Thứ năm 12/03/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại

Tại hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Học viện Ngân hàng tổ chức ngày 28/10, tại Hà Nội, ông Jonathan Dunn - Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã nhấn mạnh rằng, cần phải có vòng cải cách các ngân hàng lần hai, bao gồm cả việc đóng cửa, thanh lý một số ngân hàng thương mại yếu kém, không tồn tại được để nâng cao sức cạnh tranh của thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Trong nền kinh tế thị trường, tất cả đều chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật cạnh tranh, việc thành lập, phá sản là một quy luật tự nhiên trong kinh doanh. Vì vậy, việc phá sản những ngân hàng yếu kém là một quy luật tất yếu khách quan của xã hội, phù hợp với quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Vậy pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về phá sản ngân hàng thương mại? Trong bài viết này, tác giả nêu lên thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.

Trong thời gian qua, dưới sự tác động của các đợt suy giảm kinh tế trên thế giới, đã đẩy những ngân hàng nhỏ ở Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn. Trong năm 2012, lợi nhuận trung bình của Ngành Ngân hàng giảm gần 50% so với năm 2011[1]. Nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng tăng cao, thậm chí đến mức báo động gây nguy hiểm cho hệ thống tài chính quốc gia, đặc biệt nợ xấu tại một số tổ chức tín dụng ở mức nguy hiểm đến sự tồn tại của tổ chức tín dụng đó[2]. Một loạt các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng đã và đang được tiến hành như tái cấu trúc vốn chủ sở hữu ngân hàng, thực hiện sáp nhập ngân hàng… Tuy vậy, khi các giải pháp nhằm giải cứu ngân hàng thương mại không thành công, vấn đề cho phép phá sản ngân hàng thương mại đã được đặt ra.

1. Thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Cho đến nay, thực tiễn xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại cho thấy, chưa có một vụ phá sản ngân hàng nào được thụ lý giải quyết bởi Tòa án. Điều này xuất phát từ việc Nhà nước đã nhận thức rõ những tác động to lớn của việc phá sản ngân hàng đối với nền kinh tế. Chính vì thế, trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về ngân hàng tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán với việc ưu tiên sử dụng các giải pháp xử lý tiền phá sản đã dần được hình thành. Đến thời điểm hiện tại, có thể sơ lược về các nội dung pháp lý cho việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại như sau:

1.1. Cho vay đặc biệt

Huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, nợ vay chỉ có thể được hoàn trả khi đến hạn nhưng nợ huy động của công chúng phải sẵn sàng hoàn trả khi có yêu cầu của khách hàng dù đã đến hạn hay chưa là những đặc điểm của hoạt động kinh doanh tiền gửi có thể gây ra khủng hoảng tiền mặt cho các tổ chức tín dụng khi có đột biến rút tiền gửi. Để giảm thiểu những tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng xảy ra do một ngân hàng bị mất khả năng thanh toán hoặc do những sự cố nghiêm trọng nào đó làm cho tổ chức tín dụng có thể mất khả năng chi trả của ngân hàng, cần có sự can thiệp kịp thời từ phía ngân hàng trung ương. Cho vay đặc biệt được quy định tại Điều 24 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Điều 151 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tại Việt Nam, lịch sử hoạt động ngân hàng đã chứng kiến một số sự cố gây mất khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, điển hình là sự cố rút tiền hàng loạt của người gửi tại Ngân hàng Á Châu vào tháng 10 năm 2003[3], nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền vào thời điểm đó, thì khả năng sụp đổ một ngân hàng lớn như Ngân hàng Á Châu là có thể xảy ra.

1.2. Kiểm soát đặc biệt

Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các biện pháp quản lý nghiệp vụ đặc biệt để kiểm soát, giám sát trực tiếp tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng, giúp đỡ tổ chức tín dụng và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính trong nền kinh tế. Các biện pháp này được gọi là kiểm soát đặc biệt. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán (khoản 1 Điều 146). Như vậy, kiểm soát đặc biệt là biện pháp xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng bằng biện pháp hành chính khi tổ chức tín dụng do có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả nhằm mục đích hạn chế tới mức thấp nhất sự đổ vỡ của tổ chức tín dụng bị kiểm soát, đồng thời khoanh vùng, hạn chế sự sự lan rộng sang các tổ chức tín dụng khác gây ra những bất ổn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Do là một biện pháp hành chính, nên kiểm soát đặc biệt có tính áp đặt thực hiện các hoạt động hỗ trợ và giúp đỡ ngân hàng phục hồi năng lực tài chính cho tổ chức tín dụng. Đây là bước chuyển tiếp từ quá trình hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng sang quá trình tổ chức tín dụng nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài để tự nó phục hồi, đứng vững trở lại, hoặc giảm bớt thiệt hại mà nó có thể gây ra trước khi chấm dứt hoạt động bằng một thủ tục thanh lý phá sản.

Có thể khẳng định, thủ tục đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại là biện pháp hạn chế phá sản trong giai đoạn tiền phá sản ngân hàng thương mại. Kết thúc kiểm soát đặc biệt có thể làm phát sinh nhiều hệ quả khác nhau, đó là:

- Phục hồi ngân hàng thương mại: Đây là một kết quả lý tưởng mà bản thân ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý mong muốn đạt được nhất khi thực hiện biện pháp kiểm soát đặc biệt. Với hệ quả này, khi kết thúc kiểm soát đặc biệt, ngân hàng thương mại tiếp tục hoạt động như trước đây, giữ nguyên tư cách chủ thể của mình.

- Tổ chức lại ngân hàng thương mại: Hệ quả này xảy ra khi ngân hàng thương mại được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc không đủ mức vốn điều lệ tối thiểu hoặc quản trị, điều hành, hoạt động yếu kém có thể tự nguyện hoặc bị buộc phải sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt có thể được chuyển giao sở hữu, chấm dứt tư cách pháp nhân và toàn bộ quyền, nghĩa vụ chuyển giao cho ngân hàng thương mại khác.

- Giải thể hoặc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại: Hệ quả này chỉ xảy ra khi quá trình kiểm soát đặc biệt không có khả năng xử lý được nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiểm soát đặc biệt và Ngân hàng Nhà nước quyết định thu hồi giấy phép hoạt động (theo khoản 3 Điều 154 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng giải thể trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động) hoặc sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt mà tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản và ngân hàng thương mại đó phải làm đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản (khoản 1 Điều 155 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Trong trường hợp giải quyết phá sản khi đã qua thủ tục kiểm soát đặc biệt, thì tổ chức tín dụng không được áp dụng thủ tục phục hồi nữa mà chuyển sang ngay thủ tục thanh lý đi đến chấm dứt hoàn toàn hoạt động. Điều đó có nghĩa là, khi tổ chức tín dụng không thể phục hồi hoặc được chuyển giao thông qua hoạt động tổ chức lại trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, thì việc chấm dứt sự tồn tại là kết quả tất yếu.

1.3. Vấn đề tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam

Phá sản ngân hàng thương mại là giải pháp cuối cùng, được thực hiện khi những nỗ lực xử lý trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt không được thực thi thành công. Việc giải quyết phá sản ngân hàng thương mại hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản năm 2014. Ngoài các quy định chung áp dụng cho việc giải quyết phá sản các doanh nghiệp nói chung, việc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại được quy định tại Chương VIII (từ Điều 97 đến Điều 104) của Luật Phá sản năm 2014. Trong đó, điều kiện Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải là sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi cũng không thực hiện khi Tòa án giải quyết phá sản ngân hàng (Điều 97 Luật Phá sản năm 2014) bởi tính đặc thù về số lượng chủ nợ và việc xử lý tiền phá sản đã được tiến hành trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, phục hồi khả năng thanh toán. Một số vấn đề chi tiết về xử lý tài sản và bảo toàn tài sản trong mối tương quan giữa quyền lợi của ngân hàng mất khả năng thanh toán, chủ nợ, khách hàng cũng được giải quyết như các quy định về hoàn trả khoản vay đặc biệt (Điều 100); thứ tự phân chia tài sản với ưu tiên cho khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền được trả trước nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm (Điều 101); trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ (Điều 102)…

Ở Việt Nam hiện nay, đã có nhiều quy định được ban hành tạo khuôn khổ pháp lý để xử lý ngân hàng thương mại có nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả. Việc xử lý này sẽ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành theo những giải pháp như cho vay đặc biệt để đáp ứng nhu cầu thanh toán kịp thời của ngân hàng thương mại mà không cần đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Giai đoạn kiểm soát đặc biệt của ngân hàng thương mại có thể xem là giai đoạn xử lý “tiền phá sản” đối với ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn này, các giải pháp xử lý được đưa ra nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, trả ngân hàng thương mại trở về với trạng thái bình thường. Kết thúc giai đoạn này, nếu ngân hàng thương mại không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả thì ngân hàng thương mại đó đã được phục hồi thành công, ngược lại, nếu các giải pháp phục hồi không thành công, ngân hàng thương mại đó được chuyển sang một giai đoạn mới để chính thức áp dụng thủ tục phá sản.

2. Một số nhận xét và kiến nghị

Có thể thấy rằng, không thể hoàn toàn áp dụng luật phá sản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Do đặc tính của các ngân hàng thương mại là những tổ chức có tính đại chúng nên việc giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại cần đảm bảo yêu cầu về sự thận trọng, hạn chế thấp nhất các tác động đến nền kinh tế, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vì vậy việc phá sản ngân hàng thương mại cần có cơ chế đặc thù. Việc xây dựng cơ chế đặc thù không nhất thiết phải thể hiện dưới một hình thức là một văn bản luật phá sản các ngân hàng thương mại hoàn toàn riêng biệt, mà có thể chỉ đơn giản là có các quy định riêng trong pháp luật về phá sản hoặc ngân hàng. Ở Việt Nam không phải là hoàn toàn không có pháp luật về phá sản các ngân hàng thương mại, mà từ lâu Việt Nam đã nhận biết và bước đầu đã ban hành các quy định về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại với nhiều biện pháp lựa chọn để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại. Về cơ bản, các biện pháp này là phù hợp với thông lệ xử lý phá sản ngân hàng ở các nước phát triển.

Tuy đã có khuôn khổ pháp lý cho việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại, nhưng Việt Nam vẫn phải tiếp tục hoàn thiện nhiều nội dung để khuôn khổ pháp lý này đảm bảo được tính công khai, minh bạch và có thể dự báo được. Những nội dung cần hoàn thiện bao gồm:

Một là, cần hệ thống hóa các quy định về phá sản các ngân hàng thương mại trong Luật Các tổ chức tín dụng. Các quy định về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại hiện được quy định rải rác trong các văn bản dưới luật, thiếu tính hệ thống, khó tiếp cận. Vì vậy, cần nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định bằng cách luật hóa (đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng).

Hai là, thiết lập các tiêu chí để phân loại ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán xử lý. Khái niệm tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành là quá rộng, bao gồm ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, các công ty tài chính… Các tổ chức tín dụng khác nhau sẽ có quy mô và mức độ ảnh hưởng đến thị trường khác nhau, nên việc xử lý không thể hoàn toàn giống nhau. Hiện nay, tiêu chí phân loại tổ chức tín dụng để xử lý vẫn chưa rõ ràng, mà việc quyết định hình thức xử lý như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước).

Ba là, cần quy định rõ các các bước xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại và sự lựa chọn các bước. Pháp luật hiện hành quy định nhiều hình thức xử lý như cho vay đặc biệt, kiểm soát đặt biệt, sáp nhập, mua lại, giải thể, phá sản… Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn phương thức xử lý không được quy định rõ ràng.

Bốn là, có cơ chế giám sát và quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan quản lý và thành viên ban kiểm soát đặc biệt. Trong quá trình xử lý ngân hàng thương mại bị mất khả năng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt ngân hàng thương mại vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và cử ban kiểm soát đặc biệt. Các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của ban kiểm soát đặc biệt cho thấy, ban kiểm soát đã được trao quyền đặc biệt, có quyền can thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động quản lý kinh doanh của ngân hàng thương mại bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Thực chất của việc kiểm soát đặc biệt là tạm thời tước quyền điều hành tổ chức tín dụng của người quản lý và điều hành ngân hàng. Trong bối cảnh Việt Nam còn thiếu những chuyên gia quản trị về ngân hàng, thì cần bổ sung các quy định về giám sát hoạt động của các thành viên ban kiểm soát và đảm bảo quyền khiếu nại đối các hành động gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại của các thành viên ban kiểm soát.

Có thể thấy rằng, không phải đến khi Luật Phá sản năm 2014 ra đời thì Việt Nam mới có quy định về phá sản tổ chức tín dụng áp dụng cho ngân hàng, mà do tính chất đặc biệt của các ngân hàng thương mại, thì từ trước đó Việt Nam đã ban hành các quy định về cho vay đặc biệt, kiểm soát đặc biệt, hình thành công cụ xử lý hữu hiệu cho các các ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán. Cho đến nay, Việt Nam đã hình thành được khuôn khổ pháp lý cơ bản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Dưới sức ép từ thị trường, trong bối cảnh hệ thống các ngân hàng thương mại ngày càng phát triển về số lượng và mức độ cạnh tranh cao đã làm không ít các ngân hàng thương mại gặp phải những khó khăn trong quá trình hoạt động, do vậy, việc phá sản ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể xảy ra và khi đó chỉ có một hệ thống pháp luật về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại hữu hiệu mới có thể đạt được mục tiêu “phá sản các tổ chức tín dụng được tiến hành thận trọng, xử lý được các khoản nợ của người gửi tiền, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và kinh tế - xã hội của đất nước”[4].

TS. Dương Kim Thế Nguyên
Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[2]. Số liệu nợ xấu theo một báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 9/2012, nếu tính cả những khoản nợ được tái cơ cấu là 17,21%. Như vậy, nợ xấu hiện nay có thể lên tới 20% tổng dư nợ, nếu những khoản nợ được tái cơ cấu không thể phục hồi. Điều này có nghĩa, nợ xấu của Việt Nam đã lên tới 540.000 tỷ đồng (27 tỷ USD), tương đương với khoảng 20% trên GDP. Dẫn theo Hà Tâm (2013), Xử lý nợ xấu bằng tài sản đảm bảo, có tại http://baodautu.vn/news/vn/ngan-hang/xu-ly-no-xau-bang-tai-san-dam-bao.html, (truy cập lần cuối ngày 12/10/2015).

[3]. Vụ ngân hàng Á Châu tác động đến thị trường tài chính: Cảnh báo lớn từ tin đồn nhỏ.2)

[4]. Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 19-TB/TW ngày 01/9/2005 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: