Thứ sáu 13/03/2026 00:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm khác nhau về một vụ cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Thực tiễn thi hành án dân sự cũng có nhiều vụ việc rất khó thi hành do nguyên nhân từ sự nhận thức điều luật khác nhau của các chủ thể và cách vận dụng điều luật vào thực tiễn thi hành án cũng khác nhau, dẫn đến nhiều vụ việc có những quan điểm không đồng nhất và chấp hành viên không biết lựa chọn làm theo phương án nào cho phù hợp và đúng quy định pháp luật. Xin đơn cử một vụ việc:

Thực tiễn thi hành án dân sự cũng có nhiều vụ việc rất khó thi hành do nguyên nhân từ sự nhận thức điều luật khác nhau của các chủ thể và cách vận dụng điều luật vào thực tiễn thi hành án cũng khác nhau, dẫn đến nhiều vụ việc có những quan điểm không đồng nhất và chấp hành viên không biết lựa chọn làm theo phương án nào cho phù hợp và đúng quy định pháp luật. Xin đơn cử một vụ việc:

Đó là vụ tranh chấp hợp đồng vay mượn tài sản giữa nguyên đơn là vợ chồng ông Diệp Tư H với bà Huỳnh Thị A và Đặng Thị B theo Bản án số 06/2013/DS-ST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, ngày 30/02/2014 cơ quan thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh P ra các quyết định thi hành án buộc vợ chồng ông Diệp Tư H phải trả cho bà Huỳnh Thị A số tiền 280 triệu đồng, trả cho bà Đặng Thị B số tiền 105 triệu đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Ngoài ra, còn phải nộp 20 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong quá trình thi hành án, cơ quan thi hành án đã tiến hành xác minh về điều kiện thi hành án, thì được biết vợ chồng ông H chỉ có duy nhất ngôi nhà cấp 3 diện tích khoản 200m2 tọa lạc tại trung tâm thành phố T, tỉnh P, ngôi nhà gắn liền quyền sử dụng đất có giá trị theo giá thị trường khoảng 2 tỷ đồng. Tài sản này trước đó đã thế chấp ở ngân hàng để vay một khoản tiền (tính đến ngày 01/03/2014 gốc và lãi khoảng 1,8 tỷ đồng). Tại thời điểm xác minh thi hành án, cơ quan đăng ký, quản lý đất đai thành phố T và vợ chồng ông Diệp Tư H cho biết là đã thế chấp ngôi nhà cấp 3 gắn liền quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh P với số dư nợ gốc và lãi khoảng 1,8 tỷ đồng. Do không có khả năng trả nợ, nên vợ chồng ông Diệp Tư H đã chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ đã trực tiếp nộp tiền trả cho ngân hàng, lấy giấy tờ sở hữu ra, để ký hợp đồng mua bán. Sau đó, chấp hành viên tiếp tục xác minh và được biết: Ngày 28/11/2012 vợ chồng ông Diệp Tư H đã ký hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ tại Văn phòng công chứng tỉnh P. Đến ngày 06/12/2012, Tòa án nhân dân thành phố T có công văn số 290/CV-TA, nội dung: Đề nghị tạm dừng việc làm thủ tục mua bán chuyển nhượng đối với ngôi nhà cấp 3 đó. Căn cứ công văn của Toà án, nên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T có văn bản tạm dừng việc làm thủ tục sang tên trước bạ cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ nhận chuyển nhượng tài sản từ vợ chồng ông Diệp Tư H. Ngoài tài sản này ra, vợ chồng ông Diệp Tư H không còn tài sản nào khác để thi hành án.

Trong thời gian cơ quan thi hành án dân sự thành phố T tiến hành xác minh và giải quyết vụ việc với các bên đương sự, thì ngày 15/7/2013 Tòa án nhân dân thành phố T lại có công văn số 192/CV-TA về việc “đề nghị Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T cho phép vợ chồng ông Diệp Tư H chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 đó theo quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện thi hành các Bản án của Tòa án nhân dân thành phố T”. Công văn này phủ định lại và nhằm giải tỏa nội dung Công văn số 290/CV-TA ngày 06/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố T để các bên được quyền mua bán, chuyển nhượng với nhau. Cho nên, cơ quan thi hành án rất khó xử lý vụ việc.

Như vậy, việc ký hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 gắn liền quyền sử dụng đất đó (ngày 28/11/2012) đã hình thành trước thời điểm Bản án xét xử sơ thẩm (ngày 25/01/2013) và bên mua tài sản đó vẫn chưa đăng ký được hồ sơ sang tên trước bạ ở cơ quan có thẩm quyền. Do việc chậm thi hành án, nên đương sự có đơn khiếu nại và yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, xử lý tài sản là ngôi nhà cấp 3 của vợ chồng ông Diệp Tư H, để đảm bảo thi hành án. Lúc này lại hình thành nhiều ý kiến khác nhau. Để góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự, tác giả bài viết xin nêu ra một số quan điểm trao đổi như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ các Điều 168, Điều 688 và Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 46 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất lập ngày 17/12/2012 nêu trên chưa xác lập quyền sử dụng cho người nhận chuyển nhượng. Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vẫn còn là tài sản của vợ chồng ông Diệp Tư H. Do đó, áp dụng theo quy định tại Điều 95 và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự để tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định pháp luật. Bởi lẽ, tại Điều 75 xử lý tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp có quy định: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này”. Cho nên, quan điểm thứ nhất đồng tình với ý kiến tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định và hướng dẫn đương sự khởi kiện tại Toà án theo Điều 75 Luật Thi hành án dân sự là phù hợp pháp luật và bảo vệ được quyền và lợi ích cho bên được thi hành án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Chấp hành viên không thể áp dụng theo quy định tại Điều 95 và Điều 75 để tiến hành kê biên, xử lý tài sản có tranh chấp của vợ chồng ông Diệp Tư H được. Bởi vì, tài sản đó vợ chồng ông Diệp Tư H đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và hợp đồng chuyển nhượng được ký hợp pháp tại Văn phòng công chứng tỉnh P, phù hợp với quy định của Luật Nhà ở năm 2005, cụ thể: “... quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân…” [1]. Việc mua bán giữa hai bên đương sự không có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Mặt khác, trước khi chuyển nhượng, tài sản đó đang thế chấp tại ngân hàng và được bên mua tài sản nộp tiền trực tiếp, lấy giấy tờ sở hữu ra để ký hợp đồng chuyển nhượng, lúc này tài sản vẫn chưa phát sinh tranh chấp, việc mua bán hợp pháp được cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo quy định pháp luật. Thời điểm ký hợp đồng công chứng vào ngày 28/11/2012, còn bản án xét xử vào ngày 25/01/2013, cho nên, chấp hành viên không thể áp dụng biện pháp kê biên ngôi nhà gắn liền quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Diệp Tư H được. Bởi lẽ, tài sản đó đã chuyển nhượng bằng hợp đồng công chứng trước khi có Bản án số 02/2013/DS-ST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P và không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy, vụ việc này sẽ xử lý tiếp là tiến hành xác minh, nếu vợ chồng ông Diệp Tư H không còn tài sản nào khác, thì áp dụng theo quy định tại Điều 51 để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án, bên được thi hành án được quyền cung cấp và chứng minh điều kiện thi hành án và quyền yêu cầu thi hành án trở lại.

Quan điểm thứ ba cho rằng: Tài sản đó đã ký hợp đồng chuyển nhượng, tuy chưa sang tên trước bạ và việc mua bán giữa các bên đương sự hợp pháp, ngay thẳng không có dấu hiệu tẩu tán tài sản, người mua tài sản cũng đã nộp tiền trực tiếp tại ngân hàng. Tại thời điểm mua bán chưa có bản án sơ thẩm ra đời, có nghĩa là chưa phát sinh tranh chấp dân sự giữa vợ chồng ông Diệp Tư H với vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ, nên không có cơ sở để cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp đảm bảo để ngăn chặn được. Mặc khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì rõ ràng ngôi nhà cấp 3 của vợ chồng ông Diệp Tư H đã ký hợp đồng chuyển nhượng trước thời điểm xét xử sơ thẩm, nên tài sản đó không thể kê biên, xử lý được. Còn đối chiếu theo quy định tại Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005, thì tài sản được xác định sở hữu chủ tài sản cho người khác từ thời điểm có hợp đồng công chứng đã ký. Còn việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2005). Như vậy, giữa hai điều luật về nhà ở và luật đất đai có độ vênh với nhau, nên không xác định được áp dụng theo điều luật nào cho phù hợp. Nếu trường hợp chấp hành viên tiến hành kê biên theo quan điểm thứ nhất, thì lại không phù hợp với Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005, người mua tài sản được quyền khiếu nại và khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, khi tranh chấp xảy ra, thì Toà án vẫn áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự để xét xử, tất nhiên là người mua tài sản sẽ thắng kiện và sẽ huỷ quyết định kê biên của chấp hành viên (nếu đã kê biên theo quan điểm thứ nhất).

Tác giả bài viết cũng đồng tình theo quan điểm thứ hai. Để góp phần tìm ra giải pháp xử lý vừa hợp tình hợp lý và đúng quy định pháp luật, tác giả mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp, nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động thi hành án dân sự.

Lê Lanh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: