Thứ ba 28/07/2026 18:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và kiến nghị hoàn thiện

Trong quan hệ lao động, Nhà nước không ấn định trực tiếp mà chỉ điều tiết thông qua pháp luật bằng cách quy định các nguyên tắc, khung pháp luật tạo ra hành lang pháp lý làm cơ sở cho các bên thỏa thuận sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng của mình.

Để đạt được thỏa thuận chung, các bên thông qua đại diện của mình tiến hành thảo luận, bàn bạc, thỏa thuận... gọi chung là thương lượng tập thể. Bài viết phân tích, đánh giá các ưu điểm, hạn chế của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

1. Một số ưu điểm của của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể

Thứ nhất, thương lượng tập thể đã được quan tâm, quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012.
Trên thế giới, thương lượng tập thể hình thành từ rất sớm - khoảng cuối thế kỷ thứ 18 và khởi phát mạnh từ nước Anh. Sau đó, thương lượng tập thể đã lan rộng và trở thành phổ biến ở các nước vào cuối thế kỷ 19. Đến năm 1981, Tổ chức Lao động quốc tế đã ban hành Công ước số 154 về xúc tiến thương lượng tập thể. Hiện nay, thương lượng tập thể được quy định trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới.

Ở Việt Nam, trước đây pháp luật lao động không quy định trực tiếp và cụ thể về thương lượng tập thể. Hiện nay, pháp luật đã quy định trực tiếp về vấn đề này tại Mục 2 Chương V Bộ luật Lao động năm 2012 (từ Điều 66 đến Điều 72). Các quy định đó đã tạo cơ sở pháp lý để các bên thương lượng tập thể.

Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể là tương đối đầy đủ
Mặc dù mới lần đầu được đưa vào Bộ luật Lao động nhưng các các vấn đề về thương lượng tập thể đã được quy định tương đối đầy đủ như: Mục đích, nguyên tắc, đại diện, nội dung, quy trình... Cụ thể:

Về mục đích, thương lượng tập thể nhằm: Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể; giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Về nguyên tắc, thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc: Thiện chí, bình đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch; thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất; thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm do hai bên thỏa thuận.

Về đại diện tham gia, bên tập thể lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổ chứ đại diện tập thể lao động tại cơ sở ; thương lượng tập thể phạm vi nghành là đại diện Ban chấp hành công đoàn nghành.

Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành.

Về nội dung, nội dung của thương lượng tập thể gồm: Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động; một số nội dung khác mà hai bên quan tâm.

Về quyền yêu cầu và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, mỗi bên đều có quyền yêu cầu thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng. Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định thì bên kia có quyền tiến hành các thủ tục yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.

Tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm: Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho người tham gia thương lượng tập thể; tham dự phiên họp thương lượng tập thể nếu có đề nghị của một trong hai bên thương lượng tập thể; cung cấp, trao đổi các thông tin liên quan đến thương lượng tập thể.

Về quy trình quy trình thương lượng tập thể bao gồm: Chuẩn bị thương lượng; tiến hành thương lượng tập thể; công khai nội dung thương lượng tập thể và lấy ý kiến của tập thể lao động về các nội dung đã thỏa thuận.

2. Một số hạn chế của của pháp luật hiện hành về thương lượng tập thể và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, còn thiếu quy định về thương lượng tập thể ở phạm vi ngoài doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ luật Lao động, thương lượng tập thể gồm hai cấp là thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp và thương lượng tập thể phạm vi ngành. Trên thực tế, nhu cầu thương lượng tập thể có thể phát sinh ngoài doanh nghiệp như ở một khu chế xuất, công nghiệp hoặc một vùng. Bởi lẽ, điều kiện lao động và sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp hoặc trong vùng về cơ bản là tương đồng nhau. Ở đó, nếu chỉ có thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp thì có thể dẫn tới sự khác nhau trong thu nhập của người lao động làm cùng một nghề, cùng một khu vực trong các doanh nghiệp khác nhau. Vì vậy, thương lượng tập thể phạm vi ngoài doanh nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này, hạn chế các tranh chấp lao động, đình công xảy ra. Đây cũng là xu hướng chung của thế giới. Theo các công ước quốc tế và thực tiễn pháp luật của nhiều nước trên thế giới, thương lượng tập thể được quy định và thực hiện ở cấp doanh nghiệp, cấp vùng, cấp ngành. Vì vậy, cần bổ sung quy định về thương lượng tập thể cấp ngoài doanh nghiệp vào Bộ luật Lao động.

Thứ hai, chưa quy định cụ thể về đại diện thương lượng tập thể ngành của bên người sử dụng lao động.

Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi ngành theo quy định của pháp luật hiện hành là “đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành”. Vậy tổ chức nào là đại diện người sử dụng lao động ngành? Các nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện, cách thức xác định tổ chức đại diện người sử dụng lao động? Chức năng, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của tổ chức này là gì?

Xét theo một số văn bản đã ban hành trước đó, đại diện của người sử dụng lao động là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ xác định tên của tổ chức đại diện của người sử dụng lao động mà chưa quy định nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện, cách thức xác định tổ chức đại diện của người sử dụng lao động cũng như chức năng, tổ chức hoạt động, quyền và nghĩa vụ của tổ chức này. Trong khi đó, đại diện thương lượng tập thể của bên tập thể lao động đã được quy định tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh. Do đó, cần có các quy định cụ thể về đại diện thương lượng tập thể ngành của bên người sử dụng lao động trong pháp luật lao động.

Thứ ba, còn thiếu quy định về sự hỗ trợ cho quá trình thương lượng tập thể

Bộ luật Lao động quy định, trường hợp thương lượng không thành một trong hai bên có quyền tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động (Khoản 4 Điều 71). Quy định này đã gắn thương lượng tập thể với quy trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể, trong đó có thủ tục hòa giải, trọng tài. Tuy nhiên, đó chỉ là hòa giải, trọng tài bị động - hòa giải, trọng tài khi có yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp, chứ không phải theo đề nghị của bên cung cấp dịch vụ hòa giải, trọng tài.

Nhằm góp phần hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động thương lượng tập thể đạt kết quả cao, pháp luật lao động của nhiều nước trên thế giới quy định hình thức hòa giải chủ động cho quá trình thương lượng tập thể. Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam cần nghiên cứu, học tập, bởi lẽ, thương lượng tập thể là một quy trình tương tác khó khăn, rất dễ gặp bế tắc nên cần có sự hỗ trợ của bên trung gian thứ ba, khi cần thiết.

Kết luận

Thương lượng tập thể có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì ổn định quan hệ lao động, bởi nó không chỉ đảm bảo quyền lợi các bên khi tham gia quan hệ lao động mà còn giúp các bên giải quyết những bất đồng về lợi ích. Khi lợi ích của các bên được đảm bảo thì quan hệ lao động được duy trì và phát triển hài hòa, tạo nền tảng vững chắc để phát triển. Vì vậy, pháp luật lao động về thương lượng tập thể cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để điều chỉnh có hiệu quả các vấn đề về thương lượng tập thể, phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

ThS. Trần Đức Thắng

Trường Đại học Lao động - Xã hội

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Lao động năm 2012.

2. Nghị định số 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ.

3. Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003; Quyết định số 75/2005/QĐ-TTg ngày 11/4/2005.

4. TS. Khuất Thị Thu Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2017), Hoàn thiện một số quy định về thỏa ước lao động tập thể ngành trong Bộ luật Lao động năm 2012, bài đăng Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 620 (kỳ 2 tháng 5/2017).

5. Th.S Nguyễn Huy Khoa (2017), Quy trình thương lượng tập thể trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay, bài đăng Trang thông tin điện tử Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

6. Tổ Biên tập dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2017), Một số vấn đề lớn của Bộ luật lao động (sửa đổi) còn nhiều ý kiến khác nhau, bài trình bày tại Hội thảo Góp ý hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) do Viện Nghiên cứu lập pháp (Ủy ban Thường vụ Quốc Hội) và Quỹ Rosa Luxemburg (CHLB Đức) tổ chức tại Quảng Ninh, ngày 20-21/4/2017.


[1] Xem Điểm b Khoản 1 Điều 69 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2] Xem Nghị định 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ; Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 75/2005/QĐ-TTg ngày 11/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: