Thứ ba 10/02/2026 06:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

“Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử” - lời thề thiêng liêng vang lên từ Lễ hội Minh Thề ở thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng không chỉ là thanh âm của một nghi lễ dân gian, mà còn là tiếng nói đạo lý trị quốc xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó là tuyên ngôn đạo đức và pháp lý giản dị nhưng đanh thép: Ai vì công được trời đất chứng giám và muôn dân ủng hộ; ai dùng công quyền làm lợi riêng ắt sẽ bị trừng trị. Từ cội nguồn văn hóa ấy, truyền thống đề cao liêm chính, công tâm và kỷ cương pháp luật đã ngấm vào tư tưởng trị quốc, trở thành nền tảng bền vững cho quốc pháp và đạo lý công quyền. Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày nay là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử, một phần không thể tách rời của hành trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, giữ vững kỷ cương và phụng sự Nhân dân bằng đạo lý trong sạch và thể chế vững vàng.

Bài 1: Gốc rễ văn hóa, pháp lý của tinh thần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong lịch sử dân tộc

Trong lịch sử Việt Nam, tinh thần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đề cao liêm chính và đạo lý làm quan đã sớm trở thành giá trị văn hóa, pháp lý cốt lõi. Từ những chuẩn mực ứng xử được lưu truyền trong dân gian đến những điều răn “khắc cốt ghi tâm” trong gia huấn, hương ước làng xã; từ những lễ hội mang tính biểu tượng như Lễ hội Minh Thề - nơi quan dân cùng thề không tham nhũng - cho đến các điều khoản nghiêm khắc trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long,… tất cả đều phản ánh một truyền thống trị quốc đặt trọng tâm vào sự thanh liêm, cương trực, coi việc phụng sự quốc gia, dân tộc là lẽ tối thượng. Đó không chỉ là mệnh lệnh đạo đức mà còn là thiết chế pháp lý nhằm bảo vệ kỷ cương xã hội, giữ gìn nền chính trị trong sạch và ổn định.

Lễ hội Minh Thề và tinh thần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ dân gian

Lễ hội Minh Thề có từ thời nhà Mạc, khoảng giữa thế kỷ XVI, nơi các quan lại địa phương thề không tham nhũng, không ức hiếp dân lành. Lời thề khắc trên bia đá, trước mặt thần linh và dân chúng, tạo nên một cơ chế “kỷ cương đạo đức” gắn với trách nhiệm công vụ. Đây là một hình thức giám sát xã hội mang tính đạo đức cộng đồng đặc thù của Việt Nam, nhấn mạnh đến danh dự và sự tự răn của người cầm quyền.

Sử sách lưu truyền, Lễ hội Minh Thề do Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ của Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung đề xướng. Bà chính là người đã tiếp thu lễ thề của các đời trước, xây dựng nên Lễ hội Minh Thề. Bà tự bỏ tiền và vận động hoàng thân, quốc thích, quan lại Triều Mạc cùng Nhân dân địa phương mua ruộng đất mở rộng khuôn viên và tu tạo lại ngôi chùa cổ của làng (chùa Hòa Liễu), nay thuộc thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Đài thề trong Lễ hội Minh Thề (Nguồn: baovanhoa.vn)

Để không bị hụt tài sản công, Thái Hoàng Thái Hậu và dân làng lập ra Hội Minh Thề và Hịch văn Hội Minh Thề quy định lấy chí công làm trọng, không xâm phạm của công. Không phân biệt giàu - nghèo, đẳng cấp xã hội, những người đứng đầu trong làng (Lý trưởng, Phó lý, Chánh hội, Phó hội, Trương tuần) và dân làng gồm những người từ 18 tuổi trở lên đều tham gia hội thề. Trong Hịch văn Hội Minh Thề có quy định những điều được làm, phải làm và những điều không được làm cho tất cả các thành phần từ hương chức đến dân thôn.

Để lưu giữ những giá trị tốt đẹp của lịch sử, Lễ hội Minh Thề đã chính thức được khôi phục từ năm 2002, dựa trên nền cốt của Hội Minh Thề xưa. Đến năm 2017, nghi lễ này được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành một trong những lễ hội mang nghi thức “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam[1]. Lễ hội không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, mà còn làm phong phú thêm bản sắc của miền quê Thuận Thiên[2] - vùng đất không chỉ mang tên gọi của một đơn vị hành chính, mà còn gợi nhắc sâu xa về tinh thần: “Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử”. Đó là đạo lý muôn đời của chí công vô tư, lấy công tâm làm gốc, thuận thiên lý mà hành xử.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Chủ lễ đọc Hịch văn Minh thề (Nguồn: daibieunhandan.vn)

Pháp luật phong kiến và đạo làm quan

Thời xưa, cha ông ta rất quan tâm đến việc quy định trách nhiệm, đạo đức công vụ của quan lại trong quá trình làm việc. Để bảo đảm trách nhiệm, bổn phận, đạo đức của quan lại, các vương triều phong kiến đã luật hóa các quy tắc đạo đức của Nho giáo, đạo đức truyền thống của người Việt vào pháp luật. Sự luật hóa các quy tắc đạo đức đó phần nào tạo dựng được một đội ngũ quan lại có trách nhiệm. Theo thống kê trong hai bộ luật Quốc triều Hình luật thời Lê (hay còn có tên gọi là Bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn (hay còn gọi là Bộ luật Gia Long) có số lượng điều khoản đề cập đến trách nhiệm, đạo đức của quan chức chiếm tỷ lệ đáng chú ý. Cụ thể: Quốc triều Hình luật có 216/722 điều khoản (chiếm 29,92%); Hoàng Việt luật lệ có 180/396 điều khoản (chiếm 45,45%) đề cập đến đạo đức của quan chức đối với vua, đồng liêu, dân, bản thân và công việc. Các quy định đó đã tạo dựng được một đội ngũ quan lại minh trung, có trách nhiệm trong công việc, với dân[3].

Quốc triều Hình luật quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: Nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ cho việc thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quan dưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Quốc triều Hình luật (Nguồn: Nhandan.vn)

Quốc triều Hình luật quy định rõ hình phạt đối với hành vi tham ô, nhận hối lộ, kể cả tội “bao che cho người có tội vì hối lộ”. Ví dụ: Tại Điều 626 quy định: “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”; Điều 97 quy định về trường hợp bổ nhiệm, tuyển dụng, thuyên chuyển quan chức và người làm việc trong các cơ quan nhà nước không đúng quy định: “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”…

Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có nhiều quy định về tố cáo, khen thưởng, giám sát và trừng trị tội tham ô, tham nhũng. Bộ luật Gia Long căn cứ trên cấp bậc, chức vụ để định mức tội và hình phạt, ở cùng một mức độ vi phạm, mỗi đối tượng quan lại sẽ có một mức hình phạt tương ứng. Những viên quan nào đến mức bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và bị xóa tên trong sổ bộ quan là bị bãi chức hoàn toàn. Còn lại tùy thuộc vào số lượng tiền của nhận hay chưa nhận mà có hình thức trách tội khác như lưu đày, đồ, bãi nhiệm, đánh đòn.

Quyển 17 (Hình luật) tại Điều 4 viết về mục nhận đút lót: “Phàm chưa trực tiếp với sự việc mà quan lại hứa nhận tiền của, nếu làm cong luật pháp thì xử theo chỗ cong đó, còn việc không làm cong luật pháp thì xử theo chỗ không cong”[4],

Bộ luật Gia Long cũng có những quy định đối với người đi tố cáo hành vi tham nhũng. Nếu họ đi tố cáo người phạm tội thì tùy theo hành vi và tài sản của người phạm tội mà Nhà nước thưởng tiền hay tài sản cho người đi tố cáo. Quyển 8 (Hộ luật) tại Điều 1 viết về mục khóa trình, luật viết: “Phàm khách buôn trốn thuế, không nộp khóa trình thì phạt 50 roi, lấy một nửa đồ đạc, hàng cho quan, trong các đồ nhập vào kho ấy, lấy ra 03 phần thưởng cho người đi tố cáo”.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Mộc bản Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) (Nguồn: tcnn.vn)

Bên cạnh việc quy định về tội và hình phạt trong các bộ luật, các triều đại phong kiến còn quy định về cơ chế hồi tỵ[5]. Trong lịch sử phong kiến, Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là vị vua đầu tiên thực hiện hóa các quy định hồi tỵ trong nỗ lực đổi mới thể chế chính trị và quan chế. Quốc sử ghi lại quá trình xây dựng luật, nhà vua xuống chiếu “cấm quan lại lấy đàn bà, con gái trong bộ hạt” (năm Hồng Đức thứ 17 - 1486); “các quan phủ, huyện, châu, hễ là anh em ruột con chú con bác, bác cháu, cậu cháu, thì chỉ cho một người làm xã trưởng để trừ tệ bè phái hùa nhau” (1488). Đối tượng thực hiện hồi tỵ thời Lê Sơ là các quan đứng đầu bộ máy, chính quyền địa phương. Các nội dung hồi tỵ sau được luật hóa trong Quốc triều Hình luật.

Dưới triều Nguyễn, kinh nghiệm áp dụng luật hồi tỵ được nâng thành phương châm dùng người đó là: “Khi đã dùng người khoa bảng, triều đình thường giao nhiều trọng trách khác nhau để họ có điều kiện luân chuyển, rèn luyện, thử thách, mài dũa, trưởng thành”.

Những điều luật trong các bộ luật thời phong kiến quy định về các tội tham ô, nhận hối lộ, việc xử và phòng ngừa tham nhũng cho thấy, quan điểm phòng, chống tham nhũng của các thời đại phong kiến Việt Nam khá toàn diện, làm tiền đề cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ngày nay.

Án xử thời phong kiến và những bài học lịch sử

Không dừng lại ở quy phạm, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hiện thực hóa tinh thần chống tham nhũng bằng những vụ án cụ thể, thể hiện thái độ kiên quyết, công minh trong xử lý quan lại thoái hóa, biến chất. Không ít án xử nêu gương ở triều Lê, triều Nguyễn đã khẳng định quyết tâm giữ sạch bộ máy quan lại, coi liêm chính là chuẩn mực sống còn của quốc gia. Những bản án nghiêm khắc được ghi lại trong chính sử không chỉ mang tính răn đe mà còn truyền đi thông điệp: Không ai đứng trên luật pháp, dù quyền cao chức trọng.

Theo sách “Đại Nam thực lục”, tháng 12/1854, thương nhân Trung Quốc là Chu Trung Lập đã tố giác nhiều quan lại triều đình ăn đút lót của thuyền buôn ngoại quốc ở Quảng Nam. Biết tin, vua Tự Đức lập tức phái quan Quản viện đô sát cầm đầu đoàn thanh tra triều đình đến Quảng Nam điều tra làm rõ. Kết quả, những tố giác là có thật. Án được trình lên, chiếu theo Bộ luật Gia Long, 17 người bị xử tội giảo giam hậu (bắt thắt cổ chết nhưng còn tạm giam đợi lệnh), 25 người bị tội lưu đày, 12 người bị tội làm lao dịch, 08 người bị phạt đánh gậy và cách chức. Trong vụ án này, nhiều quan lớn bị kết tội như: Tham tri Bộ Hộ Phan Tĩnh, nguyên Bố chánh Đào Trí Phú, nguyên đốc học Phan Bật chia nhau 60 lạng bạc bị tội lưu đày. Tri phủ Điện Bàn là Nguyễn Bá Đôn ăn hối lộ 12 lạng bạc, án sát Đặng Kham nhận đút lót 82 lạng bạc. Sau khi bị bắt giam, Đặng Kham lâm bệnh chết trong tù. Theo các tài liệu lịch sử lưu lại, đây là vụ án xử tội nhận hối lộ lớn nhất ở nước ta thời kỳ phong kiến[6].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Vua Tự Đức quyết định tử hình viên quan tham nhũng bằng một bài thơ với những câu như: Một ngày một đồng / Ngàn ngày ngàn đồng/ Dây cưa đứt gỗ / Nước giọt thủng đá / Tội không dung tha / Lệnh truyền xử chém. (Nguồn: vanvn.vn)

Không chỉ trừng phạt, một số triều đại còn có hình thức nêu gương, thưởng cho quan liêm chính, từ chối hối lộ. Như vậy, có thể thấy, ở mỗi triều đại phong kiến khác nhau đều đã có những biện pháp khá toàn diện, hiệu quả để ngăn ngừa và xử lý tệ tham nhũng trong đội ngũ quan lại triều đình. Hệ thống những biện pháp, hình phạt đó đã góp phần quan trọng giúp các triều đại phong kiến Việt Nam phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đặc biệt vào những giai đoạn thịnh trị./.

Hoàng Lan, Vũ Quỳnh, Hoàng Trung

Bài 2: Từ lời Bác dạy đến đường lối, hành động của Đảng và Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bài cuối: Từ bài học đến hành động – Chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ bằng pháp luật.

Tài liệu tham khảo:

1. Hịch văn Hội Minh Thề tại Khu di tích đền chùa Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

2. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong.

3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html.


  1. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong, truy cập ngày 30/6/2025.

  2. Trước khi thực hiện Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng năm 2025, Lễ hội Minh Thề được tổ chức tại thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

  3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

  4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

  5. Hồi tỵ là từ Hán Việt cổ, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “hồi” là đi trở về; “tỵ” là lánh ra. Hồi tỵ có nghĩa là lánh đi. Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, hồi tỵ là tránh đi. Người làm quan đứng đầu địa phương, nếu có họ hàng là thuộc liêu ở đó thì quan chức ấy phải được đổi bổ đi nơi khác (nguồn: Đào Bích Hành - Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 4 - Tập VII, năm 2013).

  6. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html, truy cập ngày 30/6/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: