Thứ ba 13/01/2026 03:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về xóa bỏ lao động trẻ em theo yêu cầu của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hiệp định CPTPP là một hiệp định FTA thế hệ mới có quy định nội dung về lao động, nhưng không đưa ra tiêu chuẩn riêng mà chỉ áp dụng theo các tiêu chuẩn về lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động ILO, thể hiện trong 08 Công ước cơ bản trong đó có nội dung về cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Theo Công ước số 138 và số 182). Thông qua việc so sánh các quy định của pháp luật lao động Việt Nam với các yêu cầu của Hiệp định CPTPP về xóa bỏ lao động trẻ em, tác giả đã phân tích, làm rõ những nội dung phù hợp và chưa phù hợp với yêu cầu của Hiệp định về xóa bỏ lao động trẻ em, từ đó đề xuất một số giai rpháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.


1. Dẫn nhập

Lao động trẻ em (LĐTE) là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các quốc gia tiến bộ trên toàn thế giới. Trẻ em là những công dân đặc biệt của xã hội, đối tượng cần được Nhà nước và xã hội dành sự ưu tiên và tạo môi trường lành mạnh để phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, song trên thực tế, tình trạng lạm dụng LĐTE vẫn diễn ra phổ biến[1], để lại những hậu quả và hệ lụy hết sức nghiêm trọng, tước bỏ của các em cơ hội được phát triển tối đa tiềm năng của mình, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thể chất và tinh thần của các em, tác động xấu đến sự phát triển bền vững của xã hội, tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc.

Nhằm mục đích bảo vệ trẻ em, Liên Hợp Quốc (LHQ) với tư cách là tổ chức quốc tế lớn nhất toàn cầu đã thông qua Công ước về Quyền trẻ em năm 1989, đồng thời, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu năm 1973 (Công ước số 138) và Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất năm 1999 (Công ước số 182). Đây chính là những văn kiện pháp lý quan trọng, làm cơ sở cho việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, phòng ngừa, xỏa bỏ LĐTE, nghiêm cấm các hình thức LĐTE tồi tệ.

Xóa bỏ một cách hiệu quả LĐTE, cấm các hình thức LĐTE tồi tệ nhất là một trong những “tiêu chuẩn” trong lĩnh vực lao động mà các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, trong đó có Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) yêu cầu các thành viên của Hiệp định thương mại này phải tuân thủ và thực hiện. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng như hiện nay, sự ra đời của các FTA là một trong những minh chứng rõ nét cho xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia. Các tiêu chuẩn về lao động được xem như là những nội dung bắt buộc không thể thiếu trong nội dung của các FTA, trong đó tiêu chuẩn về bảo vệ LĐTE, xóa bỏ mọi hình thức LĐTE tồi tệ luôn được xem là một trong những tiêu chuẩn “cốt lõi” trong các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

2. Pháp luật Việt Nam trước yêu cầu xóa bỏ lao động trẻ em theo quy định của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Hiệp định CPTPP đã nhấn mạnh nhiều đến các quyền con người, quyền của người lao động (NLĐ), giúp NLĐ và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích kinh tế một cách công bằng. Để thực hiện được mục tiêu đó, Hiệp định CPTPP đã yêu cầu tất cả các quốc gia tham gia phải thông qua và duy trì các quyền của NLĐ được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO, mà cụ thể là bốn “nhóm quyền” cơ bản của NLĐ thông qua 08 công ước cốt lõi của ILO. Riêng về “nhóm tiêu chuẩn” xóa bỏ LĐTE đã được ILO quy định trong Công ước số 138 và Công ước số 182. Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật Việt Nam về nội dung xóa bỏ LĐTE với các quy định trong các Công ước này của ILO, có thể nhận thấy những điểm đã phù hợp và chưa phù hợp như sau:

2.1. Những nội dung của pháp luật lao động đã phù hợp với yêu cầu trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Nhìn chung các quy phạm pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ nhằm tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ, ngăn chặn tình trạng LĐTE bị bóc lột sức lao động và xây dựng một môi trường an ninh, an toàn và lành mạnh để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Pháp luật Việt Nam về cơ bản đã phù hợp với những nội dung của Công ước về Quyền trẻ em và Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO. Cụ thể:

Thứ nhất, về hành lang pháp lý để bảo đảm thực thi quyền của LĐTE. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em - CRC năm 1989. Việt Nam cũng đã phê chuẩn hai công ước cơ bản, cốt lõi của ILO có liên quan đến quyền của LĐTE là Công ước số 138 và Công ước số 182. Việt Nam đã chủ động nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quyền trẻ em nói chung và quyền của LĐTE nói riêng. Đến nay hệ thống pháp luật quốc gia về bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã tương đối đầy đủ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hài hòa với pháp luật quốc tế, tạo hành lang pháp lý toàn diện để giải quyết các vấn đề của trẻ em[2].

Nội dung quyền trẻ em và quyền của LĐTE đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Trẻ em và Bộ luật Lao động. Riêng Bộ luật Lao động năm 2019 đã dành một mục riêng (trong Chương XI) để quy định về LĐTE. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 782/QĐ-TTg ngày 27/5/2021 phê duyệt “Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030” nhằm mục tiêu chính là “phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ, can thiệp trẻ em lao động trái quy định pháp luật và trẻ em có nguy cơ trở thành LĐTE”. Đây chính là việc thực hiện nghiêm chỉnh cam kết của Việt Nam về việc “theo đuổi một chính sách quốc gia được xây dựng để bảo đảm việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng LĐTE và để nâng dần độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng vào làm việc hoặc được tham gia lao động tới độ tuổi mà thanh, thiếu niên đạt được mức độ phát triển đầy đủ nhất về thể chất và trí lực” đã được nêu ngay trong Điều 1 Công ước số 138 của ILO.

Thứ hai, về đối tượng được xác định là LĐTE. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đang tồn tại những quy định chưa thống nhất về độ tuổi để xác định là trẻ em và LĐTE, khi mà Bộ luật Lao động năm 2019 không đề cập về khái niệm “lao động trẻ em” mà chỉ đưa ra khái niệm “lao động chưa thành niên”, đồng thời quy định độ tuổi tối thiểu của NLĐ là đủ 15 tuổi (khoản 1 Điều 3) và quy định lao động chưa thành niên là lao động chưa đủ 18 tuổi (khoản 1 Điều 143). Luật Trẻ em năm 2016 quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Mặc dù chưa có sự thống nhất trong các quy định của pháp luật nhưng “tinh thần” của các quy định đó phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em - CRC. Đặc biệt với những quy định đó hoàn toàn tương thích, đáp ứng các yêu cầu của Công ước số 138 của ILO, đó là: “Độ tuổi tối thiểu… phải không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi”. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã bao hàm LĐTE trong khái niệm NLĐ chưa thành niên nhằm bảo vệ chung với những người chưa có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Thứ ba, về quy định các loại công việc được sử dụng LĐTE. Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về các “nhóm tuổi” khác nhau đối với LĐTE khi thực hiện các loại công việc khác nhau, đồng thời, quy định việc sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc với những điều kiện cụ thể tại Điều 145. Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên (Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH) có quy định danh mục các công việc nhẹ đối với các “nhóm tuổi” của LĐTE. Với quy định này, đã định hướng cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu lao động linh hoạt trong đơn vị, mặt khác tạo điều kiện để trẻ em được quyền tham gia lao động, mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình. Quy định này tương đối phù hợp với các Công ước của ILO và pháp luật các nước trên thế giới. Cụ thể là phù hợp với Điều 7 Công ước số 138: “Pháp luật quốc gia có thể cho phép tuyển dụng hoặc tham gia lao động với những người từ 13 đến 15 tuổi trong những công việc nhẹ với điều kiện kèm theo: (i) Không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của các em; (ii) Không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận hoặc những chương trình mà các em có khả năng tiếp thu” và những nội dung có liên quan khác về LĐTE được đề cập trong hai Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO.

Thứ tư, pháp luật quy định danh mục các công việc cấm sử dụng LĐTE. Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng NLĐ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (Điều 147). Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH cũng đã quy định danh mục các công việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên (Phụ lục III). Những quy định nêu trên là sự cụ thể hóa các nội dung được đề cập trong Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất của ILO: “Các quốc gia thành viên sẽ xây dựng và thực hiện các chương trình hành động nhằm ưu tiên xoá bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất” (khoản 1 Điều 6) và “các quốc gia thành viên xem xét đến tầm quan trọng của giáo dục trong việc xoá bỏ nạn LĐTE, tiến hành các biện pháp hữu hiệu và trong một thời gian định sẵn để ngăn chặn trẻ em khỏi những hình thức lao động tồi tệ nhất” (Điều 7).

2.2. Một số nội dung chưa phù hợp với yêu cầu trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa bao trùm được hết các đối tượng trẻ em đang tham gia lao động. Đến nay, pháp luật Việt Nam vẫn thiếu các quy định về NLĐ là trẻ em ở các khu vực phi chính thức, kinh tế hộ gia đình, đặc biệt ở nông thôn, trong khi đây là yêu cầu của Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO. LĐTE ở Việt Nam tồn tại và khu trú ở những nơi mà pháp luật khó có thể can thiệp để giải quyết tận gốc, xuất hiện phổ biến trong khu vực phi chính thức, tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, trực tiếp tạo ra hàng hóa, sản phẩm dịch vụ, góp mặt trong chuỗi cung ứng. Trên 84% LĐTE phân bố ở khu vực nông thôn, trên 43% LĐTE là lao động hộ gia đình. Ngoài ra, đa số LĐTE làm thuê được trả công, tập trung trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ thuộc khu vực phi chính thức[3]. Điều đó có nghĩa là chưa có các biện pháp pháp lý thích hợp để can thiệp vào các đối tượng này. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng giữa lao động chưa thành niên và trẻ em tham gia hoạt động kinh tế dẫn đến khó khăn trong việc phát hiện, xử lý các vi phạm về LĐTE.

Thứ hai, tỷ lệ trẻ em không được đến trường trong thực tế còn chiếm tỷ trọng lớn. Số liệu điều tra quốc gia về LĐTE năm 2018 do ILO, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (công bố năm 2020) cho thấy, trong tổng số 1.031.944 LĐTE, có gần 1/2 hiện vẫn còn tiếp tục đi học và 48,6% hiện đã thôi học (501.095 em) và 1,4% chưa bao giờ đi học (tương đương 15.055 em)[4]. Tình trạng lao động chưa thành niên tham gia lao động nhưng không được ký kết hợp đồng lao động, phần lớn là giao kết bằng miệng nên không có ràng buộc về mặt pháp lý, nếu có ký kết hợp đồng thì hầu hết chưa quy định rõ thời gian làm việc, chế độ nghỉ ngơi. Tình trạng lao động chưa thành niên làm việc ở những ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên như công trường xây dựng, nấu bếp, phục vụ ở các phòng hát karaoke, cơ sở lưu trú, khách sạn, nhà nghỉ… vẫn còn diễn ra; nhiều cơ sở sử dụng lao động trong độ tuổi chưa thành niên, không đăng ký khai trình lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương, do đó, rất khó khăn trong công tác quản lý, giám sát[5]. Cũng theo số liệu điều tra cho thấy, về quy mô và phân bố LĐTE Việt Nam hiện có hơn 1.000.000 trẻ em từ 5-17 tuổi được xác định là LĐTE, chiếm 5,4% tổng số trẻ em 5-17 tuổi và chiếm 58,8% trẻ em 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế. Trên 84% LĐTE phân bố ở khu vực nông thôn, tỷ lệ LĐTE ở khu vực nông thôn là 6,6%, cao hơn 2,5 lần so với LĐTE ở khu vực thành thị (2,6%). Ước tính có trên 43% LĐTE là lao động hộ gia đình và 31,7% là lao động được trả công. Tuy nhiên, vẫn có tới 198.505 trẻ em, chiếm 12,9% làm các công việc tự sản, tự tiêu (trong tổng số 344.166 trẻ em 5-17 tuổi hoạt động kinh tế với các công việc thuộc nhóm sản phẩm tự sản, tự tiêu thuộc nhóm đối tượng được loại trừ theo tinh thần của Công ước số 138) được xác định là LĐTE do đã tham gia vào các công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em[6]. Có thể nói, số lượng LĐTE ở Việt Nam còn khá đông đảo; một số lớn trẻ em không được đến trường, ảnh hưởng không nhỏ đến tương lai của các em và gây ra những hệ lụy tiêu cực cho xã hội. Trong khi đó, Công ước về Quyền trẻ em và các Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO luôn đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục trong việc xóa bỏ nạn LĐTE và luôn xem giáo dục là một trong các biện pháp để phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE.

Thứ ba, thiếu cơ chế giám sát đối với tình trạng LĐTE, dẫn đến việc không thể thống kê một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác hiện trạng LĐTE trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là ở những khu vực kinh tế phi chính thức, khu vực nông thôn, miền núi trong khi đây là một trong những yêu cầu quan trọng đã được Công ước số 138 và Công ước số182 của ILO đề cập tới.

Thứ tư, cơ chế kiểm tra, thanh tra chưa thực sự hiệu quả, việc thực hiện pháp luật về LĐTE vẫn còn thiếu và yếu. Việc xử phạt các vi phạm pháp luật LĐTE còn quá nhẹ, chưa mang tính răn đe cao, chưa phát huy hiệu quả từ việc xử phạt. Ở Việt Nam, mức độ xử lý các đối tượng lạm dụng sức khỏe trẻ em và bạo hành trẻ em vẫn còn quá nhẹ, chủ yếu mới dừng lại ở việc nhắc nhở, xử phạt hành chính[7]. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra những nơi có dấu hiệu vi phạm về sử dụng LĐTE nhưng cũng không thể xử lý được vì hầu hết những nơi này đều chứng minh họ đang “dạy nghề” cho con cháu của mình. Một số khác không phải họ hàng thì có giấy cam kết của bố mẹ nên rất khó xử lý trên thực tế. Trong khi đó, quan điểm của ILO là “mỗi quốc gia thành viên sẽ thực hiện những biện pháp thích hợp để bảo đảm sự thực hiện hiệu quả và thi hành các điều khoản nhằm bảo đảm hiệu lực của Công ước bao gồm việc định ra và áp dụng các biện pháp trừng phạt hoặc nếu thích hợp, áp dụng cả những biện pháp trừng phạt khác” (Điều 7).

Thứ năm, công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về phòng ngừa và xóa bỏ LĐTE của nước ta chưa đạt được hiệu quả. Hậu quả là nhận thức của gia đình, chính trẻ em và NSDLĐ còn hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật, chính sách liên quan đến LĐTE. Vẫn còn tình trạng nhiều gia đình cho LĐTE tham gia vào các hoạt động lao động để cải thiện sinh kế cho gia đình. Dẫn đến việc đánh mất cơ hội đến trường, học tập, vui chơi, phát triển trong một môi trường an ninh, an toàn và lành mạnh. Gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý, thể chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của trẻ em. Trong khi đây là những vấn đề được nêu trong Công ước về Quyền trẻ em và Công ước số138 và Công ước số 182.

3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của lao động trẻ em, đáp ứng yêu cầu của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Một là, pháp luật Việt Nam cần phải bao trùm được hết các đối tượng trẻ em đang tham gia lao động. Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về LĐTE cập nhật với điều kiện thực tế của quốc gia và hội nhập pháp luật quốc tế trong lĩnh vực lao động, đồng thời, nhằm thực hiện có hiệu quả Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE trái pháp luật trong giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định số 782/QĐ-TTg ngày 27/5/2021, pháp luật Việt Nam cần quy định bao trùm các đối tượng trẻ em đang tham gia lao động. Khắc phục tình trạng thiếu các quy định về NLĐ là trẻ em ở các khu vực phi chính thức, kinh tế hộ gia đình, đặc biệt ở nông thôn, trong khi đây là yêu cầu của Công ước của ILO về bảo vệ LĐTE. Đồng thời, pháp luật cần quy định rõ những điểm khác biệt và chính sách pháp luật liên quan đến LĐTE và trẻ em tham gia hoạt động kinh tế để nhận diện được những hành vi vi phạm về LĐTE trên thực tế. Rà soát các công việc trong lĩnh vực nông nghiệp nơi trẻ em có thể đang làm việc để xác định và cập nhật danh sách các công việc nguy hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp theo Công ước số 138 của ILO.

Hai là, cần hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về LĐTE, đặc biệt là đối với khu vực phi chính thức. Cả nước hiện có đến hơn nửa triệu trẻ em đã thôi học, đặc biệt có tới 15.055 em chưa bao giờ được đến trường[8]. Đây là những số liệu thống kê để chứng minh cho thấy tình trạng nghiêm trọng của LĐTE hiện nay ở nước ta hiện nay. Để giải quyết được tình trạng này cần phải quy định chế tài nghiêm khắc, chặt chẽ để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về LĐTE, tăng mức xử phạt cả lĩnh vực hành chính và trách nhiệm hình sự nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các vi phạm pháp luật về sử dụng LĐTE, đặc biệt là những vi phạm về LĐTE làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tăng cường cơ chế kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật có liên quan đến LĐTE ở các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có hiện tượng lạm dụng sức lao động trẻ em, bằng cách bồi dưỡng, đào tạo kiến thức cho thanh tra lao động. Xây dựng cơ chế huy động sự tham gia, tăng cường hợp tác liên ngành trong công tác xóa bỏ LĐTE, đặc biệt là sự tham gia phối hợp giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội với Giáo dục - Đào tạo, Công an, các tổ chức xã hội và sự tham gia của doanh nghiệp từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, huyện và địa phương trong công tác xóa bỏ LĐTE. Bên cạnh đó, cần bổ sung các quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân có vi phạm trong việc để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật lao động về sử dụng LĐTE trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Cần thiết phải xây dựng bộ quy trình quản lý, đánh giá về LĐTE để hướng dẫn thực hiện tại các địa phương.

Ba là, cần phải xây dựng và vận hành hệ thống giám sát LĐTE. Hệ thống giám sát LĐTE có vai trò quan trọng trong việc giám sát, đánh giá vấn đề LĐTE nhằm kiểm chứng trong doanh nghiệp, chuỗi cung ứng có LĐTE hay không và đến mức độ nào để củng cố biện pháp phòng ngừa và nâng cao hiệu quả biện pháp khắc phục[9]. Thông qua hệ thống giám sát sẽ thực hiện thống kê một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác hiện trạng LĐTE trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là ở những khu vực kinh tế phi chính thức, khu vực nông thôn, miền núi nhằm thực hiện các yêu cầu quan trọng đã được đề cập Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO.

Bốn là, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về phòng ngừa và xóa bỏ LĐTE. Xây dựng chiến lược truyền thông về LĐTE và tổ chức truyền thông về LĐTE để thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, ưu tiên những người là cha mẹ, người thân của chính các em, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt chú ý đến truyền thông về các tranh chấp lao động quốc tế liên quan đến LĐTE, phòng ngừa LĐTE tham gia chuỗi cung ứng. Đồng thời, tuyên truyền, phổ biến nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc xóa bỏ LĐTE thông qua các biện pháp như: Xây dựng quy tắc vận hành và tổ chức diễn đàn quốc gia về LĐTE và doanh nghiệp để chia sẻ thông tin về các hoạt động đã thực hiện, các thách thức được xác định và những thành công; xây dựng bộ quy tắc ứng xử của chủ sử dụng lao động về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE; thúc đẩy, tăng cường áp dụng việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng, thông qua các Hiệp định FTA thế hệ mới và việc ký các biên bản cam kết giữa các bên liên quan.

Trần Tuấn Sơn
NCS Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Phan Thị Lan Phương, (2014), “Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam,” Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội - Luật học, tập 30, số 4, tr. 58.

[2]. Tổ chức Lao động Quốc tế - Tổng cục Thống kê - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2020), “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2018”, tr. 3.

[3]. ILO, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2020), “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2018”, tr. 67.

[4]. ILO, Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2018”, tr. 33.

[5]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), “Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012”, tr.40.

[6]. ILO, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2020), “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2018”, tr. 31, tr. 32.

[7]. Quách Thị Quế, “Phòng chống LĐTE trong chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”.

[8]. ILO, Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, “Điều tra quốc gia về LĐTE năm 2018”, tr. 33.

[9]. VCCI – ILO (2020), “Hướng dẫn phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE dành cho doanh nghiệp”, tr. 32.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: