Thứ bảy 15/08/2026 14:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại

Tại hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Học viện Ngân hàng tổ chức ngày 28/10, tại Hà Nội, ông Jonathan Dunn - Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã nhấn mạnh rằng, cần phải có vòng cải cách các ngân hàng lần hai, bao gồm cả việc đóng cửa, thanh lý một số ngân hàng thương mại yếu kém, không tồn tại được để nâng cao sức cạnh tranh của thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Trong nền kinh tế thị trường, tất cả đều chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật cạnh tranh, việc thành lập, phá sản là một quy luật tự nhiên trong kinh doanh. Vì vậy, việc phá sản những ngân hàng yếu kém là một quy luật tất yếu khách quan của xã hội, phù hợp với quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Vậy pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về phá sản ngân hàng thương mại? Trong bài viết này, tác giả nêu lên thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.

Trong thời gian qua, dưới sự tác động của các đợt suy giảm kinh tế trên thế giới, đã đẩy những ngân hàng nhỏ ở Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn. Trong năm 2012, lợi nhuận trung bình của Ngành Ngân hàng giảm gần 50% so với năm 2011[1]. Nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng tăng cao, thậm chí đến mức báo động gây nguy hiểm cho hệ thống tài chính quốc gia, đặc biệt nợ xấu tại một số tổ chức tín dụng ở mức nguy hiểm đến sự tồn tại của tổ chức tín dụng đó[2]. Một loạt các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng đã và đang được tiến hành như tái cấu trúc vốn chủ sở hữu ngân hàng, thực hiện sáp nhập ngân hàng… Tuy vậy, khi các giải pháp nhằm giải cứu ngân hàng thương mại không thành công, vấn đề cho phép phá sản ngân hàng thương mại đã được đặt ra.

1. Thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Cho đến nay, thực tiễn xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại cho thấy, chưa có một vụ phá sản ngân hàng nào được thụ lý giải quyết bởi Tòa án. Điều này xuất phát từ việc Nhà nước đã nhận thức rõ những tác động to lớn của việc phá sản ngân hàng đối với nền kinh tế. Chính vì thế, trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về ngân hàng tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán với việc ưu tiên sử dụng các giải pháp xử lý tiền phá sản đã dần được hình thành. Đến thời điểm hiện tại, có thể sơ lược về các nội dung pháp lý cho việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại như sau:

1.1. Cho vay đặc biệt

Huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, nợ vay chỉ có thể được hoàn trả khi đến hạn nhưng nợ huy động của công chúng phải sẵn sàng hoàn trả khi có yêu cầu của khách hàng dù đã đến hạn hay chưa là những đặc điểm của hoạt động kinh doanh tiền gửi có thể gây ra khủng hoảng tiền mặt cho các tổ chức tín dụng khi có đột biến rút tiền gửi. Để giảm thiểu những tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng xảy ra do một ngân hàng bị mất khả năng thanh toán hoặc do những sự cố nghiêm trọng nào đó làm cho tổ chức tín dụng có thể mất khả năng chi trả của ngân hàng, cần có sự can thiệp kịp thời từ phía ngân hàng trung ương. Cho vay đặc biệt được quy định tại Điều 24 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Điều 151 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tại Việt Nam, lịch sử hoạt động ngân hàng đã chứng kiến một số sự cố gây mất khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, điển hình là sự cố rút tiền hàng loạt của người gửi tại Ngân hàng Á Châu vào tháng 10 năm 2003[3], nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền vào thời điểm đó, thì khả năng sụp đổ một ngân hàng lớn như Ngân hàng Á Châu là có thể xảy ra.

1.2. Kiểm soát đặc biệt

Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các biện pháp quản lý nghiệp vụ đặc biệt để kiểm soát, giám sát trực tiếp tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng, giúp đỡ tổ chức tín dụng và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính trong nền kinh tế. Các biện pháp này được gọi là kiểm soát đặc biệt. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán (khoản 1 Điều 146). Như vậy, kiểm soát đặc biệt là biện pháp xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng bằng biện pháp hành chính khi tổ chức tín dụng do có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả nhằm mục đích hạn chế tới mức thấp nhất sự đổ vỡ của tổ chức tín dụng bị kiểm soát, đồng thời khoanh vùng, hạn chế sự sự lan rộng sang các tổ chức tín dụng khác gây ra những bất ổn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Do là một biện pháp hành chính, nên kiểm soát đặc biệt có tính áp đặt thực hiện các hoạt động hỗ trợ và giúp đỡ ngân hàng phục hồi năng lực tài chính cho tổ chức tín dụng. Đây là bước chuyển tiếp từ quá trình hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng sang quá trình tổ chức tín dụng nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài để tự nó phục hồi, đứng vững trở lại, hoặc giảm bớt thiệt hại mà nó có thể gây ra trước khi chấm dứt hoạt động bằng một thủ tục thanh lý phá sản.

Có thể khẳng định, thủ tục đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại là biện pháp hạn chế phá sản trong giai đoạn tiền phá sản ngân hàng thương mại. Kết thúc kiểm soát đặc biệt có thể làm phát sinh nhiều hệ quả khác nhau, đó là:

- Phục hồi ngân hàng thương mại: Đây là một kết quả lý tưởng mà bản thân ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý mong muốn đạt được nhất khi thực hiện biện pháp kiểm soát đặc biệt. Với hệ quả này, khi kết thúc kiểm soát đặc biệt, ngân hàng thương mại tiếp tục hoạt động như trước đây, giữ nguyên tư cách chủ thể của mình.

- Tổ chức lại ngân hàng thương mại: Hệ quả này xảy ra khi ngân hàng thương mại được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc không đủ mức vốn điều lệ tối thiểu hoặc quản trị, điều hành, hoạt động yếu kém có thể tự nguyện hoặc bị buộc phải sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt có thể được chuyển giao sở hữu, chấm dứt tư cách pháp nhân và toàn bộ quyền, nghĩa vụ chuyển giao cho ngân hàng thương mại khác.

- Giải thể hoặc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại: Hệ quả này chỉ xảy ra khi quá trình kiểm soát đặc biệt không có khả năng xử lý được nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiểm soát đặc biệt và Ngân hàng Nhà nước quyết định thu hồi giấy phép hoạt động (theo khoản 3 Điều 154 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng giải thể trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động) hoặc sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt mà tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản và ngân hàng thương mại đó phải làm đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản (khoản 1 Điều 155 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Trong trường hợp giải quyết phá sản khi đã qua thủ tục kiểm soát đặc biệt, thì tổ chức tín dụng không được áp dụng thủ tục phục hồi nữa mà chuyển sang ngay thủ tục thanh lý đi đến chấm dứt hoàn toàn hoạt động. Điều đó có nghĩa là, khi tổ chức tín dụng không thể phục hồi hoặc được chuyển giao thông qua hoạt động tổ chức lại trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, thì việc chấm dứt sự tồn tại là kết quả tất yếu.

1.3. Vấn đề tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam

Phá sản ngân hàng thương mại là giải pháp cuối cùng, được thực hiện khi những nỗ lực xử lý trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt không được thực thi thành công. Việc giải quyết phá sản ngân hàng thương mại hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản năm 2014. Ngoài các quy định chung áp dụng cho việc giải quyết phá sản các doanh nghiệp nói chung, việc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại được quy định tại Chương VIII (từ Điều 97 đến Điều 104) của Luật Phá sản năm 2014. Trong đó, điều kiện Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải là sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi cũng không thực hiện khi Tòa án giải quyết phá sản ngân hàng (Điều 97 Luật Phá sản năm 2014) bởi tính đặc thù về số lượng chủ nợ và việc xử lý tiền phá sản đã được tiến hành trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, phục hồi khả năng thanh toán. Một số vấn đề chi tiết về xử lý tài sản và bảo toàn tài sản trong mối tương quan giữa quyền lợi của ngân hàng mất khả năng thanh toán, chủ nợ, khách hàng cũng được giải quyết như các quy định về hoàn trả khoản vay đặc biệt (Điều 100); thứ tự phân chia tài sản với ưu tiên cho khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền được trả trước nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm (Điều 101); trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ (Điều 102)…

Ở Việt Nam hiện nay, đã có nhiều quy định được ban hành tạo khuôn khổ pháp lý để xử lý ngân hàng thương mại có nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả. Việc xử lý này sẽ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành theo những giải pháp như cho vay đặc biệt để đáp ứng nhu cầu thanh toán kịp thời của ngân hàng thương mại mà không cần đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Giai đoạn kiểm soát đặc biệt của ngân hàng thương mại có thể xem là giai đoạn xử lý “tiền phá sản” đối với ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn này, các giải pháp xử lý được đưa ra nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, trả ngân hàng thương mại trở về với trạng thái bình thường. Kết thúc giai đoạn này, nếu ngân hàng thương mại không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả thì ngân hàng thương mại đó đã được phục hồi thành công, ngược lại, nếu các giải pháp phục hồi không thành công, ngân hàng thương mại đó được chuyển sang một giai đoạn mới để chính thức áp dụng thủ tục phá sản.

2. Một số nhận xét và kiến nghị

Có thể thấy rằng, không thể hoàn toàn áp dụng luật phá sản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Do đặc tính của các ngân hàng thương mại là những tổ chức có tính đại chúng nên việc giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại cần đảm bảo yêu cầu về sự thận trọng, hạn chế thấp nhất các tác động đến nền kinh tế, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vì vậy việc phá sản ngân hàng thương mại cần có cơ chế đặc thù. Việc xây dựng cơ chế đặc thù không nhất thiết phải thể hiện dưới một hình thức là một văn bản luật phá sản các ngân hàng thương mại hoàn toàn riêng biệt, mà có thể chỉ đơn giản là có các quy định riêng trong pháp luật về phá sản hoặc ngân hàng. Ở Việt Nam không phải là hoàn toàn không có pháp luật về phá sản các ngân hàng thương mại, mà từ lâu Việt Nam đã nhận biết và bước đầu đã ban hành các quy định về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại với nhiều biện pháp lựa chọn để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại. Về cơ bản, các biện pháp này là phù hợp với thông lệ xử lý phá sản ngân hàng ở các nước phát triển.

Tuy đã có khuôn khổ pháp lý cho việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại, nhưng Việt Nam vẫn phải tiếp tục hoàn thiện nhiều nội dung để khuôn khổ pháp lý này đảm bảo được tính công khai, minh bạch và có thể dự báo được. Những nội dung cần hoàn thiện bao gồm:

Một là, cần hệ thống hóa các quy định về phá sản các ngân hàng thương mại trong Luật Các tổ chức tín dụng. Các quy định về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại hiện được quy định rải rác trong các văn bản dưới luật, thiếu tính hệ thống, khó tiếp cận. Vì vậy, cần nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định bằng cách luật hóa (đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng).

Hai là, thiết lập các tiêu chí để phân loại ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán xử lý. Khái niệm tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành là quá rộng, bao gồm ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, các công ty tài chính… Các tổ chức tín dụng khác nhau sẽ có quy mô và mức độ ảnh hưởng đến thị trường khác nhau, nên việc xử lý không thể hoàn toàn giống nhau. Hiện nay, tiêu chí phân loại tổ chức tín dụng để xử lý vẫn chưa rõ ràng, mà việc quyết định hình thức xử lý như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước).

Ba là, cần quy định rõ các các bước xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại và sự lựa chọn các bước. Pháp luật hiện hành quy định nhiều hình thức xử lý như cho vay đặc biệt, kiểm soát đặt biệt, sáp nhập, mua lại, giải thể, phá sản… Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn phương thức xử lý không được quy định rõ ràng.

Bốn là, có cơ chế giám sát và quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan quản lý và thành viên ban kiểm soát đặc biệt. Trong quá trình xử lý ngân hàng thương mại bị mất khả năng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt ngân hàng thương mại vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và cử ban kiểm soát đặc biệt. Các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của ban kiểm soát đặc biệt cho thấy, ban kiểm soát đã được trao quyền đặc biệt, có quyền can thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động quản lý kinh doanh của ngân hàng thương mại bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Thực chất của việc kiểm soát đặc biệt là tạm thời tước quyền điều hành tổ chức tín dụng của người quản lý và điều hành ngân hàng. Trong bối cảnh Việt Nam còn thiếu những chuyên gia quản trị về ngân hàng, thì cần bổ sung các quy định về giám sát hoạt động của các thành viên ban kiểm soát và đảm bảo quyền khiếu nại đối các hành động gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại của các thành viên ban kiểm soát.

Có thể thấy rằng, không phải đến khi Luật Phá sản năm 2014 ra đời thì Việt Nam mới có quy định về phá sản tổ chức tín dụng áp dụng cho ngân hàng, mà do tính chất đặc biệt của các ngân hàng thương mại, thì từ trước đó Việt Nam đã ban hành các quy định về cho vay đặc biệt, kiểm soát đặc biệt, hình thành công cụ xử lý hữu hiệu cho các các ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán. Cho đến nay, Việt Nam đã hình thành được khuôn khổ pháp lý cơ bản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Dưới sức ép từ thị trường, trong bối cảnh hệ thống các ngân hàng thương mại ngày càng phát triển về số lượng và mức độ cạnh tranh cao đã làm không ít các ngân hàng thương mại gặp phải những khó khăn trong quá trình hoạt động, do vậy, việc phá sản ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể xảy ra và khi đó chỉ có một hệ thống pháp luật về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại hữu hiệu mới có thể đạt được mục tiêu “phá sản các tổ chức tín dụng được tiến hành thận trọng, xử lý được các khoản nợ của người gửi tiền, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và kinh tế - xã hội của đất nước”[4].

TS. Dương Kim Thế Nguyên
Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[2]. Số liệu nợ xấu theo một báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 9/2012, nếu tính cả những khoản nợ được tái cơ cấu là 17,21%. Như vậy, nợ xấu hiện nay có thể lên tới 20% tổng dư nợ, nếu những khoản nợ được tái cơ cấu không thể phục hồi. Điều này có nghĩa, nợ xấu của Việt Nam đã lên tới 540.000 tỷ đồng (27 tỷ USD), tương đương với khoảng 20% trên GDP. Dẫn theo Hà Tâm (2013), Xử lý nợ xấu bằng tài sản đảm bảo, có tại http://baodautu.vn/news/vn/ngan-hang/xu-ly-no-xau-bang-tai-san-dam-bao.html, (truy cập lần cuối ngày 12/10/2015).

[3]. Vụ ngân hàng Á Châu tác động đến thị trường tài chính: Cảnh báo lớn từ tin đồn nhỏ.2)

[4]. Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 19-TB/TW ngày 01/9/2005 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: