Thứ bảy 14/03/2026 18:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

“Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử” - lời thề thiêng liêng vang lên từ Lễ hội Minh Thề ở thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng không chỉ là thanh âm của một nghi lễ dân gian, mà còn là tiếng nói đạo lý trị quốc xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó là tuyên ngôn đạo đức và pháp lý giản dị nhưng đanh thép: Ai vì công được trời đất chứng giám và muôn dân ủng hộ; ai dùng công quyền làm lợi riêng ắt sẽ bị trừng trị. Từ cội nguồn văn hóa ấy, truyền thống đề cao liêm chính, công tâm và kỷ cương pháp luật đã ngấm vào tư tưởng trị quốc, trở thành nền tảng bền vững cho quốc pháp và đạo lý công quyền. Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày nay là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử, một phần không thể tách rời của hành trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, giữ vững kỷ cương và phụng sự Nhân dân bằng đạo lý trong sạch và thể chế vững vàng.

Bài 1: Dấu ấn truyền thống phòng, chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc

Trong lịch sử Việt Nam, tinh thần phòng, chống tham nhũng, đề cao liêm chính và đạo lý làm quan sớm trở thành giá trị văn hóa, pháp lý cốt lõi. Từ những chuẩn mực ứng xử được lưu truyền trong dân gian đến những điều răn “khắc cốt ghi tâm” trong gia huấn, hương ước; từ những lễ hội mang tính biểu tượng như Lễ hội Minh Thề đến các điều khoản nghiêm khắc trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long,… đều phản ánh truyền thống trị quốc đặt trọng tâm vào sự thanh liêm, cương trực, coi việc phụng sự quốc gia, dân tộc là lẽ tối thượng. Đó không chỉ là mệnh lệnh đạo đức mà còn là thiết chế pháp lý nhằm bảo vệ kỷ cương xã hội, giữ gìn chính trị ổn định và trong sạch.

Lễ hội Minh Thề và tinh thần phòng, chống tham nhũng từ dân gian

Lễ hội Minh Thề có từ thời nhà Mạc, khoảng giữa thế kỷ XVI, nơi các quan lại địa phương thề không tham nhũng, không ức hiếp dân lành. Lời thề khắc trên bia đá, trước mặt thần linh và dân chúng, tạo nên cơ chế “kỷ cương đạo đức” gắn với trách nhiệm công vụ. Đây là hình thức giám sát xã hội mang tính đạo đức cộng đồng đặc thù của Việt Nam, nhấn mạnh danh dự và sự tự răn của người cầm quyền.

Sử sách lưu truyền, Lễ hội Minh Thề do Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ của Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung tiếp thu lễ thề của các đời trước và đề xướng, xây dựng Lễ hội Minh Thề. Bà tự bỏ tiền và vận động hoàng thân, quốc thích, quan lại Triều Mạc cùng Nhân dân địa phương mua ruộng đất mở rộng khuôn viên và tu tạo lại ngôi chùa cổ của làng (chùa Hòa Liễu), nay thuộc thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Đài thề trong Lễ hội Minh Thề (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Để không bị hụt tài sản công, Thái Hoàng Thái Hậu và dân làng lập Hội Minh Thề và Hịch văn Hội Minh Thề, quy định lấy chí công làm trọng, không xâm phạm của công. Không phân biệt giàu - nghèo, đẳng cấp xã hội, những người đứng đầu trong làng và dân làng gồm những người từ 18 tuổi trở lên đều tham gia hội thề. Hịch văn Hội Minh Thề quy định những điều được làm, phải làm và những điều không được làm cho tất cả thành phần từ hương chức đến dân thôn.

Để lưu giữ những giá trị tốt đẹp của lịch sử, Lễ hội Minh Thề chính thức được khôi phục từ năm 2002, dựa trên nền cốt của Hội Minh Thề xưa. Năm 2017, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành một trong những lễ hội mang nghi thức “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam[1]. Lễ hội không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, mà còn làm phong phú thêm bản sắc của miền quê Thuận Thiên[2] - vùng đất không chỉ mang tên gọi của một đơn vị hành chính, mà còn gợi nhắc sâu xa về tinh thần: “Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử”. Đó là đạo lý muôn đời của chí công vô tư, lấy công tâm làm gốc, thuận thiên lý mà hành xử.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Chủ lễ đọc Hịch văn Minh thề (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Pháp luật phong kiến và đạo làm quan

Thời xưa, cha ông ta rất coi trọng việc quy định trách nhiệm và đạo đức công vụ của quan lại. Các vương triều phong kiến đã luật hóa những chuẩn mực đạo đức Nho giáo và truyền thống của người Việt, qua đó góp phần hình thành đội ngũ quan lại có trách nhiệm và giữ gìn kỷ cương phép nước.

Quốc triều Hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) có 216/722 điều khoản (chiếm 29,92%); Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có 180/396 điều khoản (chiếm 45,45%) đề cập đến đạo đức của quan chức đối với vua, đồng liêu, dân, bản thân và công việc. Các quy định đó đã tạo dựng được một đội ngũ quan lại minh trung, có trách nhiệm trong công việc, với dân[3].

Quốc triều Hình luật quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: Nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quan dưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Quốc triều Hình luật (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Quốc triều Hình luật quy định hình phạt đối với hành vi tham ô, nhận hối lộ, kể cả tội “bao che cho người có tội vì hối lộ”. Điều 626 quy định: “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”; Điều 97 quy định “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”…

Hoàng Việt luật lệ có nhiều quy định về tố cáo, khen thưởng, giám sát và xử lý hành vi tham ô, tham nhũng. Bộ luật căn cứ vào cấp bậc, chức vụ của quan lại để định tội và áp dụng hình phạt tương ứng. Những trường hợp nghiêm trọng có thể bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và xóa tên khỏi sổ bộ quan lại, đồng nghĩa với việc bãi chức hoàn toàn. Tùy theo mức độ vi phạm và số tiền của nhận hối lộ, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt như lưu đày, đồ, bãi nhiệm hoặc đánh đòn.

Quyển 17 (Hình luật) tại Điều 4 viết về nhận đút lót: “Phàm chưa trực tiếp với sự việc mà quan lại hứa nhận tiền của, nếu làm cong luật pháp thì xử theo chỗ cong đó, còn việc không làm cong luật pháp thì xử theo chỗ không cong”[4].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Mộc bản Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Bên cạnh việc quy định về tội và hình phạt trong các bộ luật, các triều đại phong kiến còn quy định về cơ chế hồi tỵ[5]. Trong lịch sử phong kiến, Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là vị vua đầu tiên thực hiện hóa các quy định hồi tỵ trong nỗ lực đổi mới thể chế chính trị và quan chế. Quốc sử ghi lại quá trình xây dựng luật, nhà vua xuống chiếu “cấm quan lại lấy đàn bà, con gái trong bộ hạt” (năm Hồng Đức thứ 17 - 1486); “các quan phủ, huyện, châu, hễ là anh em ruột con chú con bác, bác cháu, cậu cháu, thì chỉ cho một người làm xã trưởng để trừ tệ bè phái hùa nhau” (1488). Đối tượng thực hiện hồi tỵ thời Lê Sơ là các quan đứng đầu bộ máy, chính quyền địa phương. Các nội dung hồi tỵ sau được luật hóa trong Quốc triều Hình luật.

Dưới triều Nguyễn, kinh nghiệm áp dụng luật hồi tỵ được nâng thành phương châm dùng người đó là: “Khi đã dùng người khoa bảng, triều đình thường giao nhiều trọng trách khác nhau để họ có điều kiện luân chuyển, rèn luyện, thử thách, mài dũa, trưởng thành”.

Những điều luật trong các bộ luật thời phong kiến quy định về các tội tham ô, nhận hối lộ, việc xử và phòng ngừa tham nhũng cho thấy, quan điểm phòng, chống tham nhũng của các thời đại phong kiến Việt Nam khá toàn diện, làm tiền đề cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ngày nay.

Án xử thời phong kiến và những bài học lịch sử

Không dừng lại ở quy phạm, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước hiện thực hóa tinh thần chống tham nhũng bằng những vụ án cụ thể, thể hiện thái độ kiên quyết, công minh trong xử lý quan lại thoái hóa, biến chất. Không ít án xử nêu gương ở triều Lê, triều Nguyễn đã khẳng định quyết tâm giữ sạch bộ máy quan lại, coi liêm chính là chuẩn mực sống còn của quốc gia. Những bản án nghiêm khắc được ghi lại trong chính sử không chỉ mang tính răn đe mà còn truyền đi thông điệp: Không ai đứng trên luật pháp, dù quyền cao chức trọng.

Theo sách “Đại Nam thực lục”, tháng 12/1854, thương nhân Trung Quốc là Chu Trung Lập đã tố giác nhiều quan lại triều đình nhận đút lót của thuyền buôn ngoại quốc ở Quảng Nam. Án được trình lên, chiếu theo Bộ luật Gia Long, 17 người bị xử tội giảo giam hậu (bắt thắt cổ chết nhưng còn tạm giam đợi lệnh), 25 người bị tội lưu đày, 12 người bị tội làm lao dịch, 08 người bị phạt đánh gậy và cách chức[6].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Vua Tự Đức quyết định tử hình viên quan tham nhũng bằng một bài thơ với những câu như: Một ngày một đồng / Ngàn ngày ngàn đồng/ Dây cưa đứt gỗ / Nước giọt thủng đá / Tội không dung tha / Lệnh truyền xử chém. (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Không chỉ trừng phạt, một số triều đại còn có hình thức nêu gương, thưởng cho quan liêm chính, từ chối hối lộ. Như vậy, có thể thấy, ở mỗi triều đại phong kiến khác nhau đều đã có những biện pháp khá toàn diện, hiệu quả để ngăn ngừa và xử lý tệ tham nhũng trong đội ngũ quan lại triều đình. Hệ thống những biện pháp, hình phạt đó đã góp phần quan trọng giúp các triều đại phong kiến Việt Nam phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đặc biệt vào những giai đoạn thịnh trị.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Ths. Nguyễn Thị Diệp Linh

ThS. Trần Xuân Hiến

Bài 2: Từ lời Bác đến chủ trương, chính sách trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bài cuối: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ bằng pháp luật.

Tài liệu tham khảo:

1. Hịch văn Hội Minh Thề tại Khu di tích đền chùa Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

2. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong.

3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html.


  1. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong, truy cập ngày 30/6/2025.

  2. Trước khi thực hiện Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng năm 2025, Lễ hội Minh Thề được tổ chức tại thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

  3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

  4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

  5. Hồi tỵ là từ Hán Việt cổ, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “hồi” là đi trở về; “tỵ” là lánh ra. Hồi tỵ có nghĩa là lánh đi. Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, hồi tỵ là tránh đi. Người làm quan đứng đầu địa phương, nếu có họ hàng là thuộc liêu ở đó thì quan chức ấy phải được đổi bổ đi nơi khác (nguồn: Đào Bích Hành - Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 4 - Tập VII, năm 2013).

  6. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html, truy cập ngày 30/6/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: