Thứ năm 11/12/2025 13:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những quan điểm khác nhau về đình chỉ thi hành án dân sự

Thực tiễn thi hành án dân sự có những vụ việc rất khó thi hành, nhiều quan điểm nhìn nhận, đánh giá và vận dụng pháp luật chưa mang tính thống nhất

Thực tiễn thi hành án dân sự có những vụ việc rất khó thi hành, nhiều quan điểm nhìn nhận, đánh giá và vận dụng pháp luật chưa mang tính thống nhất. Trong đó, một phần nguyên nhân là do việc nhận thức điều luật khác nhau của các chủ thể thực thi pháp luật nên cách vận dụng vào thực tiễn thi hành cũng khác nhau, dẫn đến vụ việc xử lý đôi khi bị sai sót mà hậu quả không lường hết được, có khi chấp hành viên phải chịu trách nhiệm bồi thường nhà nước.

Để làm sáng tỏ những vấn đề cần trao đổi, tác giả xin nêu lên tình huống thực tế đã xảy ra. Đó là vụ tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là vợ chồng bà Trịnh Thị S, người được thi hành án của 03 quyết định công nhận hòa giải thành số 02/DSST, số 05/DSST, số 06/DSST ngày 20/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố H với các bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị C với số tiền phải trả là 900 triệu đồng và lãi chậm thi hành án. Đồng thời, bà Trịnh Thị S cũng là người phải thi hành án theo 02 bản án số 11/DSST và số 12/DSST ngày 24/3/2014 với số tiền phải nộp án phí dân sự sơ thẩm của hai bản án là gần 100 triệu đồng.

Quá trình tổ chức thi hành các bản án và quyết định của Tòa án, xác minh thực tế tại địa phương cho thấy: Bà Trịnh Thị S là Giám đốc công ty TNHH X và tại thời điểm xác minh thi hành án thì công ty không còn hoạt động, kinh doanh thua lỗ và không có khả năng trả nợ, bản thân và gia đình bà S cũng không có tài sản, thu nhập gì để đảm bảo thi hành án. Do đó, cơ quan thi hành án đã ra quyết định chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) đối với 02 bản án số 11/DSST và số 12/DSST ngày 24/3/2014 về khoản tiền 100 triệu đồng án phí. Sau đó, đến năm 2016, bà S mới có đơn yêu cầu thi hành đối với 03 quyết định công nhận hòa giải thành số 02/DSST, số 05/DSST và số 06/DSST ngày 20/9/2015. Qua xác minh điều kiện thi hành án thì vợ chồng ông D, bà B, bà C đều có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, đi làm thuê kiếm sống, thu nhập bấp bênh, chỉ đủ lo cuộc sống tối thiểu của gia đình và chỉ có duy nhất một ngôi nhà cấp 4 có giá trị khoảng hơn 100 triệu đồng (chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất). Quá trình giải quyết thi hành án, bà S đã thỏa thuận với vợ chồng ông D, bà B, bà C là không yêu cầu thi hành án và từ bỏ quyền lợi được hưởng và yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Trên thực tế, đã nảy sinh nhiều quan điểm, ý kiến không thống nhất và trái chiều nhau về việc đình chỉ thi hành như sau:

Quan điểm thứ nhất:

Bà Trịnh Thị S là người phải thi hành 02 bản án số 11/DSST và số 12/DSST ngày 24/3/2014 với số tiền phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 100 triệu đồng, đồng thời là người được hưởng quyền lợi trong 03 Quyết định số 02/DSST, số 05/DSST và số 06/DSST ngày 20/9/2015 với số tiền được hưởng 900 triệu đồng và lãi chậm thi hành án. Trường hợp bà S từ bỏ quyền lợi được hưởng của 03 quyết định của Tòa án, trong khi đó lại không còn tài sản để thi hành khoản án phí thì việc yêu cầu đình chỉ thi hành 03 quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba là Nhà nước. Do đó, việc thỏa thuận đình chỉ này là không phù hợp với quy định tại Điều 6, điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự; khoản 3 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

Quan điểm thứ hai:

Việc bà S không yêu cầu thi hành án là ý chí tự nguyện của bà với các bên đương sự, bà S từ bỏ quyền lợi được hưởng theo án tuyên. Hoàn cảnh gia đình của cặp vợ chồng ông D, bà B, bà C thực tế rất khó khăn, không có khả năng trả nợ, chỉ có một ngôi nhà duy nhất, không còn tài sản nào khác để đảm bảo thi hành án. Tài sản đó chưa được Nhà nước cấp giấy chứng quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất nên không thể tiến hành kê biên, xử lý được. Nếu bán đấu giá tài sản sẽ không có người mua vì vướng mắc trong việc hoàn thiện thủ tục pháp lý cho người mua được tài sản bán đấu giá. Dù có kê biên, xử lý được đi nữa thì vấn đề cưỡng chế giao nhà cho người mua trúng đấu giá, cưỡng chế đưa cả gia đình ra khỏi nhà cũng gặp nhiều khó khăn. Do đó, cần tổ chức cuộc họp liên ngành, nếu Viện kiểm sát thống nhất cho rằng không ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba thì ra quyết định đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự là đúng quy định. Còn việc bà S phải thi hành khoản án phí thì xử lý theo hướng chưa có điều kiện thi hành theo điểm a khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự là phù hợp hơn.

Quan điểm thứ ba:

Theo quan điểm thứ nhất là đúng quy định và phù hợp hơn vì áp dụng theo quy định tại Điều 6, điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự; khoản 3 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Như vậy, chúng ta cần xem xét dựa trên các phương diện về cơ sở pháp lý có phù hợp không và thực tế có đúng là việc thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ hay không thì mới xác định được việc đình chỉ thi hành có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba.

Theo tình huống đưa ra, bà S là người được thi hành án với số tiền 900 triệu đồng và người phải thi hành trả cho bà S có tài sản là ngôi nhà cấp 4 với giá trị trên 100 triệu đồng có thể đảm bảo thi hành theo 03 quyết định công nhận hòa giải thành số 02/DSST, số 05/DSST và số 06/DSST ngày 20/9/2015. Mặc dù số tiền này không đủ đảm bảo hết nghĩa vụ dân sự trả cho bà S nhưng cũng có thể đảm bảo một phần đủ để bà S thi hành khoản án phí 100 triệu đồng cho Nhà nước. Trường hợp bà S và vợ chồng ông D, bà B, bà C thỏa thuận đình chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp án phí là không phù hợp, việc thỏa thuận đó là vi phạm điều cấm, ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba (Nhà nước). Còn quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản của những người phải thi hành án chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận về quyền tài sản thì không thể kê biên, xử lý được là chưa phù hợp. Có những vụ việc cũng có thể áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để kê biên, xử lý. Tuy ngôi nhà cấp 4 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chấp hành viên vận dụng Điều 110 Luật Thi hành án dân sự để xử lý sẽ là phù hợp và đúng quy định pháp luật hơn, bảo vệ được quyền lợi cho các bên đương sự và người thứ ba.

Xét thấy điều kiện của người phải thi hành án rất khó khăn thì chấp hành viên cần phải nâng cao kỹ năng thuyết phục vợ chồng ông D, bà B, bà C nộp số tiền 100 triệu đồng đủ để bà S thi hành khoản án phí, phần còn lại thì đình chỉ theo thỏa thuận của các bên đương sự là hiệu quả hơn, vừa giải quyết được 05 quyết định thi hành xong và vừa bảo vệ được quyền lợi cho Nhà nước và các bên đương sự.

Tác giả đồng tình theo quan điểm thứ ba và mong muốn nhận được các ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp, quý độc giả để góp phần tìm ra giải pháp phù hợp nhất, vừa hợp tình, hợp lý, vừa đúng quy định pháp luật tạo sự thống nhất trong cách giải quyết.

ThS. Lê Thị Lanh

Chi cục Thi hành án dân sự TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: