Thứ ba 13/10/2026 11:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trong bài viết này, tác giả nêu đặc điểm, tình hình quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh. Từ đó, đưa ra một số bất cập của pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.


Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp như hiện nay thì vai trò và lợi ích của rừng ngập mặn ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng. Do đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn của huyện Cần Giờ được ví như là “lá phổi xanh” của TP. Hồ Chí Minh. Ngoài chức năng phòng hộ cải thiện môi trường nước, không khí, giảm nhẹ thiên tai và cân bằng hệ sinh thái thì rừng ngập mặn huyện Cần Giờ còn cung cấp nguồn nguyên vật liệu cho các hoạt động sản xuất, du lịch, nghỉ dưỡng, đồng thời, là phòng thí nghiệm sống cho học tập, nghiên cứu khoa học và cũng là vùng đất ngập nước có giá trị to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần, gắn với cuộc sống cộng đồng dân cư địa phương cũng như các tỉnh lân cận, cung cấp nhiều giá trị khác nhau cho du khách trong và ngoài nước. Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Cần Giờ đã và đang trở thành một nguồn tài nguyên vô cùng quý báu của thành phố và của cả nước.

1. Đặc điểm và công tác quản lý, sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Cần Giờ

Nằm cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh khoảng 50km về phía Đông Nam, huyện Cần Giờ được biết đến là vùng hạ lưu của những con sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn đổ ra biển Đông ở cửa Soài Rạp, Đồng Tranh và Vịnh Gành Rái, là địa phương có hệ thống sông rạch nội vùng chằng chịt với tổng diện tích mặt nước khoảng 21.000ha, chiếm gần 30% diện tích tự nhiên toàn huyện. Rừng ngập mặn huyện Cần Giờ phát triển trên nền phù sa do hệ thống sông Sài Gòn, Đồng Nai mang đến và lắng đọng tạo thành nền đất, kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chế độ thủy triều bán nhật triều và mật độ sông rạch dày đặc đan xen nhau tạo thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Trước đây, rừng ngập mặn huyện Cần Giờ được biết đến với những cây ngập mặn cao to, động thực vật được đánh giá rất đa dạng, phong phú. Giai đoạn trước năm 1976, rừng ngập mặn huyện Cần Giờ có tên là Rừng Sác thuộc khu Rừng Sác miền Đông Nam phần với tổng diện tích 66.611ha, trong đó có 18 khu rừng cấm (59.616 ha) và 03 khu rừng bảo vệ (6.995ha). Riêng phạm vi quản lý của Ty Sài Gòn - Gia Định là 31.910ha, trong đó quận Quảng Xuyên 10.848ha, quận Cần Giờ 17.248 ha (là phần diện tích rừng thuộc huyện Cần Giờ hiện nay) và quận Nhơn Trạch 3.814ha. Trong chiến tranh, hàng triệu lít chất hóa học, hàng ngàn tấn bom đạn được rải xuống đã biến những cánh rừng bạt ngàn xanh tốt của ngập mặn huyện Cần Giờ trở thành vùng đất hoang hóa, khô cằn, nguồn tài nguyên động, thực vật rừng và thủy hải sản gần như bị hủy diệt, môi trường sinh thái bị ô nhiễm trầm trọng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương và các vùng lân cận.

Sau ngày thống nhất đất nước, rừng ngập mặn Cần Giờ (lúc bấy giờ là huyện Duyên Hải) thuộc tỉnh Đồng Nai quản lý. Năm 1978, huyện Duyên Hải được chuyển về cho TP. Hồ Chí Minh quản lý và sau này đổi tên thành huyện Cần Giờ. Ngay sau khi tiếp nhận huyện Cần Giờ từ tỉnh Đồng Nai, với tầm nhìn của lãnh đạo thành phố và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của nhân dân TP. Hồ Chí Minh nói chung và nhân dân huyện Cần Giờ nói riêng trong việc trồng phục hồi lại hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Cần Giờ, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nhanh chóng trồng lại rừng ngập mặn huyện Cần Giờ nhằm cải thiện môi trường sinh thái cho thành phố; phòng chống gió bão, bảo vệ bờ biển; phục vụ nhu cầu văn hóa - xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân trong vùng; phục vụ cho tham quan nghỉ dưỡng vùng rừng biển của thành phố; tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học, học tập về hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, bảo tồn các loài động vật rừng quý hiếm, khai thác nguồn tài nguyên đặc sản hữu dụng của rừng. Yêu cầu của nhiệm vụ phục hồi lại rừng ngập mặn là phải trồng lại trong thời gian ngắn nhất (20 - 30 năm), đảm bảo đúng yêu cầu khoa học kỹ thuật, rừng sớm phủ xanh đạt chất lượng tốt, tiết kiệm vật tư, hạ giá thành đầu tư, nâng cao đời sống cho nhân dân trong vùng.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, ngày 07/8/1978, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 165/QĐ-UB thành lập Lâm trường Duyên Hải trực thuộc Sở Lâm nghiệp thành phố (nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) để khẩn trương tiến hành việc khôi phục lại hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Cần Giờ. Quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố được tất cả các cấp, các ngành và nhân dân toàn thành phố hưởng ứng tích cực và bắt tay ngay vào việc thực hiện chương trình phục hồi lại rừng ngập mặn huyện Cần Giờ.

Từ những kết quả đạt được, ngày 21/01/2000, rừng ngập mặn huyện Cần Giờ được tổ chức Tổ chức Văn hóa - Giáo dục - Khoa học Liên Hợp quốc (UNESCO) công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, đây là Khu Dự trữ sinh quyển đầu tiên tại Việt Nam, nằm trong mạng lưới Khu Dự trữ sinh quyển của thế giới, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là khu rừng trồng tập trung phục hồi lớn và đẹp nhất Đông Nam Á. Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên rừng phòng hộ huyện Cần Giờ là 34.672,79ha, trong đó diện tích có rừng là 32.451,02ha và diện tích đất khác là 2.221,77ha (theo Quyết định số 3901/QĐ-UBND ngày 20/7/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc công bố hiện trạng rừng TP. Hồ Chí Minh năm 2016).

2. Một số bất cập của pháp luật về quản lý đất rừng phòng hộ từ thực tiễn tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh và kiến nghị hoàn thiện

Trong thời gian gần đây, các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ đã được ban hành vừa kế thừa những quy định trước đây, vừa điều chỉnh, bổ sung một số nội dung nhằm bảo đảm mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững của Đảng ta. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ, tác giả nhận thấy còn tồn tại một số bất cập như sau:

Thứ nhất, khái niệm về “đất rừng”, “đất lâm nghiệp”: Luật Đất đai năm 2013 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch (sau đây gọi là Luật Đất đai) sử dụng cụm từ “đất rừng” nhưng không có phần giải thích từ ngữ về “đất rừng”. Cụm từ “đất lâm nghiệp” không được nêu trong Luật Đất đai, nhưng Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định về quản lý rừng bền vững (Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT) quy định, đất lâm nghiệp gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất. Theo quy định này, “đất rừng” và “đất lâm nghiệp”, về cơ bản, có nghĩa như nhau, có thể sử dụng thay thế nhau. Tuy nhiên, theo cách hiểu quy định trong Luật Lâm nghiệp năm 2017, thì “đất lâm nghiệp” không phải chỉ là đất rừng mà còn bao gồm đất xây dựng các cơ sở chế biến lâm sản, vì lâm nghiệp bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản.

Do khái niệm “đất rừng” không được quy định trong Luật Đất đai mà được điều chỉnh bằng Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT nên hiệu lực pháp lý không cao, thậm chí có cách hiểu khác nhau về đất rừng. Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT quy định đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên mà chưa đạt tiêu chuẩn rừng thì chưa thống kê vào đất lâm nghiệp mà thống kê theo hiện trạng (thuộc nhóm đất chưa sử dụng), tuy nhiên, trên thực tế, ngành Lâm nghiệp vẫn thống kê vào đất lâm nghiệp chưa có rừng (đất lâm nghiệp gồm đất có rừng và đất không có rừng được quy hoạch để gây trồng rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991).

Thứ hai, việc quản lý đất và rừng gần như có cùng một đối tượng là đất rừng (có cùng một cách thức quản lý là lập bản đồ, có ranh giới, có ghi chép những gì có trên đất), nhưng trong 02 luật (Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp) lại giao cho 02 ngành khác nhau cùng quản lý và chưa quy định rõ ràng về sự phối hợp; ngành Lâm nghiệp lâu nay được đào tạo làm việc này và đã làm việc này, nhưng sau đó Luật Đất đai lại có thêm ngành Đất đai quản lý đất rừng, ngành Lâm nghiệp chỉ quản lý rừng nhưng không thể quản rừng mà bỏ qua các nghiệp vụ quản lý đất rừng. Việc này phát sinh khi có vi phạm về đất đai trong rừng phòng hộ, thì cán bộ kiểm lâm không xử lý mà phải phối hợp với cán bộ quản lý đất đai để xử lý theo thẩm quyền, dẫn đến việc xử lý chậm và thiếu hiệu quả vì đa số cán bộ quản lý đất đai không thường xuyên có mặt trong rừng, ít nghiên cứu chuyên sâu về rừng và đất rừng nên khi xử lý còn lúng túng.

Thứ ba, thống kê, kiểm kê, hệ thống thông tin về đất đai và rừng: Theo Điều 34 Luật Đất đai, thời gian thực hiện kiểm kê đất 05 năm một lần, trong khi đó, theo Điều 34 Luật Lâm nghiệp năm 2017 thời hạn kiểm kê rừng 10 năm một lần. Việc thống kê đất đai được tiến hành mỗi năm một lần, trong khi đó Luật Lâm nghiệp quy định không có thống kê rừng, thay vào đó thực hiện theo dõi diễn biến rừng hàng năm. Do đó, số liệu báo cáo về sử dụng đất lâm nghiệp và rừng luôn chênh nhau giữa các cơ quan có trách nhiệm về rừng và đất đai.

Thứ tư, Luật Đất đai không quy định mục đích sử dụng đất cho lâm nghiệp mà đưa luôn mục đích sử dụng đất cho 03 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất), quản lý luôn đất đã có rừng và đất trống để trồng rừng… Trong khi đó, Luật Lâm nghiệp năm 2017 đưa ra nội dung quản lý rừng theo 03 loại rừng và có quy hoạch phát triển rừng cụ thể.

Thứ năm, tại Điều 136 Luật Đất đai quy định Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tuy nhiên, Điều 16 Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định Nhà nước chỉ giao cho tổ chức kinh tế đối với rừng phòng hộ xen kẽ trong diện tích rừng sản xuất của tổ chức đó (có giới hạn nhất định).

Thứ sáu, thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng đất rừng: Theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai, trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng từ 20ha trở lên thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; dưới 20ha thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; không quy định thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng đối với đất rừng sản xuất. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 20 Luật Lâm nghiệp năm 2017, việc chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng từ 50ha trở lên thuộc thẩm quyền của Quốc hội, dưới 50ha thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới từ 50ha trở lên thuộc thẩm quyền của Quốc hội, từ 20ha tới 50ha thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, dưới 20ha thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển từ 500ha trở lên thuộc thẩm quyền của Quốc hội, từ 20ha đến dưới 500ha thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, dưới 20ha thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; việc chuyển mục đích sử dụng rừng sản xuất từ 1.000ha trở lên thuộc thẩm quyền của Quốc hội, từ 50ha đến dưới 1.000ha thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, dưới 50ha thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; việc chuyển mục đích sử dụng rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Thứ bảy, quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, là chủ rừng: Điều 179 Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất trong hạn mức; đất được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất 01 lần cho cả thời gian thuê có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (không hạn chế đối với rừng sản xuất là rừng trồng và có hạn chế đối với đất rừng phòng hộ), trong khi đó Luật Lâm nghiệp (Điều 14, Điều 81) quy định hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng phòng hộ không được quyền cho thuê rừng, không được chuyển nhượng rừng.

Từ những bất cập nêu trên, theo tác giả, các cơ quan quản lý nhà nước và các nhà làm luật cần rà soát những bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn của hệ thống phát luật về rừng, từ đó đề xuất, trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật Đất đai tương thích với Luật Lâm nghiệp sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển và thực tiễn quản lý, sử dụng đất rừng của nước ta; đồng thời, góp phần bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng.

Nguyễn Tiến Hưng
Ban Quản lý rừng phòng hộ huyền Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: