Thứ hai 08/06/2026 18:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm khác nhau về một vụ cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Thực tiễn thi hành án dân sự cũng có nhiều vụ việc rất khó thi hành do nguyên nhân từ sự nhận thức điều luật khác nhau của các chủ thể và cách vận dụng điều luật vào thực tiễn thi hành án cũng khác nhau, dẫn đến nhiều vụ việc có những quan điểm không đồng nhất và chấp hành viên không biết lựa chọn làm theo phương án nào cho phù hợp và đúng quy định pháp luật. Xin đơn cử một vụ việc:

Thực tiễn thi hành án dân sự cũng có nhiều vụ việc rất khó thi hành do nguyên nhân từ sự nhận thức điều luật khác nhau của các chủ thể và cách vận dụng điều luật vào thực tiễn thi hành án cũng khác nhau, dẫn đến nhiều vụ việc có những quan điểm không đồng nhất và chấp hành viên không biết lựa chọn làm theo phương án nào cho phù hợp và đúng quy định pháp luật. Xin đơn cử một vụ việc:

Đó là vụ tranh chấp hợp đồng vay mượn tài sản giữa nguyên đơn là vợ chồng ông Diệp Tư H với bà Huỳnh Thị A và Đặng Thị B theo Bản án số 06/2013/DS-ST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, ngày 30/02/2014 cơ quan thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh P ra các quyết định thi hành án buộc vợ chồng ông Diệp Tư H phải trả cho bà Huỳnh Thị A số tiền 280 triệu đồng, trả cho bà Đặng Thị B số tiền 105 triệu đồng và tiền lãi chậm thi hành án. Ngoài ra, còn phải nộp 20 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong quá trình thi hành án, cơ quan thi hành án đã tiến hành xác minh về điều kiện thi hành án, thì được biết vợ chồng ông H chỉ có duy nhất ngôi nhà cấp 3 diện tích khoản 200m2 tọa lạc tại trung tâm thành phố T, tỉnh P, ngôi nhà gắn liền quyền sử dụng đất có giá trị theo giá thị trường khoảng 2 tỷ đồng. Tài sản này trước đó đã thế chấp ở ngân hàng để vay một khoản tiền (tính đến ngày 01/03/2014 gốc và lãi khoảng 1,8 tỷ đồng). Tại thời điểm xác minh thi hành án, cơ quan đăng ký, quản lý đất đai thành phố T và vợ chồng ông Diệp Tư H cho biết là đã thế chấp ngôi nhà cấp 3 gắn liền quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh P với số dư nợ gốc và lãi khoảng 1,8 tỷ đồng. Do không có khả năng trả nợ, nên vợ chồng ông Diệp Tư H đã chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ đã trực tiếp nộp tiền trả cho ngân hàng, lấy giấy tờ sở hữu ra, để ký hợp đồng mua bán. Sau đó, chấp hành viên tiếp tục xác minh và được biết: Ngày 28/11/2012 vợ chồng ông Diệp Tư H đã ký hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ tại Văn phòng công chứng tỉnh P. Đến ngày 06/12/2012, Tòa án nhân dân thành phố T có công văn số 290/CV-TA, nội dung: Đề nghị tạm dừng việc làm thủ tục mua bán chuyển nhượng đối với ngôi nhà cấp 3 đó. Căn cứ công văn của Toà án, nên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T có văn bản tạm dừng việc làm thủ tục sang tên trước bạ cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ nhận chuyển nhượng tài sản từ vợ chồng ông Diệp Tư H. Ngoài tài sản này ra, vợ chồng ông Diệp Tư H không còn tài sản nào khác để thi hành án.

Trong thời gian cơ quan thi hành án dân sự thành phố T tiến hành xác minh và giải quyết vụ việc với các bên đương sự, thì ngày 15/7/2013 Tòa án nhân dân thành phố T lại có công văn số 192/CV-TA về việc “đề nghị Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T cho phép vợ chồng ông Diệp Tư H chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 đó theo quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện thi hành các Bản án của Tòa án nhân dân thành phố T”. Công văn này phủ định lại và nhằm giải tỏa nội dung Công văn số 290/CV-TA ngày 06/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố T để các bên được quyền mua bán, chuyển nhượng với nhau. Cho nên, cơ quan thi hành án rất khó xử lý vụ việc.

Như vậy, việc ký hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà cấp 3 gắn liền quyền sử dụng đất đó (ngày 28/11/2012) đã hình thành trước thời điểm Bản án xét xử sơ thẩm (ngày 25/01/2013) và bên mua tài sản đó vẫn chưa đăng ký được hồ sơ sang tên trước bạ ở cơ quan có thẩm quyền. Do việc chậm thi hành án, nên đương sự có đơn khiếu nại và yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, xử lý tài sản là ngôi nhà cấp 3 của vợ chồng ông Diệp Tư H, để đảm bảo thi hành án. Lúc này lại hình thành nhiều ý kiến khác nhau. Để góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự, tác giả bài viết xin nêu ra một số quan điểm trao đổi như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ các Điều 168, Điều 688 và Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 46 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất lập ngày 17/12/2012 nêu trên chưa xác lập quyền sử dụng cho người nhận chuyển nhượng. Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vẫn còn là tài sản của vợ chồng ông Diệp Tư H. Do đó, áp dụng theo quy định tại Điều 95 và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự để tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định pháp luật. Bởi lẽ, tại Điều 75 xử lý tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp có quy định: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này”. Cho nên, quan điểm thứ nhất đồng tình với ý kiến tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định và hướng dẫn đương sự khởi kiện tại Toà án theo Điều 75 Luật Thi hành án dân sự là phù hợp pháp luật và bảo vệ được quyền và lợi ích cho bên được thi hành án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Chấp hành viên không thể áp dụng theo quy định tại Điều 95 và Điều 75 để tiến hành kê biên, xử lý tài sản có tranh chấp của vợ chồng ông Diệp Tư H được. Bởi vì, tài sản đó vợ chồng ông Diệp Tư H đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và hợp đồng chuyển nhượng được ký hợp pháp tại Văn phòng công chứng tỉnh P, phù hợp với quy định của Luật Nhà ở năm 2005, cụ thể: “... quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân…” [1]. Việc mua bán giữa hai bên đương sự không có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Mặt khác, trước khi chuyển nhượng, tài sản đó đang thế chấp tại ngân hàng và được bên mua tài sản nộp tiền trực tiếp, lấy giấy tờ sở hữu ra để ký hợp đồng chuyển nhượng, lúc này tài sản vẫn chưa phát sinh tranh chấp, việc mua bán hợp pháp được cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo quy định pháp luật. Thời điểm ký hợp đồng công chứng vào ngày 28/11/2012, còn bản án xét xử vào ngày 25/01/2013, cho nên, chấp hành viên không thể áp dụng biện pháp kê biên ngôi nhà gắn liền quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Diệp Tư H được. Bởi lẽ, tài sản đó đã chuyển nhượng bằng hợp đồng công chứng trước khi có Bản án số 02/2013/DS-ST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P và không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy, vụ việc này sẽ xử lý tiếp là tiến hành xác minh, nếu vợ chồng ông Diệp Tư H không còn tài sản nào khác, thì áp dụng theo quy định tại Điều 51 để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án, bên được thi hành án được quyền cung cấp và chứng minh điều kiện thi hành án và quyền yêu cầu thi hành án trở lại.

Quan điểm thứ ba cho rằng: Tài sản đó đã ký hợp đồng chuyển nhượng, tuy chưa sang tên trước bạ và việc mua bán giữa các bên đương sự hợp pháp, ngay thẳng không có dấu hiệu tẩu tán tài sản, người mua tài sản cũng đã nộp tiền trực tiếp tại ngân hàng. Tại thời điểm mua bán chưa có bản án sơ thẩm ra đời, có nghĩa là chưa phát sinh tranh chấp dân sự giữa vợ chồng ông Diệp Tư H với vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ, nên không có cơ sở để cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp đảm bảo để ngăn chặn được. Mặc khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì rõ ràng ngôi nhà cấp 3 của vợ chồng ông Diệp Tư H đã ký hợp đồng chuyển nhượng trước thời điểm xét xử sơ thẩm, nên tài sản đó không thể kê biên, xử lý được. Còn đối chiếu theo quy định tại Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005, thì tài sản được xác định sở hữu chủ tài sản cho người khác từ thời điểm có hợp đồng công chứng đã ký. Còn việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2005). Như vậy, giữa hai điều luật về nhà ở và luật đất đai có độ vênh với nhau, nên không xác định được áp dụng theo điều luật nào cho phù hợp. Nếu trường hợp chấp hành viên tiến hành kê biên theo quan điểm thứ nhất, thì lại không phù hợp với Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005, người mua tài sản được quyền khiếu nại và khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, khi tranh chấp xảy ra, thì Toà án vẫn áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự để xét xử, tất nhiên là người mua tài sản sẽ thắng kiện và sẽ huỷ quyết định kê biên của chấp hành viên (nếu đã kê biên theo quan điểm thứ nhất).

Tác giả bài viết cũng đồng tình theo quan điểm thứ hai. Để góp phần tìm ra giải pháp xử lý vừa hợp tình hợp lý và đúng quy định pháp luật, tác giả mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp, nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động thi hành án dân sự.

Lê Lanh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: