“Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử” - lời thề thiêng liêng vang lên từ Lễ hội Minh Thề ở thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng không chỉ là thanh âm của một nghi lễ dân gian, mà còn là tiếng nói đạo lý trị quốc xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó là tuyên ngôn đạo đức và pháp lý giản dị nhưng đanh thép: Ai vì công được trời đất chứng giám và muôn dân ủng hộ; ai dùng công quyền làm lợi riêng ắt sẽ bị trừng trị. Từ cội nguồn văn hóa ấy, truyền thống đề cao liêm chính, công tâm và kỷ cương pháp luật đã ngấm vào tư tưởng trị quốc, trở thành nền tảng bền vững cho quốc pháp và đạo lý công quyền. Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày nay là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử, một phần không thể tách rời của hành trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, giữ vững kỷ cương và phụng sự Nhân dân bằng đạo lý trong sạch và thể chế vững vàng.
Bài 1: Dấu ấn truyền thống phòng, chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc
Trong lịch sử Việt Nam, tinh thần phòng, chống tham nhũng, đề cao liêm chính và đạo lý làm quan sớm trở thành giá trị văn hóa, pháp lý cốt lõi. Từ những chuẩn mực ứng xử được lưu truyền trong dân gian đến những điều răn “khắc cốt ghi tâm” trong gia huấn, hương ước; từ những lễ hội mang tính biểu tượng như Lễ hội Minh Thề đến các điều khoản nghiêm khắc trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long,… đều phản ánh truyền thống trị quốc đặt trọng tâm vào sự thanh liêm, cương trực, coi việc phụng sự quốc gia, dân tộc là lẽ tối thượng. Đó không chỉ là mệnh lệnh đạo đức mà còn là thiết chế pháp lý nhằm bảo vệ kỷ cương xã hội, giữ gìn chính trị ổn định và trong sạch.
Lễ hội Minh Thề và tinh thần phòng, chống tham nhũng từ dân gian
Lễ hội Minh Thề có từ thời nhà Mạc, khoảng giữa thế kỷ XVI, nơi các quan lại địa phương thề không tham nhũng, không ức hiếp dân lành. Lời thề khắc trên bia đá, trước mặt thần linh và dân chúng, tạo nên cơ chế “kỷ cương đạo đức” gắn với trách nhiệm công vụ. Đây là hình thức giám sát xã hội mang tính đạo đức cộng đồng đặc thù của Việt Nam, nhấn mạnh danh dự và sự tự răn của người cầm quyền.
Sử sách lưu truyền, Lễ hội Minh Thề do Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ của Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung tiếp thu lễ thề của các đời trước và đề xướng, xây dựng Lễ hội Minh Thề. Bà tự bỏ tiền và vận động hoàng thân, quốc thích, quan lại Triều Mạc cùng Nhân dân địa phương mua ruộng đất mở rộng khuôn viên và tu tạo lại ngôi chùa cổ của làng (chùa Hòa Liễu), nay thuộc thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
 |
| Đài thề trong Lễ hội Minh Thề (Nguồn: Ảnh tư liệu) |
Để không bị hụt tài sản công, Thái Hoàng Thái Hậu và dân làng lập Hội Minh Thề và Hịch văn Hội Minh Thề, quy định lấy chí công làm trọng, không xâm phạm của công. Không phân biệt giàu - nghèo, đẳng cấp xã hội, những người đứng đầu trong làng và dân làng gồm những người từ 18 tuổi trở lên đều tham gia hội thề. Hịch văn Hội Minh Thề quy định những điều được làm, phải làm và những điều không được làm cho tất cả thành phần từ hương chức đến dân thôn.
Để lưu giữ những giá trị tốt đẹp của lịch sử, Lễ hội Minh Thề chính thức được khôi phục từ năm 2002, dựa trên nền cốt của Hội Minh Thề xưa. Năm 2017, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành một trong những lễ hội mang nghi thức “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam. Lễ hội không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, mà còn làm phong phú thêm bản sắc của miền quê Thuận Thiên - vùng đất không chỉ mang tên gọi của một đơn vị hành chính, mà còn gợi nhắc sâu xa về tinh thần: “Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử”. Đó là đạo lý muôn đời của chí công vô tư, lấy công tâm làm gốc, thuận thiên lý mà hành xử.
 |
| Chủ lễ đọc Hịch văn Minh thề (Nguồn: Ảnh tư liệu) |
Pháp luật phong kiến và đạo làm quan
Thời xưa, cha ông ta rất coi trọng việc quy định trách nhiệm và đạo đức công vụ của quan lại. Các vương triều phong kiến đã luật hóa những chuẩn mực đạo đức Nho giáo và truyền thống của người Việt, qua đó góp phần hình thành đội ngũ quan lại có trách nhiệm và giữ gìn kỷ cương phép nước.
Quốc triều Hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) có 216/722 điều khoản (chiếm 29,92%); Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có 180/396 điều khoản (chiếm 45,45%) đề cập đến đạo đức của quan chức đối với vua, đồng liêu, dân, bản thân và công việc. Các quy định đó đã tạo dựng được một đội ngũ quan lại minh trung, có trách nhiệm trong công việc, với dân.
Quốc triều Hình luật quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: Nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quan dưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức.
 |
| Quốc triều Hình luật (Nguồn: Ảnh tư liệu) |
Quốc triều Hình luật quy định hình phạt đối với hành vi tham ô, nhận hối lộ, kể cả tội “bao che cho người có tội vì hối lộ”. Điều 626 quy định: “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”; Điều 97 quy định “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”…
Hoàng Việt luật lệ có nhiều quy định về tố cáo, khen thưởng, giám sát và xử lý hành vi tham ô, tham nhũng. Bộ luật căn cứ vào cấp bậc, chức vụ của quan lại để định tội và áp dụng hình phạt tương ứng. Những trường hợp nghiêm trọng có thể bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và xóa tên khỏi sổ bộ quan lại, đồng nghĩa với việc bãi chức hoàn toàn. Tùy theo mức độ vi phạm và số tiền của nhận hối lộ, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt như lưu đày, đồ, bãi nhiệm hoặc đánh đòn.
Quyển 17 (Hình luật) tại Điều 4 viết về nhận đút lót: “Phàm chưa trực tiếp với sự việc mà quan lại hứa nhận tiền của, nếu làm cong luật pháp thì xử theo chỗ cong đó, còn việc không làm cong luật pháp thì xử theo chỗ không cong”.
 |
| Mộc bản Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) (Nguồn: Ảnh tư liệu) |
Bên cạnh việc quy định về tội và hình phạt trong các bộ luật, các triều đại phong kiến còn quy định về cơ chế hồi tỵ. Trong lịch sử phong kiến, Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là vị vua đầu tiên thực hiện hóa các quy định hồi tỵ trong nỗ lực đổi mới thể chế chính trị và quan chế. Quốc sử ghi lại quá trình xây dựng luật, nhà vua xuống chiếu “cấm quan lại lấy đàn bà, con gái trong bộ hạt” (năm Hồng Đức thứ 17 - 1486); “các quan phủ, huyện, châu, hễ là anh em ruột con chú con bác, bác cháu, cậu cháu, thì chỉ cho một người làm xã trưởng để trừ tệ bè phái hùa nhau” (1488). Đối tượng thực hiện hồi tỵ thời Lê Sơ là các quan đứng đầu bộ máy, chính quyền địa phương. Các nội dung hồi tỵ sau được luật hóa trong Quốc triều Hình luật.
Dưới triều Nguyễn, kinh nghiệm áp dụng luật hồi tỵ được nâng thành phương châm dùng người đó là: “Khi đã dùng người khoa bảng, triều đình thường giao nhiều trọng trách khác nhau để họ có điều kiện luân chuyển, rèn luyện, thử thách, mài dũa, trưởng thành”.
Những điều luật trong các bộ luật thời phong kiến quy định về các tội tham ô, nhận hối lộ, việc xử và phòng ngừa tham nhũng cho thấy, quan điểm phòng, chống tham nhũng của các thời đại phong kiến Việt Nam khá toàn diện, làm tiền đề cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ngày nay.
Án xử thời phong kiến và những bài học lịch sử
Không dừng lại ở quy phạm, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước hiện thực hóa tinh thần chống tham nhũng bằng những vụ án cụ thể, thể hiện thái độ kiên quyết, công minh trong xử lý quan lại thoái hóa, biến chất. Không ít án xử nêu gương ở triều Lê, triều Nguyễn đã khẳng định quyết tâm giữ sạch bộ máy quan lại, coi liêm chính là chuẩn mực sống còn của quốc gia. Những bản án nghiêm khắc được ghi lại trong chính sử không chỉ mang tính răn đe mà còn truyền đi thông điệp: Không ai đứng trên luật pháp, dù quyền cao chức trọng.
Theo sách “Đại Nam thực lục”, tháng 12/1854, thương nhân Trung Quốc là Chu Trung Lập đã tố giác nhiều quan lại triều đình nhận đút lót của thuyền buôn ngoại quốc ở Quảng Nam. Án được trình lên, chiếu theo Bộ luật Gia Long, 17 người bị xử tội giảo giam hậu (bắt thắt cổ chết nhưng còn tạm giam đợi lệnh), 25 người bị tội lưu đày, 12 người bị tội làm lao dịch, 08 người bị phạt đánh gậy và cách chức.
 |
| Vua Tự Đức quyết định tử hình viên quan tham nhũng bằng một bài thơ với những câu như: Một ngày một đồng / Ngàn ngày ngàn đồng/ Dây cưa đứt gỗ / Nước giọt thủng đá / Tội không dung tha / Lệnh truyền xử chém. (Nguồn: Ảnh tư liệu) |
Không chỉ trừng phạt, một số triều đại còn có hình thức nêu gương, thưởng cho quan liêm chính, từ chối hối lộ. Như vậy, có thể thấy, ở mỗi triều đại phong kiến khác nhau đều đã có những biện pháp khá toàn diện, hiệu quả để ngăn ngừa và xử lý tệ tham nhũng trong đội ngũ quan lại triều đình. Hệ thống những biện pháp, hình phạt đó đã góp phần quan trọng giúp các triều đại phong kiến Việt Nam phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đặc biệt vào những giai đoạn thịnh trị.
Ths. Nguyễn Thị Diệp Linh
ThS. Trần Xuân Hiến
Bài 2: Từ lời Bác đến chủ trương, chính sách trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bài cuối: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ bằng pháp luật.
Tài liệu tham khảo:
1. Hịch văn Hội Minh Thề tại Khu di tích đền chùa Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
2. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong.
3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.
4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
5. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html.