Thứ sáu 13/03/2026 16:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những bất cập của pháp luật cạnh tranh và hướng hoàn thiện

Hiện nay, khi Nhà nước vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, các chủ thể kinh doanh đã đẩy mạnh sự cạnh tranh để tăng cường tiềm lực kinh tế nhằm đứng vững trên thị trường với nhiều đối thủ.

Theo đó, có những hành vi cạnh tranh đã thúc đẩy được nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên cũng có những hành vi cạnh tranh gây bất ổn định, ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế. Vì vậy, các văn bản pháp luật cạnh tranh ra đời nhằm điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong một khuôn khổ nhất định, vừa đảm bảo lợi ích của chính các chủ thể kinh doanh vừa bảo vệ lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội. Bên cạnh việc phát huy và đem lại hiệu quả tích cực trong việc điều chỉnh hành vi cạnh tranh, các văn bản pháp luật cạnh tranh ra đời đã có vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống những hành vi vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế áp dụng các văn bản pháp luật này còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa mang lại hiệu quả cao. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số bất cập và nêu ra hướng hoàn thiện quy định của pháp luật cạnh tranh nhằm nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của pháp luật cạnh tranh.

1. Miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm

Pháp luật quy định: “Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang có nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản”[1] có thể được xem xét hưởng quyền miễn trừ mà không bị xử lý về hành vi tập trung kinh tế bị cấm. Quy định này nhằm mục đích giảm thiểu việc xoá sổ và gánh nặng mà các chủ thể kinh doanh có nguy cơ bị giải thể hoặc phá sản mang lại cho nền kinh tế, đồng thời giúp duy trì ổn định môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định: “Doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải thể là doanh nghiệp thuộc trường hợp giải thể theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của doanh nghiệp...”[2]. Tính không hợp lý của pháp luật thể hiện ở chỗ, doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải thể được quy định thuộc một trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất - Giải thể theo quy định của pháp luật; Trường hợp thứ hai - Giải thể theo Điều lệ của doanh nghiệp. Trường hợp thứ nhất việc giải thể doanh nghiệp theo quy định của pháp luật được xem là trường hợp giải thể do yếu tố khách quan không phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp thì việc mong muốn tiếp tục kế thừa để tiếp tục phát huy những thành tựu kinh doanh khi tập trung kinh tế xứng đáng được hưởng quyền miễn trừ. Thế nhưng pháp luật quy định miễn trừ khi tập trung kinh tế đối với trường hợp thứ hai dễ bị các doanh nghiệp lạm dụng làm mất đi ý nghĩa thật sự của quyền miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm vì việc giải thể theo Điều lệ doanh nghiệp là việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp mà không chịu sự tác động của bất kỳ yếu tố khách quan nào. Từ đó, doanh nghiệp muốn được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, có thể dựa vào những quy định vừa nêu trên để thực hiện hành vi tập trung kinh tế theo toan tính và lợi ích của mình, thậm chí làm nguy hại môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội.

Vì vậy theo tôi, nên bỏ quy định doanh nghiệp bị giải thể theo Điều lệ được hưởng quyền miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm.

2. Tính hợp lý của quy định về các hình thức xử phạt bổ sung

“Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm”[3] được quy định là một trong những biện pháp xử phạt bổ sung để xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh là không hợp lý. Tính không hợp lý này thể hiện ở hai khía cạnh:

- Quy định tịch thu khoản lợi nhuận không chính đáng là hợp lý, tuy nhiên nó không phản ánh đúng tinh thần của biện pháp xử phạt bổ sung tại khoản 2 Điều 117 Luật cạnh tranh. Vì lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm không phải là tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.

- Bản chất của việc xử phạt là hành vi của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng các hậu quả pháp lý bất lợi cho chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể trong bài viết này là vi phạm pháp luật về cạnh tranh, chủ thể vi phạm sẽ phải gánh chịu những tổn thất nhất định do hành vi vi phạm mà mình thực hiện. Theo đó, pháp luật quy định các hình thức xử phạt bổ sung như: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh phản ánh đúng bản chất của xử phạt bổ sung là áp dụng những hậu quả bất lợi, gây ảnh hưởng về lợi ích nhất định cho chủ thể vi phạm. Tuy nhiên, việc tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm không phản ánh đúng bản chất của hình thức xử phạt bổ sung vì bản thân khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm không phải là khoản lợi nhuận đáng lẽ chủ thể vi phạm có quyền được hưởng vì nó phát sinh trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm mà có. Vì vậy, việc tịch thu khoản lợi nhuận này không phải là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải gánh chịu.

Do vậy, thiết nghĩ nên tách việc tịch thu khoản lợi nhuận từ hành vi vi phạm thành một biện pháp kèm theo khi áp dụng các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong trường hợp có lợi nhuận phát sinh từ hành vi vi phạm.

3. Xác định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh

Xác định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh tại Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh là không đảm bảo tính thống nhất giữa những quy định của pháp luật.

Pháp luật về cạnh tranh quy định tiền phạt hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh được xác định theo tỷ lệ phần trăm doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào hoặc theo tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm đồng thời căn cứ vào một số yếu tố như: Mức độ gây hạn chế cạnh tranh; mức độ thiệt hại; thời gian, phạm vi thực hiện hành vi vi phạm; lợi nhuận thu được...

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định là trong mọi trường hợp, mức tiền phạt một hành vi vi phạm không được vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với hành vi vi phạm đó[4]. Điều này vô hình chung làm cho quy định tại khoản 5 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 trong một số trường hợp không thể áp dụng: “Đối với mỗi tính tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 85 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, mức tiền phạt được xác định theo Khoản 1 Điều này được điều chỉnh hoặc giảm tương ứng 15%”. Như vậy, khi xác định mức tiền phạt áp dụng cho từng hành vi vi phạm phải tính đến tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng của từng hành vi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi vi phạm tự nguyện khai báo; đã tự nguyện cung cấp chứng cứ, thông tin hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại...[5] thì mức tiền phạt sẽ được điều chỉnh giảm 15%. Ngược lại, nếu chủ thể thực hiện hành vi vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dù có yêu cầu chấm dứt hành vi đó; sau khi thực hiện hành vi vi phạm đã trốn tránh, che dấu vi phạm...[6] thì mức tiền phạt sẽ được điều chỉnh tăng 15%. Như vậy, sẽ có trường hợp xảy ra là khi chưa áp dụng tình tiết tăng nặng mức tiền phạt đã đạt ngưỡng mức tiền phạt tối đa đối với hành vi vi phạm, từ đó không thể áp dụng tình tiết tăng nặng cho hành vi vi phạm.

Vì vậy, quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP cần sửa đổi như sau: “Trong mọi trường hợp, mức tiền phạt đối với mỗi hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh không được vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với hành vi đó được quy định tại Mục 1, Mục 2 và Mục 3 Chương II của Nghị định này, trừ những trường hợp được quy định tại Khoản 5 Điều này”.

4. Các quy định về hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác

Xét đến quy định về hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác. Hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu; hành vi vi phạm các quy định khác liên quan đến quá trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh; hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế trước khi có quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan có thẩm quyền là những hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác được quy định lần lượt tại Điều 37, Điều 38 và Điều 39 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh theo tôi là chưa đủ vì những lẽ sau:

Một vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý dựa vào một trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất - Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý; Trường hợp thứ hai - Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh[7]. Nếu vụ việc cạnh tranh được giải quyết theo quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh thì việc giao nộp chứng cứ là trách nhiệm của các bên liên quan.

Hơn nữa, khoản 1 Điều 77 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh quy định việc giao nộp chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh là nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình điều tra, giải quyết vụ việc cạnh tranh. Tuy được quy định là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nhưng pháp luật về xử lý vụ việc cạnh tranh lại không quy định về hình thức xử lý nếu như các bên liên quan không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình.

Vì vậy, chúng tôi kiến nghị nên đưa việc không giao nộp chứng cứ theo Khoản 1 Điều 77 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP vào phần quy định những hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác để có những chế tài xử lý phù hợp, đảm bảo việc giải quyết vụ việc cạnh tranh có căn cứ pháp lý và hiệu quả hơn.

5. Pháp luật về cạnh tranh cần quy định rõ “Bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”

Điều này vô cùng quan trọng vì việc cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh cần dựa vào hành vi của bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh: “Hết thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 47 của Nghị định này, tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm không tự nguyện thi hành, không khởi kiện ra Toà án theo quy định tại Mục 7 Chương 5 của Luật Cạnh tranh, bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này tổ chức thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó”[8].

Pháp luật về cạnh tranh hiện hành không quy định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm những chủ thể nào. Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, bên được thi hành được ghi nhận là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành[9]. Có thể dựa theo quy định của Luật Thi hành án dân sự mà hiểu rằng bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Thế nhưng trong một số trường hợp, việc xác định cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là không dễ dàng. Như phân tích tại phần thứ tư, một vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý dựa vào một trong hai trường hợp: (1) Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý; (2) Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh. Vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý theo trường hợp thứ (1) thì bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có thể được xác định là bên khiếu nại (tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm[10]), người có quyền và nghĩa vụ liên quan hoặc bên bị điều tra (trong trường hợp người bị điều tra không vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng bị thiệt hại trong quá trình điều tra xử lý đối với chủ thể này thì họ trở thành người được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành) vì các chủ thể này có thể được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành. Vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý theo trường hợp thứ (2) thì vấn đề xác định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là rất khó vì không có người khiếu nại, có thể không có người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bên bị điều tra không thuộc như phân tích ở trường hợp (1) bởi việc xử lý vụ việc cạnh tranh theo trường hợp thứ (2) căn cứ vào dấu hiệu hành vi[11] tức là chủ thể bị điều tra có hành vi vi phạm hay không mà không xét tới hậu quả là có tổ chức, cá nhân nào có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại hay không để từ đó xác định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành. Mặt khác, cơ quan quản lý cạnh tranh không thể là bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh vì cơ quan này tham gia với tư cách người tiến hành tố tụng, nếu kiêm luôn cả bên được yêu cầu thi hành án thì xem ra là “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Vì vậy theo tôi, pháp luật về cạnh tranh cần quy định rõ bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là một hoặc một số các chủ thể sau: Người khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người bị điều tra (trong trường hợp người bị điều tra không vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng bị thiệt hại trong quá trình điều tra xử lý đối với chủ thể này thì họ trở thành người được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành).

Trên đây tôi đã có những phân tích về một số trong nhiều vấn đề còn tồn tại, bất cập ở những quy định của các văn bản pháp luật cạnh tranh cũng như kiến nghị giải pháp để hoàn thiện những quy định đó nhằm góp phần đảm bảo tính hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật cạnh tranh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thông thoáng.

Phạm Thị Hạnh

Trường Đại học Tài chính kế toán Quảng Ngãi

Tài liệu tham khảo:

1. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992, được sửa đổi theo Nghị quyết 38/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội khoá XIII.

2. Luật Cạnh tranh năm 2004.

3. Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

4. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật cạnh tranh.

5. Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

6. http:// www.qlct.gov.vn.

7. http://www.vca.gov.vn.


Xem khoản 1 Điều 19 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Xem khoản 1 Điều 36 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem khoản 6 Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem khoản 1 Điều 85 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Khoản 2 Điều 85 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Điều 86 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Xem khoản 1 Điều 49 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem Khoản 2 Điều 3 Luật thi hành án dân sự 2008.

Xem khoản 1 Điều 58 Luật cạnh tranh 2004

Khoản 2 Điều 86 Luật cạnh tranh 2004.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: