Thứ ba 17/02/2026 03:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những bất cập của pháp luật cạnh tranh và hướng hoàn thiện

Hiện nay, khi Nhà nước vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, các chủ thể kinh doanh đã đẩy mạnh sự cạnh tranh để tăng cường tiềm lực kinh tế nhằm đứng vững trên thị trường với nhiều đối thủ.

Theo đó, có những hành vi cạnh tranh đã thúc đẩy được nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên cũng có những hành vi cạnh tranh gây bất ổn định, ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế. Vì vậy, các văn bản pháp luật cạnh tranh ra đời nhằm điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong một khuôn khổ nhất định, vừa đảm bảo lợi ích của chính các chủ thể kinh doanh vừa bảo vệ lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội. Bên cạnh việc phát huy và đem lại hiệu quả tích cực trong việc điều chỉnh hành vi cạnh tranh, các văn bản pháp luật cạnh tranh ra đời đã có vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống những hành vi vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế áp dụng các văn bản pháp luật này còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa mang lại hiệu quả cao. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số bất cập và nêu ra hướng hoàn thiện quy định của pháp luật cạnh tranh nhằm nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của pháp luật cạnh tranh.

1. Miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm

Pháp luật quy định: “Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang có nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản”[1] có thể được xem xét hưởng quyền miễn trừ mà không bị xử lý về hành vi tập trung kinh tế bị cấm. Quy định này nhằm mục đích giảm thiểu việc xoá sổ và gánh nặng mà các chủ thể kinh doanh có nguy cơ bị giải thể hoặc phá sản mang lại cho nền kinh tế, đồng thời giúp duy trì ổn định môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định: “Doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải thể là doanh nghiệp thuộc trường hợp giải thể theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của doanh nghiệp...”[2]. Tính không hợp lý của pháp luật thể hiện ở chỗ, doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải thể được quy định thuộc một trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất - Giải thể theo quy định của pháp luật; Trường hợp thứ hai - Giải thể theo Điều lệ của doanh nghiệp. Trường hợp thứ nhất việc giải thể doanh nghiệp theo quy định của pháp luật được xem là trường hợp giải thể do yếu tố khách quan không phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp thì việc mong muốn tiếp tục kế thừa để tiếp tục phát huy những thành tựu kinh doanh khi tập trung kinh tế xứng đáng được hưởng quyền miễn trừ. Thế nhưng pháp luật quy định miễn trừ khi tập trung kinh tế đối với trường hợp thứ hai dễ bị các doanh nghiệp lạm dụng làm mất đi ý nghĩa thật sự của quyền miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm vì việc giải thể theo Điều lệ doanh nghiệp là việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp mà không chịu sự tác động của bất kỳ yếu tố khách quan nào. Từ đó, doanh nghiệp muốn được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, có thể dựa vào những quy định vừa nêu trên để thực hiện hành vi tập trung kinh tế theo toan tính và lợi ích của mình, thậm chí làm nguy hại môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội.

Vì vậy theo tôi, nên bỏ quy định doanh nghiệp bị giải thể theo Điều lệ được hưởng quyền miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm.

2. Tính hợp lý của quy định về các hình thức xử phạt bổ sung

“Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm”[3] được quy định là một trong những biện pháp xử phạt bổ sung để xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh là không hợp lý. Tính không hợp lý này thể hiện ở hai khía cạnh:

- Quy định tịch thu khoản lợi nhuận không chính đáng là hợp lý, tuy nhiên nó không phản ánh đúng tinh thần của biện pháp xử phạt bổ sung tại khoản 2 Điều 117 Luật cạnh tranh. Vì lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm không phải là tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.

- Bản chất của việc xử phạt là hành vi của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng các hậu quả pháp lý bất lợi cho chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể trong bài viết này là vi phạm pháp luật về cạnh tranh, chủ thể vi phạm sẽ phải gánh chịu những tổn thất nhất định do hành vi vi phạm mà mình thực hiện. Theo đó, pháp luật quy định các hình thức xử phạt bổ sung như: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh phản ánh đúng bản chất của xử phạt bổ sung là áp dụng những hậu quả bất lợi, gây ảnh hưởng về lợi ích nhất định cho chủ thể vi phạm. Tuy nhiên, việc tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm không phản ánh đúng bản chất của hình thức xử phạt bổ sung vì bản thân khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm không phải là khoản lợi nhuận đáng lẽ chủ thể vi phạm có quyền được hưởng vì nó phát sinh trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm mà có. Vì vậy, việc tịch thu khoản lợi nhuận này không phải là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải gánh chịu.

Do vậy, thiết nghĩ nên tách việc tịch thu khoản lợi nhuận từ hành vi vi phạm thành một biện pháp kèm theo khi áp dụng các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong trường hợp có lợi nhuận phát sinh từ hành vi vi phạm.

3. Xác định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh

Xác định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh tại Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh là không đảm bảo tính thống nhất giữa những quy định của pháp luật.

Pháp luật về cạnh tranh quy định tiền phạt hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh được xác định theo tỷ lệ phần trăm doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào hoặc theo tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm đồng thời căn cứ vào một số yếu tố như: Mức độ gây hạn chế cạnh tranh; mức độ thiệt hại; thời gian, phạm vi thực hiện hành vi vi phạm; lợi nhuận thu được...

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định là trong mọi trường hợp, mức tiền phạt một hành vi vi phạm không được vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với hành vi vi phạm đó[4]. Điều này vô hình chung làm cho quy định tại khoản 5 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 trong một số trường hợp không thể áp dụng: “Đối với mỗi tính tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 85 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, mức tiền phạt được xác định theo Khoản 1 Điều này được điều chỉnh hoặc giảm tương ứng 15%”. Như vậy, khi xác định mức tiền phạt áp dụng cho từng hành vi vi phạm phải tính đến tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng của từng hành vi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi vi phạm tự nguyện khai báo; đã tự nguyện cung cấp chứng cứ, thông tin hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại...[5] thì mức tiền phạt sẽ được điều chỉnh giảm 15%. Ngược lại, nếu chủ thể thực hiện hành vi vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dù có yêu cầu chấm dứt hành vi đó; sau khi thực hiện hành vi vi phạm đã trốn tránh, che dấu vi phạm...[6] thì mức tiền phạt sẽ được điều chỉnh tăng 15%. Như vậy, sẽ có trường hợp xảy ra là khi chưa áp dụng tình tiết tăng nặng mức tiền phạt đã đạt ngưỡng mức tiền phạt tối đa đối với hành vi vi phạm, từ đó không thể áp dụng tình tiết tăng nặng cho hành vi vi phạm.

Vì vậy, quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP cần sửa đổi như sau: “Trong mọi trường hợp, mức tiền phạt đối với mỗi hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh không được vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với hành vi đó được quy định tại Mục 1, Mục 2 và Mục 3 Chương II của Nghị định này, trừ những trường hợp được quy định tại Khoản 5 Điều này”.

4. Các quy định về hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác

Xét đến quy định về hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác. Hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu; hành vi vi phạm các quy định khác liên quan đến quá trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh; hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế trước khi có quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan có thẩm quyền là những hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác được quy định lần lượt tại Điều 37, Điều 38 và Điều 39 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh theo tôi là chưa đủ vì những lẽ sau:

Một vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý dựa vào một trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất - Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý; Trường hợp thứ hai - Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh[7]. Nếu vụ việc cạnh tranh được giải quyết theo quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh thì việc giao nộp chứng cứ là trách nhiệm của các bên liên quan.

Hơn nữa, khoản 1 Điều 77 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh quy định việc giao nộp chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh là nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình điều tra, giải quyết vụ việc cạnh tranh. Tuy được quy định là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nhưng pháp luật về xử lý vụ việc cạnh tranh lại không quy định về hình thức xử lý nếu như các bên liên quan không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình.

Vì vậy, chúng tôi kiến nghị nên đưa việc không giao nộp chứng cứ theo Khoản 1 Điều 77 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP vào phần quy định những hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác để có những chế tài xử lý phù hợp, đảm bảo việc giải quyết vụ việc cạnh tranh có căn cứ pháp lý và hiệu quả hơn.

5. Pháp luật về cạnh tranh cần quy định rõ “Bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”

Điều này vô cùng quan trọng vì việc cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh cần dựa vào hành vi của bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh: “Hết thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 47 của Nghị định này, tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm không tự nguyện thi hành, không khởi kiện ra Toà án theo quy định tại Mục 7 Chương 5 của Luật Cạnh tranh, bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này tổ chức thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó”[8].

Pháp luật về cạnh tranh hiện hành không quy định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm những chủ thể nào. Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, bên được thi hành được ghi nhận là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành[9]. Có thể dựa theo quy định của Luật Thi hành án dân sự mà hiểu rằng bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Thế nhưng trong một số trường hợp, việc xác định cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là không dễ dàng. Như phân tích tại phần thứ tư, một vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý dựa vào một trong hai trường hợp: (1) Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý; (2) Cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh. Vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý theo trường hợp thứ (1) thì bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có thể được xác định là bên khiếu nại (tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm[10]), người có quyền và nghĩa vụ liên quan hoặc bên bị điều tra (trong trường hợp người bị điều tra không vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng bị thiệt hại trong quá trình điều tra xử lý đối với chủ thể này thì họ trở thành người được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành) vì các chủ thể này có thể được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành. Vụ việc cạnh tranh được điều tra và đưa ra xử lý theo trường hợp thứ (2) thì vấn đề xác định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là rất khó vì không có người khiếu nại, có thể không có người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bên bị điều tra không thuộc như phân tích ở trường hợp (1) bởi việc xử lý vụ việc cạnh tranh theo trường hợp thứ (2) căn cứ vào dấu hiệu hành vi[11] tức là chủ thể bị điều tra có hành vi vi phạm hay không mà không xét tới hậu quả là có tổ chức, cá nhân nào có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại hay không để từ đó xác định bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành. Mặt khác, cơ quan quản lý cạnh tranh không thể là bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh vì cơ quan này tham gia với tư cách người tiến hành tố tụng, nếu kiêm luôn cả bên được yêu cầu thi hành án thì xem ra là “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Vì vậy theo tôi, pháp luật về cạnh tranh cần quy định rõ bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là một hoặc một số các chủ thể sau: Người khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người bị điều tra (trong trường hợp người bị điều tra không vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng bị thiệt hại trong quá trình điều tra xử lý đối với chủ thể này thì họ trở thành người được hưởng quyền, lợi ích trong quyết định được thi hành).

Trên đây tôi đã có những phân tích về một số trong nhiều vấn đề còn tồn tại, bất cập ở những quy định của các văn bản pháp luật cạnh tranh cũng như kiến nghị giải pháp để hoàn thiện những quy định đó nhằm góp phần đảm bảo tính hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật cạnh tranh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thông thoáng.

Phạm Thị Hạnh

Trường Đại học Tài chính kế toán Quảng Ngãi

Tài liệu tham khảo:

1. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992, được sửa đổi theo Nghị quyết 38/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội khoá XIII.

2. Luật Cạnh tranh năm 2004.

3. Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

4. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật cạnh tranh.

5. Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

6. http:// www.qlct.gov.vn.

7. http://www.vca.gov.vn.


Xem khoản 1 Điều 19 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Xem khoản 1 Điều 36 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem khoản 6 Điều 4 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem khoản 1 Điều 85 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Khoản 2 Điều 85 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Xem Điều 86 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Xem khoản 1 Điều 49 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Xem Khoản 2 Điều 3 Luật thi hành án dân sự 2008.

Xem khoản 1 Điều 58 Luật cạnh tranh 2004

Khoản 2 Điều 86 Luật cạnh tranh 2004.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: