Thứ sáu 13/03/2026 20:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan hệ phối hợp giữa cơ quan an ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong điều tra vụ án hình sự

Quan hệ phối hợp giữa cơ quan an ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong điều tra vụ án hình sự

Tóm tắt: Bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự.

Abstract: The article assesses the current situation and proposes some solutions to improve the efficiency of the coordination relationship between the Investigation Security Agency and relevant agencies and organizations in the investigation of criminal cases.

1. Khái quát về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong điều tra vụ án hình sự

Điều tra hình sự của lực lượng an ninh là hoạt động tố tụng hình sự của Nhà nước, đồng thời là hoạt động nghiệp vụ an ninh do những chủ thể có thẩm quyền của lực lượng an ninh tiến hành để làm rõ vụ án hình sự, đồng thời đáp ứng các yêu cầu khác của công tác phòng, chống tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra[1].

Để làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự và các vấn đề cần thiết khác phục vụ các yêu cầu của công tác phòng, chống tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng an ninh, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật quy định, sử dụng, huy động sức mạnh của mọi lực lượng để thực hiện được những nhiệm vụ nói trên. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị khác xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, yêu cầu nhiệm vụ công tác điều tra cũng cần phối hợp với cơ quan điều tra để giải quyết. Do đó, tổ chức và thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình điều tra vụ án hình sự là vấn đề mang tính tất yếu, khách quan.

Lý luận khoa học điều tra hình sự cho rằng, quan hệ phối hợp trong điều tra vụ án hình sự là quan hệ phân công trách nhiệm và phối hợp cùng hành động giữa cơ quan điều tra với các lực lượng khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng lực lượng phục vụ yêu cầu điều tra, xử lý vụ án hình sự”[2]. Chủ thể chủ trì quan hệ phối hợp trong điều tra vụ án hình sự là cơ quan điều tra. Lực lượng tham gia quan hệ phối hợp với lực lượng điều tra có thể là cơ quan điều tra khác, các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan hỗ trợ tư pháp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội trong việc giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, xuất phát từ các yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể mà công tác điều tra đặt ra, cơ quan điều tra xác định phối hợp với cơ quan, đơn vị nào cũng như những nội dung, mục đích cụ thể trong mối quan hệ phối hợp đó. Trong phạm vi của bài viết này, tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự không bao gồm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đơn vị trinh sát, cơ quan tiến hành tố tụng khác mà tập trung vào mối quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong việc giải quyết vụ án hình sự.

Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự chịu sự chi phối của các quy định pháp luật có liên quan, đặc điểm tình huống điều tra, đặc điểm hình sự của vụ án như đặc điểm hoạt động phạm tội, đặc điểm đối tượng phạm tội, đặc điểm tài liệu chứng cứ trong vụ án... và chức năng, nhiệm vụ, năng lực của cơ quan điều tra và các đơn vị liên quan. Giữa Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự thường có sự phối hợp trong tiến hành các hoạt động điều tra đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định; phối hợp trong khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội; phối hợp trong giám sát, kiểm soát hoạt động của cơ quan điều tra trong khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự.

- Mối quan hệ phối hợp trong tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, biện pháp ngăn chặn đã được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định vẫn là nội dung chủ đạo được đề cập đến nhiều hơn cả. Quan hệ phối hợp trong lĩnh vực này xuất phát từ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. Tại Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 5 quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; khoản 1 Điều 88 quy định về thu thập chứng cứ (để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án); khoản 5 Điều 123 quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú (người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ và nhiều quy định khác). Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 cũng quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự, trong đó có đề cập đến việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, quyết định và tạo điều kiện để cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, người có thẩm quyền điều tra hình sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động điều tra hình sự (Điều 12); về bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động điều tra hình sự, trong trường hợp cấp thiết, để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn, điều tra viên được huy động, sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân, kể cả những người điều khiển phương tiện ấy (Điều 62).

Những quy định trên đã tạo ra cơ sở pháp lý để Cơ quan An ninh điều tra thực hiện mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, biện pháp ngăn chặn.

- Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự còn có việc phối hợp để khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Khi phát hiện ra được những nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra sẽ yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa và cơ quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

- Ngoài ra, Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự còn phối hợp trong giám sát, kiểm soát hoạt động của cơ quan điều tra trong khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự. Nội dung của quan hệ phối hợp này được quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự về kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự và Chương XXXIII quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; Điều 13 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 về giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động điều tra hình sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, mối quan hệ này có điểm mới là lần đầu tiên cụm từ “kiểm soát” được đưa vào nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự “thực hiện kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (khoản 1 Điều 33). Như vậy, chính Cơ quan An ninh điều tra cũng như thủ trưởng, phó thủ trưởng, điều tra viên Cơ quan An ninh điều tra phải tự kiểm soát các hoạt động của mình khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra. Đồng thời, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có sự kiểm soát lẫn nhau, trong giai đoạn khởi tố, điều tra thì việc kiểm soát chủ yếu là do Viện kiểm sát thực hiện cùng với sự giám sát của các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử. Quy định này đã thể hiện rõ yêu cầu xây dựng và hoàn thiện cơ quan điều tra nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, tránh sự lạm quyền khi thực hiện nhiệm vụ.

2. Thực trạng quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức hữu quan khi điều tra vụ án hình sự

Theo Báo cáo số 43/BC-BCA ngày 14/01/2021 của Bộ Công an sơ kết thi hành Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và Báo cáo nghiên cứu “Cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp, tổ chức trong hoạt động khởi tố, điều tra - Những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện và đề xuất kiến nghị” của Đảng ủy Công an Trung ương kèm theo Công văn số 295-CV/ĐUCA ngày 17/8/2021 của Đảng ủy Công an Trung ương gửi Ban chỉ đạo Đề án của Đảng đoàn Quốc hội thì tỷ lệ điều tra, khám phá các vụ án do Cơ quan điều tra của Công an nhân dân thụ lý (trong đó có Cơ quan An ninh điều tra) ở mức cao, các vụ án đình chỉ điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại có tỷ lệ thấp. Có được những thành công này một phần là do đã tổ chức, thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị, phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các cơ quan, đơn vị có liên quan trong điều tra vụ án hình sự.

Tuy nhiên, trong quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Cơ quan An ninh điều tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ, biện pháp ngăn chặn còn có một số hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả khi thực hiện. Đó là: (i) Chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan khi thực hiện các yêu cầu của cơ quan điều tra đối với các hoạt động thu thập, củng cố chứng cứ. (ii) Chế tài xử lý đối với việc thiếu trách nhiệm, không đáp ứng các yêu cầu của các cơ quan, tổ chức chưa đủ sức răn đe. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng năm 2022, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình chưa có chế tài xử lý, thiếu sự răn đe. (iii) Chưa có quy định cụ thể để cơ quan điều tra thực hiện các quyền của mình trong điều tra, chẳng hạn như chưa có sự giải thích về “trường hợp cấp thiết, để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn” hay quy trình “huy động, sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân, kể cả những người điều khiển phương tiện” mà Điều 62 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đã quy định. Chính những hạn chế này dẫn đến trong một số trường hợp nhận thức, ý thức của cả điều tra viên, cán bộ điều tra và cá nhân, tổ chức có liên quan chưa thống nhất, xuất hiện tâm lý ngại va chạm, né tránh. Có trường hợp cơ quan điều tra thực hiện công vụ nhưng phải “xin” để được cung cấp tài liệu từ các tổ chức, đơn vị có liên quan.

Đối với việc phối hợp để khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội, trách nhiệm của cơ quan điều tra chỉ dừng lại ở việc phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa, chưa có quy định việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát, xử lý các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa như thế nào? Việc trả lời bằng văn bản của cơ quan, tổ chức hữu quan chưa được quy định rõ cụ thể nội dung, biện pháp, thời gian khắc phục, phòng ngừa, nếu không trả lời hoặc không có biện pháp khắc phục thì chế tài ra làm sao cũng chưa rõ.

Đối với lĩnh vực giám sát, kiểm soát hoạt động của cơ quan điều tra trong khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự, chưa có quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát trong nội bộ các cơ quan điều tra, mặt khác sự giám sát của các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử vẫn mang tính hình thức, chưa có những quy định cụ thể và cơ chế để thực hiện.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Để nâng cao hơn nữa mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan An ninh điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự, cần thực hiện một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện mô hình, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra nói chung, Cơ quan điều tra Công an nhân dân nói riêng theo tinh thần của Nghị quyết số 14-NQ/ĐUCA ngày 08/11/2022 của Đảng ủy Công an Trung ương và Đề án số 10/ĐA-BCA ngày 07/12/2022 của Bộ Công an về tiếp tục xây dựng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Cơ quan An ninh điều tra thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình, trong đó có thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự.

Hai là, nâng cao nhận thức cho các điều tra viên, cán bộ điều tra về tầm quan trọng, tính tất yếu của việc thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự. Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng cho các điều tra viên, cán bộ điều tra, bao gồm cả kỹ năng làm việc với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trong điều tra vụ án.

Ba là, bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan khi thực hiện các yêu cầu của cơ quan điều tra đối với các hoạt động thu thập, củng cố chứng cứ và yêu cầu, kiến nghị khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội từ phía cơ quan điều tra; chế tài xử lý đối với việc các cơ quan, tổ chức không thực hiện yêu cầu của cơ quan điều tra; quy định cụ thể để cơ quan điều tra thực hiện các quyền của mình trong điều tra khi có tình huống khẩn cấp, liên quan đến tổ chức, cơ quan khác.

Bốn là, cần có quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát trong nội bộ các cơ quan điều tra. Bên cạnh đó, phải triển khai mạnh mẽ và bảo đảm thực hiện nghiêm túc quy định trong các văn bản đã ban hành như Thông tư số 126/2020/TT-BCA ngày 01/12/2020 của Bộ Công an quy định việc thực hiện dân chủ trong hoạt động điều tra của lực lượng Công an nhân dân để bảo đảm mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra vụ án hình sự được thực hiện đa chiều, đúng quy định pháp luật.

TS. Hoàng Tuấn Anh

Học viện An ninh nhân dân

[1]. Hội đồng lý luận Bộ Công an (2020), Tổng tập lý luận nghiệp vụ an ninh, Tập VIII - Nghiệp vụ an ninh điều tra, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[2]. Hội đồng lý luận Bộ Công an (2020), tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: