Thứ tư 23/09/2026 05:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát triển tổ chức hành nghề công chứng - Nhìn từ góc độ chính sách và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu công chứng ngày càng tăng, các địa phương đã có nhiều biện pháp để huy động các nguồn lực nhằm phát triển các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng nhu cầu công chứng.

Tuy nhiên, qua 03 năm triển khai thực hiện (2012 - 2015) nhiều nhiệm vụ, giải pháp đặt ra trong Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng vẫn chưa triển khai thực hiện được, việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều địa phương vẫn chưa phát triển được số lượng các tổ chức hành nghề công chứng theo quy hoạch. Các tổ chức hành nghề công chứng chủ yếu chỉ tập trung phát triển ở các thành phố lớn, ở trung tâm các tỉnh lỵ, còn ở địa bàn các huyện rất khó phát triển. Một lượng lớn các hợp đồng, giao dịch vẫn thông qua chứng thực tại UBND cấp xã. Nguyên nhân thì nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở vấn đề xây dựng, thực thi chính sách và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng, chứng thực.

Về chính sách, chưa có sự gắn kết giữa chính sách phát triển tổ chức hành nghề công chứng với chính sách trong các lĩnh vực khác cũng như chính sách tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thậm chí cả ở tầm quốc gia. Đơn cử như, trong khi Luật Công chứng năm 2007 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP đã phân định rõ thẩm quyền công chứng, chứng thực và định hướng chính sách trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng là: Thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, tiến tới thực hiện việc chuyển giao toàn bộ các hợp đồng, giao dịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đang chứng thực liên quan đến chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 lại quy định UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn… quyền sử dụng đất; Luật Nhà ở năm 2014 quy định UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn… nhà ở. Với quy định này buộc phải ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 để thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực hợp đồng giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở; chứng thực các vấn đề liên quan đến thừa kế tài sản. Như vậy có thể thấy rằng, đây là điểm lùi so với định hướng đặt ra trong các chủ trương, chính sách phát triển tổ chức hành nghề công chứng như đã nêu ở trên. Và đây sẽ là một trong những yếu tố cản trở quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng và phát triển các tổ chức hành nghề công chứng.
Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã đề ra giải pháp thực hiện là “xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực tham gia hoạt động hành nghề công chứng… quy hoạch phát triển đội ngũ công chứng viên đến năm 2020 gắn với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”. Đây là một đòi hỏi tất yếu đặt ra, chỉ có thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng theo quy hoạch khi và chỉ khi phát triển được một đội ngũ công chứng viên tương ứng về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, một thực tế hiện nay ở các địa phương, nhất là ở các tỉnh lẻ, đội ngũ công công chứng viên mới phát triển thêm từ khi cho phép thành lập văn phòng công chứng chủ yếu là những người làm việc ở các cơ quan tư pháp đã nghỉ hưu như thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên. Đội ngũ này thuộc thế hệ phần lớn là học tại chức luật, lại thuộc diện được miễn đào tạo, tập sự hành nghề công chứng (đơn cử như ở tỉnh Đồng Tháp chỉ có 9/27 công chứng viên đã qua đào tạo. Ở tỉnh Quảng Bình chỉ có 4/13 công chứng viên đã qua đào tạo nghiệp vụ công chứng). Do đó, nhìn chung chất lượng đội ngũ công chứng viên hiện nay chưa cao, chưa chuyên nghiệp, việc thực hiện công chứng vẫn còn nhiều sai sót nên chưa tạo được niềm tin của nhân dân.
Một trong những khó khăn trong phát triển tổ chức hành nghề công chứng hiện nay là thiếu nguồn để bổ nhiệm công chứng viên. Điều đáng nói là, trong số 178.000 sinh viên hiện đang thất nghiệp chiếm tỷ lệ không nhỏ là những người có bằng cử nhân luật hệ chính quy. Trên thực tế thì những người có gia đình khá giả, những người ở thành phố ít khi chọn con đường về các huyện hành nghề công chứng. Trong khi đó những người ở các huyện thì nghèo, không có điều kiện để tiếp tục theo học nghiệp vụ và tập sự hành nghề công chứng. Hiện nay, các địa phương vẫn chưa có các cơ chế, chính sách để hỗ trợ các sinh viên nghèo sau khi tốt nghiệp cử nhân luật có điều kiện tiếp tục tham gia các lớp đào tạo và tập sự hành nghề công chứng. Đây là chính sách cần thiết để thu hút, phát triển đội ngũ công chứng viên, để phát triển tổ chức hành nghề công chứng hiện nay ở các địa phương.
Về phổ biến, giáo dục pháp luật, một trong những giải pháp quan trọng mà Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đề ra đó là: “Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân có liên quan và toàn xã hội về vị trí, vai trò của hoạt động công chứng. Tổ chức quán triệt nhận thức của các cấp, các ngành về bản chất, vai trò, ý nghĩa của hoạt động công chứng đối với cải cách tư pháp, sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội… tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò của công chứng trong toàn xã hội để công chứng trở thành nhu cầu tự nguyện của nhân dân”. Có thể thấy rằng, đây là giải pháp quan trọng để phát triển tổ chức hành nghề công chứng. Tổ chức hành nghề công chứng chỉ phát triển được khi nhu cầu công chứng tăng lên, đủ việc để các văn phòng công chứng được thành lập duy trì hoạt động và tồn tại. Thực tế đang tồn tại cái vòng luẩn quẫn là do tổ chức hành nghề công chứng chưa phát triển rộng khắp (chưa đáp ứng nhu cầu) nên phải giao cho UBND cấp xã chứng thực các hợp đồng, giao dịch và chính việc giao cho UBND cấp xã chứng thực hợp đồng, giao dịch lại là yếu tố làm cho các tổ chức hành nghề công chứng khó phát triển (vì người dân thường lựa chọn chứng thực). Xét về mặt giá trị pháp lý thì hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch đem lại giá trị pháp lý cao, bảo đảm độ an toàn của các hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp xẩy ra. Tuy nhiên, xét từ góc độ thuận tiện thì việc chứng thực tại UBND cấp xã là thuận lợi hơn cho người dân trong việc đi lại và chi phí bỏ ra thấp. Khi mà người dân chưa hiểu được giá trị của công chứng thì đây là yếu tố mà người dân chưa mặn mà đón nhận sự ra đời của các văn phòng công chứng.
Trong điều kiện đang tồn tại song song hai hình thức vừa công chứng vừa cho phép UBND cấp xã chứng thực đối với các hợp đồng, giao dịch đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu biết được sự khác nhau về bản chất, giá trị pháp lý giữa công chứng và chứng thực. Chỉ khi hiểu rõ lợi ích của công chứng người dân mới tìm đến với các văn phòng công chứng. Một thực tế hiện nay không chỉ người dân mà ngay cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vẫn chưa phân biệt được rạch ròi giữa hoạt động công chứng và chứng thực. Trong thời gian qua ở các địa phương, mỗi khi các văn phòng công chứng được thành lập, UBND cấp tỉnh quyết định phân định địa bàn giao cho các văn phòng công chứng thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch thì người dân thường phản ứng gay gắt, nào là làm đơn kiến nghị, trực tiếp kiến nghị tại các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp đề nghị tiếp tục được chứng thực tại UBND cấp xã. Trước các kiến nghị này lẽ ra các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải giải thích cho cử tri rõ về giá trị của công chứng so với chứng thực để người dân ủng hộ và đến với các văn phòng công chứng. Ngược lại, do chính bản thân các đại biểu cũng không am hiểu về công chứng, chứng thực nên đồng tình, tiếp thu ý kiến và kiến nghị với UBND. Trước sức ép của các kiến nghị có những tỉnh phải điều chỉnh lại địa bàn công chứng và có những văn phòng công chứng đã phải giải thể hoặc tồn tại cầm chừng vì lượng việc quá ít.
Từ thực trạng phát triển tổ chức hành nghề công chứng như đã nêu trên, để đảm bảo thực hiện Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng theo lộ trình đến năm 2020, các cấp, các ngành cần tập trung đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đã nêu trong Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng, trong đó cần chú trọng thực hiện các giải pháp sau:
Một là, cần đẩy mạnh, đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng, chứng thực để nâng cao nhận thức, hiểu biết của cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về tính chất, vị trí, vai trò, lợi ích thiết thực của hoạt động công chứng.
Hai là, cần có chính sách hỗ trợ kinh phí khuyến khích các sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật tiếp tục học nghiệp vụ công chứng và tập sự hành nghề công chứng vừa để giải quyết việc làm vừa đảm bảo phát triển đội ngũ công chứng đáp ứng theo lộ trình và theo địa bàn quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã phê duyệt.
Ba là, cần xây dựng các chính sách đồng bộ, thống nhất giữa các lĩnh vực, giữa Trung ương và địa phương đối với lĩnh vực công chứng. Về lâu dài cần nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ bản gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch và các văn bản pháp luật liên quan theo hướng không giao cho UBND cấp xã chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà giao cho các phòng công chứng, văn phòng công chứng thực hiện công chứng tất cả các hợp đồng, giao dịch.

ThS. Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trường Chính trị tỉnh Lạng Sơn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.

Theo dõi chúng tôi trên: