản của điều ước trong nhân đạo quốc tế; các cơ quan tài phán hình sự quốc tế thường ưu tiên áp dụng các quy định trong tập quán quốc tế so với các quy định điều ước; một số hệ thống pháp luật quốc gia chỉ cho phép áp dụng trực tiếp các quy định của luật tập quán quốc tế.

Luật tập quán thường có trước điều ước. Ví dụ, Luật tập quán nhân đạo quốc tế có thể được pháp điển hóa dưới hình thức một điều ước[10] hoặc nghị quyết được thông qua bởi Đại hội đồng Liên Hợp quốc hoặc Ủy ban Luật quốc tế (ILC). Cách tiếp cận này khác với truyền thống luật thành văn của hầu hết các hệ thống pháp lý được dựa trên luật La Mã. Điều này cũng cho thấy, hành vi của mỗi chủ thể trên diễn đàn quốc tế (tức là thực tiễn quốc gia) đều có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển Luật Nhân đạo Quốc tế. Luật tập quán nhân đạo quốc tế có thể xét đến khái niệm về một thực thể phi quốc gia trong các hoàn cảnh xung đột vũ trang. Nó dần dần lấp đầy khoảng trống pháp lý, đặc biệt là khi các quốc gia và các nhóm thực thể phi quốc gia được trang bị vũ khí là các bên tham gia xung đột nhưng không là các bên của điều ước trong Luật Nhân đạo Quốc tế.

Luật tập quán nhân đạo quốc tế cũng có vai trò quan trọng trong việc lấp đầy khoảng trống chưa được điều chỉnh bởi điều ước, bởi vì, trong nhiều trường hợp, điều ước không thể được áp dụng do thủ tục ký kết, phê chuẩn phức tạp hoặc có các bảo lưu đối với điều ước. Vì vậy, với tính chất là luật tập quán, các quy tắc nhất định của Luật Nhân đạo Quốc tế có khả năng được áp dụng phổ cập. Nhiều quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế quy định các nghĩa vụ tuyệt đối và ràng buộc tất cả các quốc gia (jus cogens). Các Công ước Geneva năm 1949 nhắc lại thực tế rằng, những người và những tình huống không được đề cập trong Công ước thì vẫn được điều chỉnh bởi luật tập quán quốc tế. Nguyên tắc này có trong cả 04 Công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư I của các Công ước này. Các điều khoản đó thường quy định: Trong những trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh (của Công ước Geneva hoặc Nghị định thư I) hoặc các điều ước quốc tế khác, thường dân và các chiến binh khác vẫn được hưởng sự bảo vệ bởi các nguyên tắc của luật pháp quốc tế có nguồn gốc từ luật tập quán đã hình thành hoặc từ các nguyên tắc về lòng nhân đạo và từ mệnh lệnh lương tâm của công chúng[11]. Ngày nay, 04 Công ước Geneva năm 1949, cũng như hầu hết các quy định của Nghị định thư I đã được thừa nhận là Luật tập quán nhân đạo quốc tế. Điều này có nghĩa rằng, ngay cả những quốc gia chưa phê chuẩn vẫn phải tuân theo quy định trong các văn kiện đó.

Luật tập quán quốc tế có khả năng phát triển nhanh hơn so với luật điều ước trong lĩnh vực nhân đạo quốc tế. Nhu cầu gia tăng nhanh chóng trong việc phải bảo vệ nạn nhân chiến tranh trước hiện tượng công nghệ mới và các hành vi vô nhân đạo khác có thể thúc đẩy nhanh sự hình thành Luật tập quán nhân đạo quốc tế với vai trò xúc tác là các nghị quyết của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc. Như vậy, thực tế cho thấy, tập quán quốc tế luôn là một nguồn quan trọng của Luật Nhân đạo Quốc tế.

Tuy nhiên, với tính chất là một nguồn của Luật Nhân đạo Quốc tế, tập quán cũng có những điểm hạn chế nhất định. Các quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế không được trình bày rõ ràng, chính xác và việc áp dụng chúng thường là chủ đề gây nhiều tranh luận. Việc pháp điển hóa Luật Nhân đạo Quốc tế đã bắt đầu cách đây 150 năm, bởi vì, cộng đồng quốc tế đã thấy rằng thực tiễn của bên tham chiến là không thể chấp nhận được. Trong khi đó, Luật tập quán nhân đạo quốc tế cũng được dựa trên thực tiễn của các bên tham chiến.

Hơn nữa, việc xác định sự tồn tại của một quy tắc Luật tập quán nhân đạo quốc tế có thể sẽ gặp phải những khó khăn đặc biệt. Trước hết, đối với hầu hết các quy tắc, cách tiếp cận này sẽ không có nhiều thực tiễn về phía những quốc gia tham chiến. Thực tiễn về một số vấn đề nhân đạo quốc tế còn khan hiếm, khó có khả năng được cho là “thực tiễn chung” và hơn thế nữa, “được chấp nhận như là luật”. Vì vậy, việc xác định một thực tiễn đã là Luật tập quán nhân đạo quốc tế hay chưa sẽ phải cân nhắc thêm về các yếu tố khác, ví dụ như: Ý chí của các bên thừa nhận quy tắc xử sự là luật (opinio juris), tuyên bố của các bên tham chiến, trong đó bao gồm cả tuyên bố cáo buộc kẻ thù đã vi phạm Luật Nhân đạo Quốc tế và các biện minh cho hành vi của chính mình.

Để xác định “thực tiễn chung” thì cũng phải xem xét đến tuyên bố của quốc gia thứ ba trên các diễn đàn ngoại giao về hành vi của các bên tham chiến và về một quy phạm được đưa ra. Cẩm nang hướng dẫn sử dụng quân sự cũng là một yếu tố rất quan trọng cần được xem xét, bởi vì, chúng chứa đựng các chỉ thị, mệnh lệnh của các quốc gia nhằm kiềm chế hành động của các binh sĩ. Tuy nhiên, hiện nay, rất ít quốc gia (chủ yếu là các quốc gia phương Tây) đã công bố sách hướng dẫn quân sự. Vì vậy, nội dung của các cuốn sách đó khó có thể được xem như là bằng chứng về “thực tiễn chung” trong cộng đồng quốc tế đương đại.

Bên cạnh đó, hầu hết các quy định của hai Nghị định thư thể hiện sự tồn tại song hành của quy phạm điều ước và quy phạm tập quán trong Luật Nhân đạo Quốc tế. Nói cách khác, rất nhiều các quy định trong hai Nghị định thư này cũng đồng thời là các quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế. Ví dụ, từ góc nhìn tổng thể về tất cả các thực tiễn, có thể thấy rằng, một số quy định của hai Nghị định thư là tương ứng với Luật tập quán nhân đạo quốc tế ràng buộc tất cả các quốc gia và các bên tham chiến, bởi vì nó đã: Pháp điển hóa luật quốc tế chung tồn tại trước đó; hoặc chuyển hóa một thực tiễn đã tồn tại trước đó thành một quy tắc, bởi vì, nó đã kết hợp, diễn giải hoặc chi tiết hóa các nguyên tắc và quy tắc hiện hành; hoặc kết thúc quá trình hình thành và phát triển của một quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế; hoặc là một chất xúc tác cho việc tạo ra một quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế thông qua thực tiễn sau này và nhiều quốc gia đồng ý bị ràng buộc với Nghị định thư đó.

Về nội dung của Luật tập quán nhân đạo quốc tế, từ năm 1980, ILC đã công nhận rằng, các Công ước Geneva năm 1949 phản ánh những nguyên tắc chung là cơ sở của luật nhân đạo. Tổng thư ký Liên Hợp quốc cũng đã khẳng định điều này trong báo cáo về việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư (cũ) (S/25.704 ngày 03/5/1993). Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc đã thông qua báo cáo trên trong Nghị quyết số 827 ngày 05/5/1993). Năm 2005, ICRC đã công bố một nghiên cứu về các quy tắc của Luật nhân đạo quốc tế. Nghiên cứu này giải thích rõ ràng một danh sách toàn diện về 161 quy tắc của Luật tập quán nhân đạo quốc tế. Công việc này đã được thực hiện thông qua một quá trình rà soát sâu, rộng về thực tiễn quốc gia trong lĩnh vực nhân đạo quốc tế. Ủy ban được phép xác định các quy tắc đã được chấp nhận là ràng buộc các quốc gia trong cả xung đột vũ trang quốc tế và xung đột vũ trang không có tính quốc tế. Công việc này cho thấy một sự hội tụ và đồng quy lớn giữa quy tắc áp dụng trong các cuộc xung đột vũ trang quốc tế và không có tính quốc tế. Điều này làm đơn giản hóa và tạo điều kiện cho việc thực hiện các quy định của Luật Nhân đạo Quốc tế, bởi vì, 161 quy tắc tập quán này có hiệu lực ràng buộc các quốc gia bất kể có ký kết và phê chuẩn nó hay không.

4. Những nguồn khác của Luật Nhân đạo Quốc tế

Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ nội dung và sự tồn tại của các quy tắc Luật tập quán nhân đạo quốc tế. Trước hết, phán quyết của ICJ trong vụ Nicaragua v., US đã lưu ý: “Tòa không cho rằng, đối với một quy tắc là luật tập quán đã hình thành, thực tiễn tương ứng phải là hoàn toàn chính xác phù hợp với quy tắc. Để suy luận ra sự tồn tại của các quy tắc tập quán, Tòa cho rằng chỉ cần nhìn chung hành vi của các quốc gia phải phù hợp với các quy tắc như vậy. Những trường hợp mà hành vi của quốc gia không phù hợp với một quy tắc nhất định thì nhìn chung, hành vi đó phải được coi như là sự vi phạm các quy tắc tập quán đã hình thành, chứ không phải là những chỉ dẫn về sự công nhận một quy tắc mới. Nếu một quốc gia hành động theo một cách mà ngay từ đầu đã không phù hợp với một quy tắc đã được công nhận, nhưng bào chữa cho hành vi của mình bằng cách viện dẫn các ngoại lệ hoặc các biện giải trong chính quy tắc, thì bất kể hành vi của quốc gia trên thực tế là có thể biện minh được trên cơ sở đó hay không nhưng ý nghĩa của thái độ đó là để khẳng định quy tắc (tập quán đã tồn tại) chứ không phải là làm yếu đi quy tắc đó” (đoạn 186)[12]. Trên cơ sở lập luận này, những vi phạm quy tắc Luật tập quán nhân đạo quốc tế đã hình thành sẽ không làm mất đi tính chất tập quán của quy tắc đó.

Các Tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư (cũ) và Rwanda đã nhiều lần khẳng định vai trò của chúng trong việc làm nổi bật các quy tắc của Luật tập quán quốc tế liên quan đến hành vi vi phạm pháp Luật Nhân đạo Quốc tế. Trong vụ Kayishema and Ruzindana (ngày 21/5/1999)[13], Hội đồng xét xử Phòng 1 của Tòa án hình sự quốc tế về Rwanda (đoạn 88) đã cho rằng, tội diệt chủng được coi là một phần của Luật tập quán nhân đạo quốc tế và hơn nữa, nó còn là một quy phạm jus cogens (quy phạm có hiệu lực tối cao). Trong vụ Rutaganda, Hội đồng xét xử nêu trên cũng cho rằng, Công ước ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng là một phần của Luật tập quán quốc tế (đoạn 46)[14]. Phán quyết của các Tòa án hình sự quốc tế tiếp tục giải thích thêm về cách Công ước cần phải được giải thích.

Về các xung đột vũ trang không có tính quốc tế, Hội đồng xét xử Phòng 1 của Tòa án hình sự quốc tế về Rwanda trong vụ Akayesu (ngày 02/9/1998) đã cho rằng, “các quy phạm của Điều 3 chung đã trở thành Luật tập quán nhân đạo quốc tế, bởi vì hầu hết các quốc gia đã thông qua các bộ luật hình sự của mình, trong đó đã hình sự hóa các hành vi mà nếu được thực hiện trong cuộc xung đột vũ trang nội bộ thì sẽ cấu thành hành vi vi phạm Điều 3 chung” (các đoạn 608 - 609, 616)[15].

Hội đồng kháng cáo của Tòa án hình sự quốc tế về Nam tư (cũ) trong vụ Tadic (ngày 02/10/1995) cho rằng, Nghị định thư II không được thừa nhận rộng rãi như là một phần của luật tập quán nhưng cho rằng, một số quy định của Nghị định thư này hiện nay có thể được coi là tuyên bố về các quy tắc hiện hành hoặc là đã “kết tinh” các quy tắc đang hình thành của luật tập quán. Tuy nhiên, cốt lõi cơ bản của Nghị định thư II được phản ánh trong Điều 3 chung của Công ước Geneva năm 1949, do đó, nó là một phần của luật tập quán đã được chấp nhận chung. Đặc biệt, tính chất tập quán của văn bản này bao gồm các quy định cấm bạo lực đối với những người không tham gia tích cực vào các hoạt động thù địch, bắt giữ con tin, đối xử tàn bạo và trừng phạt mà không có thủ tục tố tụng (đoạn 117)[16]./.

TS. Lê Thị Anh Đào

Trường Đại học Luật Hà Nội

Đặng Công Đức Anh

Lớp Chất lượng cao 473009, Trường Đại học Luật Hà Nội

Lê Mỹ Thanh

Luật Quốc tế 48C10520, Học Viện Ngoại giao Việt Nam

[1]. Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ hai diễn ra ngày 08/6/1859 và kết thúc với chiến thắng của liên quân Pháp - Sardegna trước quân đội Áo.

[2]. Quy chế ICJ của Liên Hợp quốc được thông qua ngày 06/5/1946, http://legal.un.org/avl/pdf/ha/sicj/sicje.pdf.

[3]. https://www.icrc.org/eng/resources/documents/misc/additional-protocols-1977.htm.

[4]. Jed Odermatt, Between Law and Reality: “New Wars” and Internationalised Armed Conflict, Armstecdam Law Forum, VU Armstecdam University, 2013.

[5]. “Một quy phạm mệnh lệnh bắt buộc của luật quốc tế chung (jus cogens) là một quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận và công nhận là một quy phạm không được phép vi phạm và chỉ có thể sửa đổi bằng một quy phạm mới khác của pháp luật quốc tế chung có cùng tính chất” (Điều 53 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế). “Nếu một quy phạm mới bắt buộc của luật quốc tế chung ra đời, mọi điều ước hiện hành mà mâu thuẫn với quy phạm đó sẽ bị vô hiệu và chấm dứt” (Điều 64 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế).

[6]. Khác với quy phạm jus cogens, nghĩa vụ erga omnes không được quy định rõ ràng trong điều ước quốc tế. Phán quyết trong vụ Barcelona Traction là lần đầu tiên ICJ đề cập đến các nghĩa vụ erga omnes (Barcelona Traction, Light and Power Company, Limited (Belgium v. Spain), I.C.J Reports 1970, tr. 2, đoạn 33). Qua các phán quyết của ICJ, nghĩa vụ erga omnes được đề cập như là nghĩa vụ đối với toàn thể các quốc gia trên thế giới.

[7]. Điều 11 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước giữa các quốc gia.

[8]. Nguồn trực tuyến miễn phí tốt và có sẵn là trang web của ICRC về thực tiễn tập quán trong luật nhân đạo quốc tế.

[9]. Malcom N. Shaw, “International law”, 7th ed, Cambridge University Press, 2014, p. 54; Fisheries (United Kingdom v. Norway), 1951 I.C.J. Rep, đoạn 116; North Sea Continental Shelf Case, 1969 ICJ Rep, đoạn 43.

[10]. Thậm chí, mặc dù, điều ước chưa có hiệu lực nhưng một điều khoản điều ước đó phản ánh luật tập quán, miễn là thực tiễn tương tự có tồn tại ở mức độ đủ phổ biến, bao gồm thực tiễn các quốc gia có lợi ích đặc biệt liên quan. Như vậy, hệ quả là các quy định của điều ước có khả năng được áp dụng rộng rãi. Trong vụ North Sea Continental Shelf Case (tr. 33 - 34), ICJ cho rằng, khái niệm về vùng đặc quyền kinh tế đã trở thành một phần của luật tập quán quốc tế, mặc dù, Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 chưa bắt đầu có hiệu lực, bởi vì, số lượng các yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế đã tăng lên tới 56 quốc gia (vào thời điểm đó), bao gồm cả các quốc gia có lợi ích đặc biệt liên quan.

[11]. Điều 1.2 Nghị định thư I; Điều 63 Công ước Geneva I; Điều 62 Công ước Geneva II; Điều 142 Công ước Geneva III; Điều 158 Công ước Geneva IV.

[12]. Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United States of America), Merits, Judgment, ICJ Reports, 1986, tr. 14.

[13]. International Criminal Tribunal for Rwanda, The Prosecutor versus Clement Kayishema and Obed Ruzindana, Case No. ICTR-9S-l-T, Judgement 21 May 1999.

[14]. International Criminal Tribunal for Rwanda (Appeals Chamber), Georges Anderson Nderubumwe Rutaganda v. Prosecutor, 26 May 2003.

[15]. International Criminal Tribunal for Rwanda, The Prosecutor v. Jean Paul Akayesu, Case No. ICTR-96-4-T, 2 Sept 1998.

[16]. ICTY, The Prosecutor v. Dusko Tadić, IT-94-1-AR72, Appeals Chamber, Decision, 2 Decision, 2 October 1995.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Đối thoại Biển lần thứ 15 với chủ đề "Từ thỏa thuận đến hành động: Triển khai Hiệp định BBNJ vì quản trị biển công bằng, hiệu quả" diễn ra với sự tham dự của đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, cơ quan Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học. Các đại biểu tập trung trao đổi về việc chuyển hóa các cam kết của Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ở các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (Hiệp định BBNJ) thành pháp luật, cơ chế hợp tác và hành động cụ thể ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Nghiên cứu cho thấy, Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là mô hình tài phán đặc thù, thiết kế nhằm giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại trong môi trường đầu tư quốc tế. Đặc điểm nổi bật của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là vận hành theo hệ thống thông luật, sử dụng tiếng Anh và tồn tại song song với hệ thống tư pháp chung của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Mô hình này thể hiện rõ cách kết hợp giữa luật thành văn, án lệ và các nguyên tắc thông luật trong hoạt động xét xử. So sánh với Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế năm 2025 của Việt Nam, có thể thấy, Việt Nam chưa xây dựng một khu tài phán thông luật hoàn chỉnh, mà mới tiếp nhận từng phần, một số kỹ thuật tố tụng và cơ chế chọn luật mang ảnh hưởng thông luật. Vì vậy, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai giúp Việt Nam hoàn thiện quy tắc tố tụng, tăng tính dự đoán xét xử và nâng cao sức hút thể chế, nhưng cần vận dụng thận trọng, phù hợp với chủ quyền tư pháp và trật tự công.
Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ số và tài sản mã hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá khả năng áp dụng loại tài sản này trong quan hệ lao động, đặc biệt, trong phương thức trả lương. Nghiên cứu phân tích, so sánh pháp luật của Trung Quốc, Hoa Kỳ, El Salvador và Việt Nam, từ đó, gợi mở một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hài hòa giữa đổi mới công nghệ và bảo vệ người lao động trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Trên cơ sở tham vấn ba bên (đại diện Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động từ 187 quốc gia thành viên ILO) và hai lần thảo luận tại Hội nghị Lao động Quốc tế, ngày 12/6/2026, ILO đã thông qua Công ước số 193 về việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng. Công ước số 193 được thông qua với 406/450 phiếu đồng thuận (hơn 90%).
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông tại Việt Nam vượt khả năng ngân sách, khai thác quỹ đất trở thành giải pháp quan trọng. Nghiên cứu phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thu hồi giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng qua các mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tái điều chỉnh đất đai và kết hợp hạ tầng - bất động sản. Kết quả cho thấy, pháp luật Việt Nam còn hạn chế về cơ chế phân chia địa tô chênh lệch, tiêu chí vùng phụ cận và tính đồng bộ pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng giao thông.
Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II - Hợp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước (Dự án EU JULE II), chiều ngày 12/5, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức cuộc họp kỹ thuật góp ý đối với dự thảo tài liệu tập huấn thử về công tác tổ chức thi hành pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Cố vấn trưởng Dự án EU JULE đồng chủ trì cuộc họp.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Trên thực tế, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Liên minh châu Âu nói chung và ở Đức nói riêng đã phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên trách, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung gian hòa giải, nhân viên xã hội hoặc cán bộ quản chế. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, nhiệm vụ này gọi là trợ giúp thanh thiếu niên trong tố tụng hình sự, do các chuyên gia thực hiện bằng cách cung cấp thông tin cho thẩm phán Tòa án thanh thiếu niên và hỗ trợ người chưa thành niên và gia đình họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự.
Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.
Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ người làm chứng (nhân chứng) là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm công lý và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tại Trung Quốc, cơ chế bảo vệ nhân chứng đã từng bước được hoàn thiện trong những năm gần đây, đặc biệt, thông qua việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật. Bài viết phân tích khuôn khổ pháp lý hiện hành về bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc, đánh giá những điểm tiến bộ, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhân chứng.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á tiêu biểu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả và ổn định trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích cấu trúc tổ chức, quyền hạn, phân bổ ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp chính quyền tại Nhật Bản, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.

Theo dõi chúng tôi trên: