Thứ sáu 13/03/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhìn lại một số quy định về người đại diện của đương sự theo pháp luật Việt Nam

Bài viết chỉ ra một số điểm chưa tương thích trong quy định về người đại diện của đương sự theo pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về một số nội dung liên quan đến vấn đề này.


Chế định đại diện đã bước đầu được quy định một cách khái quát trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 và ngày càng hoàn thiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011. Tuy nhiên, nhiều quy định về đại diện của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 vẫn chưa đầy đủ, nhiều quy định còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng, nhiều vấn đề cấp thiết chưa được luật hóa. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành đã khắc phục nhiều điểm chưa hợp lý về người đại diện trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, đảm bảo tốt hơn sự tương thích giữa pháp luật tố tụng dân sự với pháp luật nội dung nhưng vẫn còn có những tồn tại cần nghiên cứu để hoàn thiện.

1. Khó khăn khi xác định người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người chưa thành niên

Theo Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cha, mẹ là đại diện theo pháp luật đối với con chưa thành niên. Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu. Quy định của Bộ luật Dân sự có nghĩa cha, mẹ đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người giám hộ cho con mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tuy nhiên, nếu áp dụng các quy định này trong tố tụng dân sự sẽ dẫn đến rắc rối khi xác định người đại diện trong tố tụng dân sự là cả cha và mẹ hay chỉ là cha hoặc mẹ. Trong trường hợp, cha, mẹ không thống nhất được việc cử ai là người đại diện theo pháp luật thì cha hay mẹ sẽ là người đại diện theo pháp luật cho con tham gia tố tụng. Trong trường hợp cha hoặc mẹ đã tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho con thì Tòa án có phải triệu tập đương sự tham gia tố tụng hay không? Việc xác định tư cách người đại diện trong tố tụng có những đặc thù riêng mà nếu dẫn chiếu theo pháp luật dân sự sẽ dẫn đến những vướng mắc cần phải được làm rõ.

Theo chúng tôi, nếu xác định cả cha, mẹ của người chưa thành niên, người con mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự là không cần thiết và phức tạp hơn quá trình tố tụng. Bởi mục đích của việc tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự là thay mặt đương sự trong tố tụng dân sự. Trong trường hợp người con không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì lời khai, ý kiến của cha, mẹ về việc giải quyết vụ việc dân sự phải thống nhất, không mâu thuẫn. Do đó, cha, mẹ cần thống nhất về việc xác định một người đại diện cho con tham gia tố tụng và Tòa án chỉ triệu tập người đó tham gia tố tụng. Trong trường hợp cha hoặc mẹ đã tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho con thì Tòa án không cần thiết phải triệu tập đương sự tham gia tố tụng để hỏi ý kiến họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tuy nhiên, người chưa thành niên có được xác định là bị đơn trong vụ án mà họ là người gây thiệt hại hay không là những vấn đề còn vướng mắc giữa quy định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật dân sự. Trước đây, Điều 3 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hướng dẫn: Khi thực hiện quy định tại Điều 606 Bộ luật Dân sự về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cần phải chú ý xác định đúng tư cách đương sự trong từng trường hợp, cụ thể như sau:

- Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 606 Bộ luật Dân sự thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự, trừ khi họ mất năng lực hành vi dân sự;

- Trong trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 606 Bộ luật Dân sự thì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự;

- Trong trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 Bộ luật Dân sự thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự và cha, mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 606 Bộ luật Dân sự thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự.

Cho đến nay, chưa có hướng dẫn mới của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề này nên thực tiễn vẫn xác định người chưa thành niên trong trường hợp này là người gây thiệt hại. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không có quy định về tư cách của người gây thiệt hại. Chúng tôi cho rằng, mặc dù đưa cha hoặc mẹ của người gây thiệt hại chưa thành niên vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự, song nhiều trường hợp Tòa án vẫn cần triệu tập người chưa thành niên để xác định hành vi gây thiệt hại, lỗi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Do đó, để đảm bảo sự tương thích với quy định của pháp luật dân sự thì pháp luật tố tụng dân sự cần bổ sung một “loại” đương sự đặc thù trong các vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người gây thiệt hại, đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng của “loại” chủ thể này.

2. Quy định về phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện ủy quyền trong pháp luật tố tụng dân sự chưa thật sự tương thích với quy định của pháp luật dân sự

Các quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự bao gồm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Đặc trưng của quan hệ nhân thân là quan hệ không được chuyển giao. Do đó, về nguyên tắc đối với các tranh chấp về quyền nhân thân thì các đương sự không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Trên cơ sở đó, khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, thế nào là việc ly hôn còn có các cách hiểu khác nhau:

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, việc ly hôn là tất cả các loại việc liên quan đến hôn nhân và gia đình theo Điều 27 và 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đều không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng.

Cách hiểu thứ hai cho rằng, việc ly hôn là các loại việc về ly hôn, thuận tình ly hôn, hủy kết hôn trái pháp luật, yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.

Cách hiểu thứ ba cho rằng, việc ly hôn chỉ là vụ án về ly hôn.

Theo chúng tôi, việc xác định về phạm vi những vụ việc dân sự được ủy quyền trong tố tụng dân sự cần phải căn cứ vào bản chất của quan hệ dân sự. Đối với các tranh chấp, yêu cầu dân sự mà là các tranh chấp, yêu cầu liên quan đến tài sản thì đặc trưng của quan hệ tài sản (kể cả là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân) là quan hệ có thể được chuyển giao nên các đương sự được quyền tự do ủy quyền. Đối với tranh chấp về quan hệ nhân thân là quan hệ không được chuyển giao nên đương sự, người đại diện của đương sự phải tự mình tham gia tố tụng mà không được ủy quyền. Do đó, có thể thấy quy định về phạm vi ủy quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vừa không rõ ràng, vừa thiếu, vừa thừa.

Căn cứ vào các lập luận trên, theo chúng tôi cần sửa khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: Đối với các tranh chấp, yêu cầu về quyền nhân thân đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

3. Quy định về người đại diện do Tòa án chỉ định trong pháp luật dân sự không tương thích với quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Đối với trường hợp đương sự là người vắng mặt, không tin tức thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định về việc chỉ định người đại diện cho đối tượng này. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mới chỉ quy định về chỉ định người đại diện cho cá nhân, chỉ định đại diện đối với vụ việc lao động và mà chưa quy định về chỉ định người đại diện đối với pháp nhân trong các vụ việc dân sự nói chung. Do đó, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án là đại diện theo pháp luật của pháp nhân không tương thích với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn để lựa chọn người đại diện theo chỉ định. Về thẩm quyền chỉ định người đại diện cũng là vấn đề cần được quy định cụ thể hơn, hiện nay trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn chỉ dừng lại ở việc quy định thẩm quyền chỉ định người đại diện cho đương sự là Tòa án[1] mà không chỉ rõ thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự hay Hội đồng xét xử mới được chỉ định người đại diện?

Do đó, cần quy định rõ thẩm quyền chỉ định đại diện, trình tự, thủ tục, cách thức chỉ định người đại diện cho đương sự.

4. Quy định về hình thức ủy quyền trong pháp luật tố tụng dân sự chưa thật sự tương thích với quy định của pháp luật dân sự

Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự cũng cho thấy vấn đề xác định tính hợp pháp về hình thức của đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền đứng đơn khởi kiện còn chưa thống nhất trong áp dụng pháp luật. Ví dụ như, theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản thân quy định này đã trao cho người đại diện hợp pháp quyền khởi kiện. Từ quy định này cho thấy việc người đại diện theo ủy quyền ký vào đơn khởi kiện là hoàn toàn hợp pháp và không có lý do để cho rằng không thể hiện ý chí và nguyện vọng của người khởi kiện. Tuy nhiên, quy định này lại trái với Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bởi Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định ở phần cuối đơn, cá nhân (đương sự) đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Chúng tôi cho rằng, quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là chưa thực sự tôn trọng quyền tự do, tự nguyện, cam kết thỏa thuận của cá nhân, pháp nhân và trái với Điều 85, 186 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó cần sửa Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng người đại diện theo ủy quyền có quyền ký đơn khởi kiện vụ án dân sự.

Bên cạnh đó, vấn đề về văn bản ủy quyền (Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự) cũng chưa có quy định thống nhất là giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền nên thời gian qua, việc sử dụng các văn bản ủy quyền của người đại diện trong tố tụng dân sự cũng gặp nhiều vướng mắc. Có cơ quan tố tụng chấp nhận cả hai hình thức trên vì cho rằng nó thay thế nhau, không trái quy định của pháp luật, nhưng cũng có cơ quan tố tụng chỉ chấp nhận giấy ủy quyền mà không chấp nhận hợp đồng ủy quyền... Thậm chí, khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 quy định việc ủy quyền được hướng dẫn tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của thẩm phán hoặc cán bộ Tòa án được Chánh án Tòa án phân công. Vì vậy, để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự cần quy định cụ thể về hình thức ủy quyền.

Ngoài ra, thực tiễn giải quyết các tranh chấp, yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thời gian qua cũng cho thấy người đại diện còn rất “lúng túng” trong việc tham gia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Tình trạng các Tòa án sai lầm trong xác định tư cách tố tụng của người đại diện của đương sự hay không thực hiện đúng các quy định về người đại diện của đương sự... dẫn đến hậu quả quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; bản án, quyết định của Tòa án bị hủy làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án vẫn tồn tại trên thực tế.

ThS. Bùi Thị Hà

Học viện Tư pháp





[1]. Điều 88. Chỉ định người đại diện trong tố tụng dân sự

(1). Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.

(2). Đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: