Thứ bảy 08/08/2026 02:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề đặt ra từ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Quốc tịch là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi con người, là mối quan hệ chính trị và pháp lý gắn kết một cá nhân với một Nhà nước có chủ quyền; là cơ sở pháp lý đầu tiên để xác định một cá nhân là công dân của một nước và trên cơ sở đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công

Quốc tịch là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi con người, là mối quan hệ chính trị và pháp lý gắn kết một cá nhân với một Nhà nước có chủ quyền; là cơ sở pháp lý đầu tiên để xác định một cá nhân là công dân của một nước và trên cơ sở đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Luật pháp quốc tế quy định, từng quốc gia sẽ quyết định ai là công dân nước mình theo luật pháp hiện hành của quốc gia đó và phải phù hợp với những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế. Tại Việt Nam, vấn đề công dân và quốc tịch cũng đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp cũng như đạo luật chuyên ngành. Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã xác định “công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Chính vì vậy, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã có những quy định nhằm xác định ai là công dân của nước mình. Theo đó, Điều 11 của Luật quy định về giấy tờ làm căn cứ để chứng minh một người có quốc tịch Việt Nam và Điều 14 quy định căn cứ để xác định người có quốc tịch Việt Nam. Đây là hai quy định có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để xác định một cách chính xác ai là người có quốc tịch Việt Nam.

1. Quy định về giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định một trong các giấy tờ sau đây có giá trị chứng minh người có quốc tịch Việt Nam: (i). Giấy khai sinh; trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ; (ii). Giấy chứng minh nhân dân; (iii). Hộ chiếu Việt Nam; (iv). Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài, quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Căn cứ vào quy định này thì các giấy tờ nêu trên có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam của một cá nhân. Do đó, để chứng minh quốc tịch Việt Nam của mình trong các quan hệ, giao dịch thì họ có thể xuất trình một trong những giấy tờ này.

2. Căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam

Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định người được xác định có quốc tịch Việt Nam, nếu có một trong những căn cứ sau đây:

Thứ nhất, do sinh ra theo quy định tại các Điều 15, 16 và 17 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, cụ thể là:

- Đối với trẻ em sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam: Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 15 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008). Theo đó, đối với trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam và có cha mẹ là công dân Việt Nam thì trẻ em đó đương nhiên có quốc tịch Việt Nam. Đối với những trẻ em sinh ra tại nước ngoài thì trẻ em đó vẫn có quốc tịch Việt Nam ngay cả khi đã được nhận quốc tịch nước ngoài theo nơi sinh hoặc được nhận quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ (trong trường hợp cha mẹ trẻ có thêm quốc tịch khác ngoài quốc tịch Việt Nam).

- Đối với trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam: Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thoả thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thoả thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam (Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008).

- Đối với trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là người không quốc tịch: Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008).

Thứ hai, do được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam. Đây là trường hợp một người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch được Chủ tịch nước quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; người đã mất quốc tịch Việt Nam được Chủ tịch nước cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Thứ ba, căn cứ theo quy định tại các điều 18, 35 và 37 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, đây là những trường hợp xác định quốc tịch đối với trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam (Điều 18); quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 35) và xác định quốc tịch của con nuôi chưa thành niên (Điều 37).

Trên cơ sở những căn cứ nêu trên, việc xác định quốc tịch cho một cá nhân dựa trên cả hai nguyên tắc huyết thống và nơi sinh. Tuy nhiên, nguyên tắc huyết thống là nguyên tắc ưu tiên trong Luật Quốc tịch (phù hợp với luật pháp quốc tế). Nguyên tắc nơi sinh được áp dụng khi không xác định được quốc tịch của một cá nhân theo nguyên tắc huyết thống. Ngoài ra, trong một số trường hợp, Luật Quốc tịch còn cho phép cá nhân có quyền lựa chọn quốc tịch của bản thân (xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam) hoặc quốc tịch của con cái họ (thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con tại thời điểm đăng ký khai sinh khi cha và mẹ không cùng quốc tịch).

3. Mối quan hệ giữa giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam với căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam và vấn đề đặt ra từ quy định về giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Theo Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì những giấy tờ được quy định tại Điều này có giá trị chứng minh một người có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, cần hiểu quy định này theo hướng, những giấy tờ theo quy định tại Điều 11 chỉ có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam của một người, không phải khẳng định người đó có quốc tịch Việt Nam. Về nguyên tắc, quy định này phải đặt trong mối liên hệ với quy định tại Điều 14 (căn cứ xác định có quốc tịch Việt Nam). Bởi lẽ, mỗi loại giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam khi được cấp cho một người sẽ tương ứng với một căn cứ để xác định quốc tịch Việt Nam của người đó. Ví dụ: Nếu căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam là do sinh ra theo quy định tại các Điều 15, 16 và 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì giấy tờ phát sinh đầu tiên và tương ứng để chứng minh người đó có quốc tịch Việt Nam là giấy khai sinh trong đó ghi quốc tịch Việt Nam (trường hợp giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ). Trên cơ sở giấy khai sinh, Cơ quan công an sẽ cấp hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân/căn cước công dân cho người đó... Có thể nói, đây là những giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam phổ biến nhất của công dân Việt Nam. Hoặc, một người nước ngoài sẽ chỉ có quốc tịch Việt Nam nếu họ đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật Quốc tịch và được Chủ tịch nước quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; để chứng minh quốc tịch thì trường hợp này phải xuất trình được quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước.

Triển khai thực hiện những quy định này trên thực tế cũng đã phát sinh những vướng mắc, bất cập nhất định như: Có khá nhiều trường hợp có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam nhưng hiện họ không còn là công dân Việt Nam; hay mặc dù có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam nhưng lại không thuộc một trong những căn cứ được xác định có quốc tịch Việt Nam. Vấn đề này đã gây ra không ít khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước, cũng như ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan.

Một là, do hiện nay pháp luật về quốc tịch chưa có quy định về biện pháp hiệu quả để thu hồi, hủy bỏ hoặc chấm dứt giá trị các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của người đã được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, dẫn đến có những người đã thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn sử dụng chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu Việt Nam… để chứng minh tư cách công dân Việt Nam khi quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam. Thực tế, nhiều trường hợp đã lợi dụng kẽ hở này để sử dụng các giấy tờ đã không còn giá trị pháp lý để thực hiện các giao dịch, gây ra những hệ quả phức tạp cho công tác quản lý nhà nước.

Hai là, do lịch sử để lại, hiện nay có khá nhiều người nước ngoài (chủ yếu là người gốc Campuchia, Trung Quốc, Lào) chưa nhập quốc tịch Việt Nam nhưng họ đã được đăng ký hộ khẩu thường trú và cấp chứng minh nhân cho họ (như công dân Việt Nam). Từ thực tế này, hiện nay, đang có hàng ngàn người nước ngoài sử dụng giấy tờ của công dân Việt Nam để chứng minh quốc tịch Việt Nam (như Giấy chứng minh nhân dân), thậm chí họ đã và đang đứng tên trên các giấy tờ pháp lý khác như công dân Việt Nam (như Giấy phép lái xe, giấy tờ sở hữu nhà, sử dụng đất…); tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về quốc tịch thì những trường hợp này không có quốc tịch Việt Nam (vì họ không thuộc một trong những căn cứ được xác định có quốc tịch Việt Nam). Như vậy, nếu chỉ dựa vào những giấy tờ như chứng minh nhân dân/căn cước công dân thì vô tình đã “hợp thức hóa” quốc tịch Việt Nam cho họ (thay vì phải làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam như theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008).

Ba là, khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con”. Căn cứ quy định này, trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì vào thời điểm đăng ký khai sinh cha mẹ phải có thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con. Trường hợp trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và xác định quốc tịch nước ngoài thì trẻ em đó sẽ không được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và lựa chọn thêm quốc tịch Việt Nam cho con nữa. Tuy nhiên, hiện nay một số Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài vẫn thực hiện ghi chú vào Sổ hộ tịch việc đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, đồng thời, bổ sung quốc tịch Việt Nam cho những trẻ em là con lai. Trong số những trẻ em này, có trẻ đã được bố/mẹ đưa về Việt Nam sinh sống và mang bản trích lục khai sinh (trong đó có ghi quốc tịch Việt Nam của trẻ) đến cơ quan công an địa phương để làm thủ tục đăng ký thường trú cho con.

Bên cạnh đó, do pháp luật hiện nay lồng ghép việc xác định quốc tịch Việt Nam cho cá nhân với thủ tục đăng ký khai sinh (bao gồm đăng ký khai sinh trẻ mới sinh, đăng ký khai sinh quá hạn và đăng ký lại việc sinh), hay cho phép bổ sung quốc tịch trong giấy khai sinh đối với những biểu mẫu giấy khai sinh và sổ khai sinh không có mục ghi về quốc tịch nên đã dẫn đến những trường hợp công chức tư pháp - hộ tịch do không nắm chắc quy định của pháp luật về quốc tịch đã xác định sai quốc tịch và ghi quốc tịch Việt Nam vào giấy khai sinh cho trẻ; hoặc khi làm thủ tục bổ sung quốc tịch thì không có sự phối hợp với cơ quan công an hay không đề nghị Bộ Tư pháp tra cứu quốc tịch nên đã ghi bổ sung quốc tịch Việt Nam cho người chưa có quốc tịch Việt Nam hoặc đã có quốc tịch Việt Nam nhưng đã thôi quốc tịch Việt Nam. Như vậy, những trường hợp này có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (giấy khai sinh) nhưng cũng không thuộc một trong những căn cứ để được xác định có quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008.

Từ những phân tích nêu trên có thể thấy rằng, không thể thực hiện quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch một cách máy móc (người dân cứ xuất trình những giấy tờ quy định tại điều này là khẳng định họ có quốc tịch Việt Nam), mà việc thực hiện quy định này cần phải có mối liên hệ chặt chẽ với quy định tại Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 nhằm khẳng định một cách chắc chắn rằng người đang sử dụng những giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là được cấp trên cơ sở căn cứ xác định người đó có quốc tịch Việt Nam. Trường hợp có nghi ngờ cần phải phối hợp với các cơ quan có liên quan (đặc biệt là cơ quan công an) để thực hiện việc xác minh. Chỉ có như vậy mới đảm bảo tính chặt chẽ của pháp luật.

4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước liên quan đến giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Thứ nhất, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quốc tịch theo hướng bổ sung quy định nhằm hủy bỏ giá trị của giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (Điều 11) của những người đã được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, cần có cơ chế thông tin giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an để thực hiện việc xóa đăng ký thường trú; thu hồi hộ chiếu Việt Nam, chứng minh nhân dân, căn cước công dân của người đã được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Thứ hai, cần khẩn trương thực hiện việc rà soát, thống kê và có biện pháp xử lý đối với các trường hợp cấp chưa đúng giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam cho người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, bảo đảm việc xác định quốc tịch Việt Nam cho đúng đối tượng; thực hiện nghiêm việc xóa đăng ký thường trú, thu hồi giấy chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân đã cấp cho người đã được thôi quốc tịch Việt Nam.

Thứ ba, quan tâm hơn nữa đến công tác tập huấn chuyên sâu pháp luật về quốc tịch cho công chức tư pháp - hộ tịch; người có trách nhiệm cấp giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008; đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về quốc tịch để người dân nâng cao nhận thức trong việc sử dụng giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.

ThS. Vũ Thị Thảo

ThS. Trần Cẩm An

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Theo dõi chúng tôi trên: