Thứ ba 13/10/2026 10:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số ở Việt Nam

: Bài viết nhận diện tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng, chống các loại tội phạm, hành vi này nhằm tạo ra một môi trường mạng văn minh, lành mạnh

Tóm tắt: Bài viết nhận diện tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng, chống các loại tội phạm, hành vi này nhằm tạo ra một môi trường mạng văn minh, lành mạnh cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Abstract: The article identifies crimes and illegal acts in the field of digital content, and at the same time, proposes solutions to improve the law, improve the effectiveness of preventing and combating these types of crimes and behaviors in order to create a civilized and healthy network environment for agencies, organizations and inpiduals.

1. Thực trạng tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ kỹ thuật số đã kéo theo tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, hậu quả, thiệt hại gây ra có xu hướng nghiêm trọng hơn trước đây. Qua nghiên cứu về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam, có thể thấy rằng, một trong những phương thức, thủ đoạn phổ biến của tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam là phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số. Bản chất các hành vi này là hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (gọi chung là thông tin trên mạng) được quy định tại Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); những hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự là vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội được quy định tại Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử diễn ra phổ biến, có chiều hướng gia tăng trên không gian mạng. Hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật đã ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Có thể nhận định các hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng bao gồm:

Thứ nhất, đưa lên mạng những thông tin sai lệch, bóp méo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm gây hoang mang dư luận, gây tâm lý bất ổn cho người dân hoặc với động cơ, mục đích khác, kéo theo những hệ lụy khó lường về tình hình an ninh, trật tự của đất nước cũng như ở địa phương, cơ sở. Điển hình như vụ việc đã được một số báo chí phản ánh là, trước khi kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV diễn ra vào tháng 6/2018, đã có những đối tượng đưa thông tin trên mạng xã hội với nội dung phản bác, bóp méo, làm sai lệch thông tin của Luật An ninh mạng nhằm phản đối dự luật này được thông qua với nhiều động cơ, mục đích khác nhau như chống chính quyền nhân dân, “câu view”, “câu like”, cho rằng Nhà nước xâm phạm quyền tự do internet...

Thứ hai, đưa lên mạng những thông tin gây hoang mang dư luận, gây bất ổn trong đời sống nhân dân. Điều này được thể hiện ở việc đối tượng đưa lên mạng những thông tin gây sốc nhưng hoàn toàn bịa đặt, phóng đại với những nội dung “muôn hình vạn trạng” để kích thích sự hiếu kỳ của người dùng mạng như: Đưa thông tin là, trên địa bàn xuất hiện đối tượng bắt cóc trẻ em, rồi chú thích bằng hình ảnh giả mạo; những vụ việc gây rối, bạo loạn ở nước ngoài nhưng được biên tập, cắt ghép để giả mạo là ở trong nước; đưa nhiều tin bịa đặt về dịch bệnh Covid-19 trên các trang mạng xã hội đến mức độ làm nhiễu loạn thông tin… Do những thông tin này được “thổi phồng”, lan truyền trên mạng xã hội với hàng triệu người tham gia trong các nhóm, diễn đàn, tốc độ chia sẻ “chóng mặt” nên sự việc không còn là bình thường mà bị đẩy lên mức nghiêm trọng khiến người dân bất an khi chưa thể xác thực được sự đúng sai của thông tin.

Thứ ba, đưa lên mạng những nội dung thù địch, gây mất đoàn kết dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Đối tượng sử dụng mạng máy tính, các phương tiện điện tử để cung cấp, phát tán các thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, các ứng dụng trực tuyến có nội dung tuyên truyền, cổ xúy dân tộc này, bài xích dân tộc khác; xúc phạm đức tin và giáo lý của các tôn giáo; kích động bạo lực; phân biệt vùng miền do khác biệt về đời sống văn hóa, tinh thần… Những nội dung này thường được chú thích bởi những hình ảnh, clip đã được biên tập, chỉnh sửa hoặc bóp méo nhằm định hướng dư luận theo chiều tiêu cực.

Thứ tư, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác qua mạng, thể hiện ở việc đối tượng đưa lên, làm lan truyền rộng rãi trên mạng những thông tin có thể đúng hoặc sai về cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp nhằm mục đích hủy hoại danh tiếng của họ. Vì những hiềm khích cá nhân, cạnh tranh trong kinh doanh, “câu view”, “câu like”… mà đưa những thông tin thuộc bí mật đời tư của người khác lên mạng nhằm làm mất uy tín của họ; hoặc đưa thông tin sai lệch về tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm phá hoại hoạt động kinh doanh, cưỡng đoạt tài sản, tống tiền như: Phao tin doanh nghiệp bị cơ quan điều tra khám xét, chủ doanh nghiệp bị tai nạn, bị chết; các sản phẩm của doanh nghiệp bị lỗi hoặc trong sản phẩm có chất độc hại, côn trùng…

Thứ năm, đe dọa, quấy rối người khác qua mạng: Là hành vi hăm dọa, quấy rối, kiểm soát, gây sợ hãi cho nạn nhân bằng các công cụ giao tiếp qua mạng, như gửi liên tiếp các tin nhắn SMS, tin nhắn trên mạng xã hội, thư điện tử hoặc liên tục gọi điện… với những mức độ khác nhau, nhẹ là gây phiền toái cho nạn nhân, nghiêm trọng hơn là những nội dung đe dọa có thể dẫn đến nạn nhân phải tự tử.

Thứ sáu, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó. Trong đó, thông tin riêng của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin thuộc chủ sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Chẳng hạn: Các thông tin về bộ máy tổ chức, nhân sự, tình hình hoạt động,... của các cơ quan, tổ chức; hình ảnh độc quyền của nghệ sỹ, cầu thủ, người nổi tiếng; thông tin riêng của công dân…

Thứ bảy, lạm dụng tình dục qua mạng: Là hành vi sử dụng công cụ giao tiếp qua mạng để dụ dỗ, kích thích nạn nhân bộc lộ những hình ảnh có tính chất gợi dục sau đó sử dụng chính những hình ảnh đó khống chế nạn nhân hoặc phát tán, khai thác vào những mục đích xấu, vi phạm pháp luật.

Thứ tám, cung cấp trái phép trò chơi trực tuyến: Là hành vi cung cấp các trò chơi trực tuyến có nhiều người chơi tham gia, các trò chơi nhập vai trên internet có nội dung kích động bạo lực, phân biệt, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, vùng miền, đồi trụy, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm… của người khác.

Thứ chín, xâm phạm sở hữu trí tuệ trên mạng: Là hành vi đưa lên các trang mạng các tác phẩm nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc, phim… đã được bảo hộ mà không được phép; tự ý sửa chữa, cắt ghép các tác phẩm khi đưa lên mạng; cung cấp trên các trang mạng các phần mềm bẻ khóa, hướng dẫn cách bẻ khóa các phần mềm, các trò chơi đã đăng ký bản quyền…

Mặc dù phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số không quá phức tạp như các hành vi vi phạm liên quan đến an toàn bảo mật thông tin, tuy nhiên, có thể chia phương thức, thủ đoạn của hành vi vi phạm theo các mức độ sau đây:

- Phương thức thực hiện đơn giản: Trường hợp này, các đối tượng vi phạm chủ yếu sử dụng những chương trình, phần mềm được cài đặt sẵn trên phương tiện điện tử, các dịch vụ trực tuyến sẵn có, các kỹ năng sử dụng mạng máy tính ở dạng đơn giản để thực hiện việc đưa, cung cấp, phát tán các nội dung vi phạm. Cụ thể là: Gọi điện thoại, gửi tin nhắn SMS, gửi tin nhắn qua các phần mềm nhắn tin tức thời (OTT), các trang mạng xã hội, thư điện tử…; lợi dụng việc tạo ra các chủ đề hoặc đưa ra các bình luận trên các trang mạng xã hội (Fanpage, Group)1.

- Phương thức thực hiện phức tạp: Là thủ đoạn các đối tượng sử dụng công nghệ cao để đưa các nội dung vi phạm lên mạng nhưng cần các kỹ năng ở một mức độ cao hơn. Cụ thể, có thể gồm: Sử dụng các trang mạng cho phép tải lên (upload) hoặc tải xuống (download) các tệp dữ liệu một cách rộng rãi2; tự thiết kế các trang mạng, mua tên miền, thuê máy chủ ở nước ngoài, các trang blog với máy chủ ở nước ngoài để đưa lên nội dung vi phạm3.

- Phương thức thực hiện rất phức tạp: Là trường hợp đối tượng sử dụng kỹ năng công nghệ thông tin ở trình độ cao để phát tán, cung cấp, chia sẻ những thông tin có nội dung vi phạm. Các thủ đoạn cụ thể gồm: Xâm nhập trái phép vào hệ thống cơ sở dữ liệu của các trang mạng để đăng tin bài, hình ảnh, phim,… có nội dung vi phạm; sử dụng mạng máy tính “ma” (botnet) gửi hàng loạt (spam) thư điện tử, tin nhắn qua các tài khoản mạng xã hội, phần mềm nhắn tin OTT; tự thiết kế, chỉnh sửa phần mềm, thiết kế website để đưa tin, cung cấp hình ảnh, phim, trò chơi… có nội dung vi phạm trên Darknet; xây dựng các mạng ngang hàng p2p (peer to peer) không thông qua máy chủ trung tâm để chia sẻ, cung cấp, mua bán, trao đổi các nội dung vi phạm.

2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về nội dung số

Để phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật liên quan đến nội dung số nhằm hạn chế những tác hại của những thông tin xấu, độc trên không gian mạng tiến tới tạo dựng một môi trường, không gian mạng trong sạch, lành mạnh, lực lượng Công an nhân dân cần thực hiện tốt các mặt công tác sau đây:

Một là, xây dựng và ban hành các chính sách, pháp luật kiểm soát nội dung các thông tin trên mạng, bảo vệ thông tin riêng và quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Việc xây dựng các chính sách này cần phải lấy Luật An ninh mạng làm cơ sở, hành lang pháp lý quan trọng. Các chính sách tập trung vào những yêu cầu sau:

- Về mặt kỹ thuật, cần thiết kế các bộ lọc dữ liệu quy chuẩn quốc gia cho phép chặn các nội dung vi phạm: Lọc những nội dung thù địch, chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, nội dung khiêu dâm,…

- Về mặt con người, cần có bộ phận chuyên trách được đào tạo bài bản để quản lý, khai thác, vận hành các hệ thống lọc nội dung.

Hai là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin; tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến thông tin số để người dân biết và đề phòng và tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật trong lĩnh vực nội dung số. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng làm phương tiện tuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là có thể sử dụng ngay mạng xã hội làm công cụ tuyên truyền. Các trang mạng xã hội có uy tín, số lượng người tham gia đông cần yêu cầu bộ phận quản trị thiết kế các mục riêng về các văn bản quy phạm pháp luật, các đường dẫn đến các trang tin về văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động đưa hoặc sử dụng thông tin trên mạng để mỗi người sử dụng có thể tìm đọc, hiểu, phòng tránh những hành vi vi phạm và tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến nội dung số.

Ba là, nâng cao hiệu quả các biện pháp công tác công an trong phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về nội dung số như: Chủ động, tích cực xây dựng các diễn đàn, các trang mạng xã hội để tạo lập các chủ đề mang tính định hướng tích cực, phản bác các quan điểm sai trái, lệch lạc; tích cực tham gia vào các diễn đàn trên mạng xã hội để chủ động nắm bắt thông tin, xu hướng của tội phạm liên quan đến nội dung số để có biện pháp phòng, chống một cách phù hợp; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm.

Bốn là, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông, các tổ chức về an ninh, an toàn thông tin (Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, BKAV, VNCERT, Viettel, VNPT, FPT,…) trong trao đổi thông tin, nắm tình hình về tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nội dung số; phối hợp trong xây dựng các giải pháp để tham mưu cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về nội dung số; phối hợp trong điều tra, khám phá các vụ án đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, ngăn chặn các nội dung vi phạm trên không gian mạng. Tăng cường hợp tác quốc tế là một biện pháp quan trọng trong việc bảo vệ thông tin riêng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Trong đó, các nội dung phối hợp cần được xây dựng trên cơ sở Luật An ninh mạng, đặc biệt chú ý đến các dữ liệu cá nhân, thông tin người dùng tại Việt Nam. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng quy định: Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ; các doanh nghiệp này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Đinh Thành An
Học viện Cảnh sát nhân dân


1. Điển hình như vụ việc xảy ra ngày 02/9/2021, chủ trang Facebook “Giang Kim Cúc và các cộng sự” phát trực tiếp với nội dung “bà ngoại rút ống thở của cháu nhiễm Covid-19”, thực tế, đây là tin giả, sai sự thật bởi cháu bé đã mất trước khi đến bệnh viện, sự việc đã tạo ra nhiều luồng thông tin trái chiều, gây bức xúc, phẫn nộ trong dư luận (vụ việc đã được nhiều báo chí đưa tin).

2. Một số trang cho phép tải lên và lưu trữ dữ liệu như: Facebook, Youtube, TikTok, Google Drive, OneDrive, Drop Box…

3. Thông thường, các trang mạng này được đối tượng lập ra để mua bán, trao đổi, công khai hóa các thông tin riêng hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân (thông tin về bộ máy tổ chức, hoạt động kinh doanh, thẻ tín dụng…). Khi các trang mạng bị cơ quan quản lý nhà nước chặn thì đối tượng nhanh chóng thay đổi tên miền.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: