Thứ sáu 13/03/2026 20:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số ở Việt Nam

: Bài viết nhận diện tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng, chống các loại tội phạm, hành vi này nhằm tạo ra một môi trường mạng văn minh, lành mạnh

Tóm tắt: Bài viết nhận diện tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng, chống các loại tội phạm, hành vi này nhằm tạo ra một môi trường mạng văn minh, lành mạnh cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Abstract: The article identifies crimes and illegal acts in the field of digital content, and at the same time, proposes solutions to improve the law, improve the effectiveness of preventing and combating these types of crimes and behaviors in order to create a civilized and healthy network environment for agencies, organizations and inpiduals.

1. Thực trạng tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ kỹ thuật số đã kéo theo tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, hậu quả, thiệt hại gây ra có xu hướng nghiêm trọng hơn trước đây. Qua nghiên cứu về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam, có thể thấy rằng, một trong những phương thức, thủ đoạn phổ biến của tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam là phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số. Bản chất các hành vi này là hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (gọi chung là thông tin trên mạng) được quy định tại Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); những hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự là vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội được quy định tại Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử diễn ra phổ biến, có chiều hướng gia tăng trên không gian mạng. Hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật đã ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Có thể nhận định các hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng bao gồm:

Thứ nhất, đưa lên mạng những thông tin sai lệch, bóp méo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm gây hoang mang dư luận, gây tâm lý bất ổn cho người dân hoặc với động cơ, mục đích khác, kéo theo những hệ lụy khó lường về tình hình an ninh, trật tự của đất nước cũng như ở địa phương, cơ sở. Điển hình như vụ việc đã được một số báo chí phản ánh là, trước khi kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV diễn ra vào tháng 6/2018, đã có những đối tượng đưa thông tin trên mạng xã hội với nội dung phản bác, bóp méo, làm sai lệch thông tin của Luật An ninh mạng nhằm phản đối dự luật này được thông qua với nhiều động cơ, mục đích khác nhau như chống chính quyền nhân dân, “câu view”, “câu like”, cho rằng Nhà nước xâm phạm quyền tự do internet...

Thứ hai, đưa lên mạng những thông tin gây hoang mang dư luận, gây bất ổn trong đời sống nhân dân. Điều này được thể hiện ở việc đối tượng đưa lên mạng những thông tin gây sốc nhưng hoàn toàn bịa đặt, phóng đại với những nội dung “muôn hình vạn trạng” để kích thích sự hiếu kỳ của người dùng mạng như: Đưa thông tin là, trên địa bàn xuất hiện đối tượng bắt cóc trẻ em, rồi chú thích bằng hình ảnh giả mạo; những vụ việc gây rối, bạo loạn ở nước ngoài nhưng được biên tập, cắt ghép để giả mạo là ở trong nước; đưa nhiều tin bịa đặt về dịch bệnh Covid-19 trên các trang mạng xã hội đến mức độ làm nhiễu loạn thông tin… Do những thông tin này được “thổi phồng”, lan truyền trên mạng xã hội với hàng triệu người tham gia trong các nhóm, diễn đàn, tốc độ chia sẻ “chóng mặt” nên sự việc không còn là bình thường mà bị đẩy lên mức nghiêm trọng khiến người dân bất an khi chưa thể xác thực được sự đúng sai của thông tin.

Thứ ba, đưa lên mạng những nội dung thù địch, gây mất đoàn kết dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Đối tượng sử dụng mạng máy tính, các phương tiện điện tử để cung cấp, phát tán các thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, các ứng dụng trực tuyến có nội dung tuyên truyền, cổ xúy dân tộc này, bài xích dân tộc khác; xúc phạm đức tin và giáo lý của các tôn giáo; kích động bạo lực; phân biệt vùng miền do khác biệt về đời sống văn hóa, tinh thần… Những nội dung này thường được chú thích bởi những hình ảnh, clip đã được biên tập, chỉnh sửa hoặc bóp méo nhằm định hướng dư luận theo chiều tiêu cực.

Thứ tư, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác qua mạng, thể hiện ở việc đối tượng đưa lên, làm lan truyền rộng rãi trên mạng những thông tin có thể đúng hoặc sai về cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp nhằm mục đích hủy hoại danh tiếng của họ. Vì những hiềm khích cá nhân, cạnh tranh trong kinh doanh, “câu view”, “câu like”… mà đưa những thông tin thuộc bí mật đời tư của người khác lên mạng nhằm làm mất uy tín của họ; hoặc đưa thông tin sai lệch về tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm phá hoại hoạt động kinh doanh, cưỡng đoạt tài sản, tống tiền như: Phao tin doanh nghiệp bị cơ quan điều tra khám xét, chủ doanh nghiệp bị tai nạn, bị chết; các sản phẩm của doanh nghiệp bị lỗi hoặc trong sản phẩm có chất độc hại, côn trùng…

Thứ năm, đe dọa, quấy rối người khác qua mạng: Là hành vi hăm dọa, quấy rối, kiểm soát, gây sợ hãi cho nạn nhân bằng các công cụ giao tiếp qua mạng, như gửi liên tiếp các tin nhắn SMS, tin nhắn trên mạng xã hội, thư điện tử hoặc liên tục gọi điện… với những mức độ khác nhau, nhẹ là gây phiền toái cho nạn nhân, nghiêm trọng hơn là những nội dung đe dọa có thể dẫn đến nạn nhân phải tự tử.

Thứ sáu, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó. Trong đó, thông tin riêng của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin thuộc chủ sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Chẳng hạn: Các thông tin về bộ máy tổ chức, nhân sự, tình hình hoạt động,... của các cơ quan, tổ chức; hình ảnh độc quyền của nghệ sỹ, cầu thủ, người nổi tiếng; thông tin riêng của công dân…

Thứ bảy, lạm dụng tình dục qua mạng: Là hành vi sử dụng công cụ giao tiếp qua mạng để dụ dỗ, kích thích nạn nhân bộc lộ những hình ảnh có tính chất gợi dục sau đó sử dụng chính những hình ảnh đó khống chế nạn nhân hoặc phát tán, khai thác vào những mục đích xấu, vi phạm pháp luật.

Thứ tám, cung cấp trái phép trò chơi trực tuyến: Là hành vi cung cấp các trò chơi trực tuyến có nhiều người chơi tham gia, các trò chơi nhập vai trên internet có nội dung kích động bạo lực, phân biệt, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, vùng miền, đồi trụy, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm… của người khác.

Thứ chín, xâm phạm sở hữu trí tuệ trên mạng: Là hành vi đưa lên các trang mạng các tác phẩm nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc, phim… đã được bảo hộ mà không được phép; tự ý sửa chữa, cắt ghép các tác phẩm khi đưa lên mạng; cung cấp trên các trang mạng các phần mềm bẻ khóa, hướng dẫn cách bẻ khóa các phần mềm, các trò chơi đã đăng ký bản quyền…

Mặc dù phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số không quá phức tạp như các hành vi vi phạm liên quan đến an toàn bảo mật thông tin, tuy nhiên, có thể chia phương thức, thủ đoạn của hành vi vi phạm theo các mức độ sau đây:

- Phương thức thực hiện đơn giản: Trường hợp này, các đối tượng vi phạm chủ yếu sử dụng những chương trình, phần mềm được cài đặt sẵn trên phương tiện điện tử, các dịch vụ trực tuyến sẵn có, các kỹ năng sử dụng mạng máy tính ở dạng đơn giản để thực hiện việc đưa, cung cấp, phát tán các nội dung vi phạm. Cụ thể là: Gọi điện thoại, gửi tin nhắn SMS, gửi tin nhắn qua các phần mềm nhắn tin tức thời (OTT), các trang mạng xã hội, thư điện tử…; lợi dụng việc tạo ra các chủ đề hoặc đưa ra các bình luận trên các trang mạng xã hội (Fanpage, Group)1.

- Phương thức thực hiện phức tạp: Là thủ đoạn các đối tượng sử dụng công nghệ cao để đưa các nội dung vi phạm lên mạng nhưng cần các kỹ năng ở một mức độ cao hơn. Cụ thể, có thể gồm: Sử dụng các trang mạng cho phép tải lên (upload) hoặc tải xuống (download) các tệp dữ liệu một cách rộng rãi2; tự thiết kế các trang mạng, mua tên miền, thuê máy chủ ở nước ngoài, các trang blog với máy chủ ở nước ngoài để đưa lên nội dung vi phạm3.

- Phương thức thực hiện rất phức tạp: Là trường hợp đối tượng sử dụng kỹ năng công nghệ thông tin ở trình độ cao để phát tán, cung cấp, chia sẻ những thông tin có nội dung vi phạm. Các thủ đoạn cụ thể gồm: Xâm nhập trái phép vào hệ thống cơ sở dữ liệu của các trang mạng để đăng tin bài, hình ảnh, phim,… có nội dung vi phạm; sử dụng mạng máy tính “ma” (botnet) gửi hàng loạt (spam) thư điện tử, tin nhắn qua các tài khoản mạng xã hội, phần mềm nhắn tin OTT; tự thiết kế, chỉnh sửa phần mềm, thiết kế website để đưa tin, cung cấp hình ảnh, phim, trò chơi… có nội dung vi phạm trên Darknet; xây dựng các mạng ngang hàng p2p (peer to peer) không thông qua máy chủ trung tâm để chia sẻ, cung cấp, mua bán, trao đổi các nội dung vi phạm.

2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về nội dung số

Để phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật liên quan đến nội dung số nhằm hạn chế những tác hại của những thông tin xấu, độc trên không gian mạng tiến tới tạo dựng một môi trường, không gian mạng trong sạch, lành mạnh, lực lượng Công an nhân dân cần thực hiện tốt các mặt công tác sau đây:

Một là, xây dựng và ban hành các chính sách, pháp luật kiểm soát nội dung các thông tin trên mạng, bảo vệ thông tin riêng và quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Việc xây dựng các chính sách này cần phải lấy Luật An ninh mạng làm cơ sở, hành lang pháp lý quan trọng. Các chính sách tập trung vào những yêu cầu sau:

- Về mặt kỹ thuật, cần thiết kế các bộ lọc dữ liệu quy chuẩn quốc gia cho phép chặn các nội dung vi phạm: Lọc những nội dung thù địch, chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, nội dung khiêu dâm,…

- Về mặt con người, cần có bộ phận chuyên trách được đào tạo bài bản để quản lý, khai thác, vận hành các hệ thống lọc nội dung.

Hai là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin; tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến thông tin số để người dân biết và đề phòng và tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật trong lĩnh vực nội dung số. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng làm phương tiện tuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là có thể sử dụng ngay mạng xã hội làm công cụ tuyên truyền. Các trang mạng xã hội có uy tín, số lượng người tham gia đông cần yêu cầu bộ phận quản trị thiết kế các mục riêng về các văn bản quy phạm pháp luật, các đường dẫn đến các trang tin về văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động đưa hoặc sử dụng thông tin trên mạng để mỗi người sử dụng có thể tìm đọc, hiểu, phòng tránh những hành vi vi phạm và tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến nội dung số.

Ba là, nâng cao hiệu quả các biện pháp công tác công an trong phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về nội dung số như: Chủ động, tích cực xây dựng các diễn đàn, các trang mạng xã hội để tạo lập các chủ đề mang tính định hướng tích cực, phản bác các quan điểm sai trái, lệch lạc; tích cực tham gia vào các diễn đàn trên mạng xã hội để chủ động nắm bắt thông tin, xu hướng của tội phạm liên quan đến nội dung số để có biện pháp phòng, chống một cách phù hợp; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm.

Bốn là, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông, các tổ chức về an ninh, an toàn thông tin (Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, BKAV, VNCERT, Viettel, VNPT, FPT,…) trong trao đổi thông tin, nắm tình hình về tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số; phối hợp trong xây dựng các giải pháp để tham mưu cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về nội dung số; phối hợp trong điều tra, khám phá các vụ án đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, ngăn chặn các nội dung vi phạm trên không gian mạng. Tăng cường hợp tác quốc tế là một biện pháp quan trọng trong việc bảo vệ thông tin riêng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Trong đó, các nội dung phối hợp cần được xây dựng trên cơ sở Luật An ninh mạng, đặc biệt chú ý đến các dữ liệu cá nhân, thông tin người dùng tại Việt Nam. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng quy định: Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ; các doanh nghiệp này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Đinh Thành An
Học viện Cảnh sát nhân dân


1. Điển hình như vụ việc xảy ra ngày 02/9/2021, chủ trang Facebook “Giang Kim Cúc và các cộng sự” phát trực tiếp với nội dung “bà ngoại rút ống thở của cháu nhiễm Covid-19”, thực tế, đây là tin giả, sai sự thật bởi cháu bé đã mất trước khi đến bệnh viện, sự việc đã tạo ra nhiều luồng thông tin trái chiều, gây bức xúc, phẫn nộ trong dư luận (vụ việc đã được nhiều báo chí đưa tin).

2. Một số trang cho phép tải lên và lưu trữ dữ liệu như: Facebook, Youtube, TikTok, Google Drive, OneDrive, Drop Box…

3. Thông thường, các trang mạng này được đối tượng lập ra để mua bán, trao đổi, công khai hóa các thông tin riêng hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân (thông tin về bộ máy tổ chức, hoạt động kinh doanh, thẻ tín dụng…). Khi các trang mạng bị cơ quan quản lý nhà nước chặn thì đối tượng nhanh chóng thay đổi tên miền.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: