Chủ nhật 19/04/2026 06:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và kiến nghị hoàn thiện

Trong quan hệ lao động, Nhà nước không ấn định trực tiếp mà chỉ điều tiết thông qua pháp luật bằng cách quy định các nguyên tắc, khung pháp luật tạo ra hành lang pháp lý làm cơ sở cho các bên thỏa thuận sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng của mình.

Để đạt được thỏa thuận chung, các bên thông qua đại diện của mình tiến hành thảo luận, bàn bạc, thỏa thuận... gọi chung là thương lượng tập thể. Bài viết phân tích, đánh giá các ưu điểm, hạn chế của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

1. Một số ưu điểm của của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể

Thứ nhất, thương lượng tập thể đã được quan tâm, quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012.
Trên thế giới, thương lượng tập thể hình thành từ rất sớm - khoảng cuối thế kỷ thứ 18 và khởi phát mạnh từ nước Anh. Sau đó, thương lượng tập thể đã lan rộng và trở thành phổ biến ở các nước vào cuối thế kỷ 19. Đến năm 1981, Tổ chức Lao động quốc tế đã ban hành Công ước số 154 về xúc tiến thương lượng tập thể. Hiện nay, thương lượng tập thể được quy định trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới.

Ở Việt Nam, trước đây pháp luật lao động không quy định trực tiếp và cụ thể về thương lượng tập thể. Hiện nay, pháp luật đã quy định trực tiếp về vấn đề này tại Mục 2 Chương V Bộ luật Lao động năm 2012 (từ Điều 66 đến Điều 72). Các quy định đó đã tạo cơ sở pháp lý để các bên thương lượng tập thể.

Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể là tương đối đầy đủ
Mặc dù mới lần đầu được đưa vào Bộ luật Lao động nhưng các các vấn đề về thương lượng tập thể đã được quy định tương đối đầy đủ như: Mục đích, nguyên tắc, đại diện, nội dung, quy trình... Cụ thể:

Về mục đích, thương lượng tập thể nhằm: Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể; giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Về nguyên tắc, thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc: Thiện chí, bình đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch; thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất; thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm do hai bên thỏa thuận.

Về đại diện tham gia, bên tập thể lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổ chứ đại diện tập thể lao động tại cơ sở ; thương lượng tập thể phạm vi nghành là đại diện Ban chấp hành công đoàn nghành.

Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành.

Về nội dung, nội dung của thương lượng tập thể gồm: Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động; một số nội dung khác mà hai bên quan tâm.

Về quyền yêu cầu và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, mỗi bên đều có quyền yêu cầu thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng. Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định thì bên kia có quyền tiến hành các thủ tục yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.

Tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm: Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng tập thể; tham dự phiên họp thương lượng tập thể nếu có đề nghị của một trong hai bên thương lượng tập thể; cung cấp, trao đổi các thông tin liên quan đến thương lượng tập thể.

Về quy trình quy trình thương lượng tập thể bao gồm: Chuẩn bị thương lượng; tiến hành thương lượng tập thể; công khai nội dung thương lượng tập thể và lấy ý kiến của tập thể lao động về các nội dung đã thỏa thuận.

2. Một số hạn chế của của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, còn thiếu quy định về thương lượng tập thể ở phạm vi ngoài doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ luật Lao động, thương lượng tập thể gồm hai cấp là thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp và thương lượng tập thể phạm vi ngành. Trên thực tế, nhu cầu thương lượng tập thể có thể phát sinh ngoài doanh nghiệp như ở một khu chế xuất, công nghiệp hoặc một vùng. Bởi lẽ, điều kiện lao động và sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp hoặc trong vùng về cơ bản là tương đồng nhau. Ở đó, nếu chỉ có thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp thì có thể dẫn tới sự khác nhau trong thu nhập của người lao động làm cùng một nghề, cùng một khu vực trong các doanh nghiệp khác nhau. Vì vậy, thương lượng tập thể phạm vi ngoài doanh nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này, hạn chế các tranh chấp lao động, đình công xảy ra. Đây cũng là xu hướng chung của thế giới. Theo các công ước quốc tế và thực tiễn pháp luật của nhiều nước trên thế giới, thương lượng tập thể được quy định và thực hiện ở cấp doanh nghiệp, cấp vùng, cấp ngành. Vì vậy, cần bổ sung quy định về thương lượng tập thể cấp ngoài doanh nghiệp vào Bộ luật Lao động.

Thứ hai, chưa quy định cụ thể về đại diện thương lượng tập thể ngành của bên người sử dụng lao động.

Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi ngành theo quy định của pháp luật hiện hành là “đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành”. Vậy tổ chức nào là đại diện người sử dụng lao động ngành? Các nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện, cách thức xác định tổ chức đại diện người sử dụng lao động? Chức năng, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của tổ chức này là gì?

Xét theo một số văn bản đã ban hành trước đó, đại diện của người sử dụng lao động là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ xác định tên của tổ chức đại diện của người sử dụng lao động mà chưa quy định nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện, cách thức xác định tổ chức đại diện của người sử dụng lao động cũng như chức năng, tổ chức hoạt động, quyền và nghĩa vụ của tổ chức này. Trong khi đó, đại diện thương lượng tập thể của bên tập thể lao động đã được quy định tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh. Do đó, cần có các quy định cụ thể về đại diện thương lượng tập thể ngành của bên người sử dụng lao động trong pháp luật lao động.

Thứ ba, còn thiếu quy định về sự hỗ trợ cho quá trình thương lượng tập thể

Bộ luật Lao động quy định, trường hợp thương lượng không thành một trong hai bên có quyền tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động (Khoản 4 Điều 71). Quy định này đã gắn thương lượng tập thể với quy trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể, trong đó có thủ tục hòa giải, trọng tài. Tuy nhiên, đó chỉ là hòa giải, trọng tài bị động - hòa giải, trọng tài khi có yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp, chứ không phải theo đề nghị của bên cung cấp dịch vụ hòa giải, trọng tài.

Nhằm góp phần hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động thương lượng tập thể đạt kết quả cao, pháp luật lao động của nhiều nước trên thế giới quy định hình thức hòa giải chủ động cho quá trình thương lượng tập thể. Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam cần nghiên cứu, học tập, bởi lẽ, thương lượng tập thể là một quy trình tương tác khó khăn, rất dễ gặp bế tắc nên cần có sự hỗ trợ của bên trung gian thứ ba, khi cần thiết.

Kết luận

Thương lượng tập thể có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì ổn định quan hệ lao động, bởi nó không chỉ đảm bảo quyền lợi các bên khi tham gia quan hệ lao động mà còn giúp các bên giải quyết những bất đồng về lợi ích. Khi lợi ích của các bên được đảm bảo thì quan hệ lao động được duy trì và phát triển hài hòa, tạo nền tảng vững chắc để phát triển. Vì vậy, pháp luật lao động về thương lượng tập thể cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để điều chỉnh có hiệu quả các vấn đề về thương lượng tập thể, phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

ThS. Trần Đức Thắng

Trường Đại học Lao động - Xã hội

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Lao động năm 2012.

2. Nghị định số 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ.

3. Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003; Quyết định số 75/2005/QĐ-TTg ngày 11/4/2005.

4. TS. Khuất Thị Thu Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2017), Hoàn thiện một số quy định về thỏa ước lao động tập thể ngành trong Bộ luật Lao động năm 2012, bài đăng Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 620 (kỳ 2 tháng 5/2017).

5. Th.S Nguyễn Huy Khoa (2017), Quy trình thương lượng tập thể trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay, bài đăng Trang thông tin điện tử Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

6. Tổ Biên tập dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2017), Một số vấn đề lớn của Bộ luật lao động (sửa đổi) còn nhiều ý kiến khác nhau, bài trình bày tại Hội thảo Góp ý hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) do Viện Nghiên cứu lập pháp (Ủy ban Thường vụ Quốc Hội) và Quỹ Rosa Luxemburg (CHLB Đức) tổ chức tại Quảng Ninh, ngày 20-21/4/2017.


[1] Xem Điểm b Khoản 1 Điều 69 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2] Xem Nghị định 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ; Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 75/2005/QĐ-TTg ngày 11/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: