Chủ nhật 26/07/2026 20:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về công bố và bãi bỏ án lệ trong giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam

Quy định pháp luật về công bố và bãi bỏ án lệ trong giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam

Bài viết tập trung bàn về hoạt động công bố và bãi bỏ án lệ trong việc giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành.

1. Quy định pháp luật về công bố án lệ

Thứ nhất, về nội dung và hình thức án lệ được công bố.

Ở Việt Nam, mặc dù án lệ được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có quy định cụ thể về nội dung và hình thức án lệ. Hiện nay, án lệ của Việt Nam không phải là bản án gốc mà được viết lại dưới hình thức nhất định và được ban hành dưới hình thức khác so với bản án thông thường. Án lệ được công bố chỉ cần đáp ứng các nội dung theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ[1] (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP).

Về nội dung, án lệ ở Việt Nam có sự khác biệt về nội dung so với các bản án. Những bản án, quyết định được lựa chọn trở thành án lệ sẽ được biên tập lại trước khi công bố. Do vậy, cấu trúc án lệ không tương đồng với nội dung của bản án nói chung và bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao nói riêng. Điều này khác hẳn với hình thức án lệ ở các nước theo truyền thống pháp luật Common Law (như Anh, Mỹ, Úc - Án lệ được lấy từ nguyên bản bản án gốc và được xuất bản thành một tập án lệ) và Civil Law (ở Pháp, chỉ những bản án, quyết định của các Tòa án đứng đầu trong hệ thống Tòa án mới có thể trở thành án lệ. Chính vì lẽ đó mà hình thức, cấu trúc bản án của Tòa phá án đồng thời là hình thức, cấu trúc án lệ. Ở Nhật, án lệ là các bản án của Tòa án nhân dân tối cao hội tụ đủ tiêu chuẩn và trở thành án lệ[2]).

Xây dựng án lệ theo cách làm ở Việt Nam có những ưu điểm nhất định. Đó là có thể loại bỏ các nội dung không phải là cốt lõi của bản án gốc và chỉ đưa ra nguyên tắc pháp lý cốt lõi của án lệ. Cách viết lại án lệ này thường giúp người đọc dễ dàng nắm bắt được vấn đề gây tranh cãi và nguyên tắc pháp lý. Tuy nhiên, cách thức này cũng tồn tại những nhược điểm như: Một số vấn đề gây tranh cãi về mặt pháp lý có trong bản án gốc có thể bị loại bỏ, bị bỏ sót; nội dung các án lệ có thể có sự không đồng nhất ở các thời điểm; nội dung chính của bản án gốc có thể bị sai lệch theo ý kiến của người biên tập và có thể dẫn đến kết quả là làm giảm phạm vi xem xét và nghiên cứu của các nhà nghiên cứu. Trong khi đó, giá trị cốt lõi của án lệ chính là nguyên tắc pháp lý phải được thể hiện trong án lệ[3].

Về hình thức, cũng như Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP không đưa ra các yêu cầu về hình thức án lệ. Điều này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc nâng cao chất lượng nguồn bản án, quyết định để phát triển án lệ và giảm tải việc phải biên tập lại bản án gốc để trở thành án lệ. Nếu có mẫu án lệ (như mẫu bản án, quyết định trong Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự) thì qua thực tiễn xét xử, trong trường hợp dự liệu khả năng bản án, quyết định được ban hành có thể phát triển thành án lệ, ngay từ đầu, thẩm phán sẽ lưu ý đến chất lượng viết bản án ở những nội dung cần phải có trong án lệ.

Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP có đề cập đến nội dung công bố án lệ, trong đó có nhắc đến tên án lệ. Tuy nhiên, cách đặt tên án lệ vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể dẫn đến sự không thống nhất trật tự trong cách đặt tên như hiện nay, gây khó khăn cho việc tra cứu, tìm kiếm và sử dụng án lệ. Trong khi đó, pháp luật đã có quy định cụ thể về cách đặt tên cho bản án[4].

Thứ hai, về chủ thể công bố án lệ.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014[5] và khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, ở Việt Nam, chủ thể có thẩm quyền công bố án lệ là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với những án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua. Như vậy, ở Việt Nam thừa nhận hình thức công bố chính thức từ Tòa án nhân dân tối cao và cụ thể là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trực tiếp công bố. Tuy nhiên, việc công bố chính thức án lệ ở Việt Nam có điểm đặc thù là nhằm xác định hiệu lực pháp lý của án lệ: “Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố”[6]. Đây là sự khác biệt của Việt Nam so với các nước khác trên thế giới. Ở hầu hết các nước sử dụng án lệ, công bố án lệ chính thức nhằm đưa nội dung án lệ đến công chúng, giúp cho các chủ thể khác nhau như các thẩm phán, luật sư... biết đến nội dung của án lệ (pháp luật) để thực hiện và có ý nghĩa xác định giá trị pháp lý của án lệ. Chỉ những lựa chọn và công bố bởi các cơ quan, tổ chức chính thức hoặc các tạp chí chính thức thì những bản án, quyết định mới có giá trị pháp lý để áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau. Điều này nhằm minh bạch hóa hoạt động tư pháp (công bố các bản án, quyết định thông thường, không chứa đựng các giải pháp pháp lý mới) với hoạt động công bố án lệ[7].

Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới, việc công bố án lệ không nhằm xác định hiệu lực của án lệ và đa dạng hình thức công bố án lệ hơn ở Việt Nam (công bố án lệ tư nhân, bán chính thức, bán tư nhân). Điều này sẽ tạo điều kiện để mọi chủ thể, chuyên gia, công dân tiếp cận nhanh và nâng cao thói quen tiếp nhận, bình luận, sử dụng án lệ hơn.

Thứ ba, về cách thức công bố án lệ.

Án lệ được công bố bằng quyết định do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành[8] và Án lệ được đưa vào Tuyển tập án lệ để xuất bản[9]. Như vậy, án lệ ở Việt Nam không thuộc trường hợp công bố tất cả bản án, quyết định như ở các nước Tây Ban Nha, Na Uy, Hàn Quốc. Việt Nam cũng không thuộc các quốc gia có cách thức công bố bằng tuyển tập có chọn lọc các bản án, quyết định nào là án lệ như hầu hết các nước theo truyền thống pháp luật Common Law cũng như Civil Law. Bởi công bố án lệ bằng tuyển tập là sự khẳng định giá trị án lệ và bản án, quyết định thông thường. Trong khi ở Việt Nam đưa vào Tuyển tập án lệ chỉ là cách tập hợp, lưu trữ án lệ chứ không phải là thủ tục ghi nhận hiệu lực, giá trị án lệ so với các bản án, quyết định như ở các nước khác. Án lệ ở Việt Nam được công bố bởi một quyết định của chủ thể có thẩm quyền, đó là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Điều này thể hiện sự khác biệt về cách thức công bố án lệ ở Việt Nam với hầu hết các quốc gia khác.

Thứ tư, về phương thức công bố án lệ.

Ở Việt Nam, án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao... và được đưa vào Tuyển tập án lệ để xuất bản[10]. Nếu căn cứ vào các phương thức công bố án lệ in trên giấy và trên phương tiện điện tử ở các nước trên thế giới, thì ở Việt Nam đều không ghi nhận hai phương thức này. Khác với nhiều nước theo truyền thống Common Law, đăng tải trên cổng thông tin hay đưa vào tuyển tập án lệ không làm phát sinh hiệu lực áp dụng án lệ ở Việt Nam. Công bố trên cổng thông tin để phổ biến rộng rãi cho các chủ thể tiếp cận, sử dụng, viện dẫn phục vụ mục đích nghiên cứu, tố tụng, giảng dạy, đào tạo…

Phương thức công bố án này của án lệ trên Cổng thông tin của Tòa án nhân dân tối cao có vẻ tương đồng với hoạt động công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc công khai bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP). Nếu có khác biệt thì các án lệ này được gửi cho các Tòa án, đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao mà các bản án, quyết định không thấy quy định rõ. Vấn đề đặt ra ở đây là, công bố án lệ trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP. Phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP là hướng dẫn về nguyên tắc, thủ tục công bố bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án[11] chứ không bao gồm án lệ. Các bản án, quyết định được công bố phải là toàn bộ nội dung bản án, quyết định (trừ những thông tin cá nhân được mã hóa) và giữ đúng hình thức, bố cục của bản án, quyết định đã được quy định trong các luật tố tụng và được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành mẫu để áp dụng thống nhất[12]. Vậy vấn đề đặt ra là, việc công bố án lệ trên Cổng thông tin điện tử Tòa án được điều chỉnh bởi văn bản nào, cụ thể như thế nào?

Mặt khác, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể về cách thức sắp xếp án lệ một cách khoa học. Hiện nay, mặc dù số lượng các án lệ đã được công bố không ngừng được tăng lên theo thời gian và dự kiến trong tương lai, số lượng án lệ sẽ rất lớn với nhiều lĩnh vực được công bố bởi các Tòa án khác nhau. Điều này dẫn đến vấn đề tra cứu, sử dụng án lệ sẽ gặp nhiều khó khăn nếu như không được phân loại, sắp xếp một cách khoa học với những tiêu chí rõ ràng, phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sự hướng dẫn cụ thể về cách thức sắp xếp án lệ một cách khoa học để phục vụ hiệu quả và tiện lợi cho việc tra cứu, sử dụng, đây là một vấn đề cần phải được xem xét và hoàn thiện trước bối cảnh yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay[13].

2. Quy định pháp luật về bãi bỏ án lệ

2.1. Các trường hợp bãi bỏ án lệ

Khi pháp luật và xã hội phát triển và thay đổi, có những án lệ không còn phù hợp với thực tế. Nếu án lệ vẫn được áp dụng, sử dụng, viện dẫn thì sẽ bất hợp lý. Điều này đòi hỏi án lệ cũ phải được điều chỉnh, bổ sung hoặc được thay thế bằng một án lệ mới. Vì thế, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định các trường hợp bãi bỏ án lệ như sau:

Thứ nhất, án lệ đương nhiên bị bãi bỏ không cần thủ tục: Án lệ đương nhiên bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không còn phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật[14]. Đối chiếu với những trường hợp bãi bỏ án lệ ở hầu hết các nước trên thế giới, trường hợp án lệ đương nhiên bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật Việt Nam tương tự như ở nước khác.

Thứ hai, án lệ bị bãi bỏ theo thủ tục pháp lý: Đây là trường hợp án lệ bị bãi bỏ do không còn phù hợp do chuyển biến tình hình hoặc do bản án, quyết định có nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ hoặc phần liên quan đến án lệ[15]. Trường hợp này, việc bãi bỏ án lệ phải tuân thủ theo một thủ tục tương tự như thủ tục tạo lập án lệ với nhiều bước theo quy định tại khoản 3 Điều 6 và quy định tại Điều 10 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

Đối với trường hợp bãi bỏ án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình, cần cân nhắc lại thuật ngữ “chuyển biến tình hình” vì quy định vậy này quá chung chung, thậm chí không có một tiêu chí nào cụ thể để xác định liệu đã có sự chuyển biến tình hình hay chưa và có hay không nên đề xuất bãi bỏ án lệ do chuyển biến tình hình. Theo đó, cần đưa ra một số tiêu chí nhất định để các cá nhân, tổ chức, Tòa án dễ dàng đánh giá tình hình và đưa ra các kiến nghị về bãi bỏ án lệ. Ví dụ như ở Mỹ, cũng là trường hợp bãi bỏ án lệ do không phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên, ở Mỹ sử dụng thuật ngữ cụ thể và dễ hiểu hơn. Đó là trường hợp án lệ không có khả năng thực hiện hoặc khó thực hiện trên thực tế[16].

Đối với trường hợp bãi bỏ án lệ do bản án, quyết định có nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ hoặc phần liên quan đến án lệ, căn cứ này có lẽ xuất phát từ việc án lệ ở Việt Nam không phải là bản án, quyết định gốc mà được biên tập lại. Trong khi đó, Việt Nam áp dụng hai cấp xét xử và các giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục đặc biệt nhằm sửa sai của bản án, quyết định cấp dưới nên khả năng bản án, quyết định bị hủy, bị sửa nhiều ảnh hưởng đến chất lượng án lệ. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: “Cần làm rõ những nội dung kế thừa trong án lệ nằm tại lập luận của thẩm phán để giải quyết vụ án. Do đó, khi những bản án bị hủy toàn bộ không phải do những thiếu sót trong lập luận của bản án mà do vi phạm thủ tục tố tụng hay thành phần Hội đồng xét xử không đúng quy định. Theo đó, những trường hợp này giá trị trong các lập luận của bản án để giải quyết vụ án vẫn có thể được kế thừa để giải quyết các vụ án tương tự chứ không bắt buộc phải bãi bỏ”[17]. Tác giả cho rằng, nếu sửa luật theo hướng trường hợp bản án, quyết định bị hủy do vi phạm pháp luật tố tụng mà án lệ thuộc phần lập luận pháp luật nội dung thì án lệ vẫn được ghi nhận sẽ không bảo đảm tính khoa học về mặt lý luận và tổng thể, bởi xuất phát từ quy định nguồn án lệ phải là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2.2. Thẩm quyền bãi bỏ án lệ

Pháp luật Việt Nam không giống với hầu hết các nước theo truyền thống pháp luật Common Law và Civil Law. Ở các nước theo truyền thống Common Law, thẩm quyền bãi bỏ án lệ được áp dụng trong cả hai trường hợp chiều dọc và chiều ngang theo thứ bậc Tòa án. Trong khi ở các nước theo truyền thống pháp luật Civil Law, thẩm quyền bãi bỏ án lệ thuộc về một số Tòa án có vị trí cao trong hệ thống cơ quan xét xử. Ở Việt Nam, thẩm quyền bãi bỏ án lệ là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Việc bãi bỏ án lệ phải được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp biểu quyết thông qua việc bãi bỏ án lệ theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Nếu phân trường hợp thẩm quyền bãi bỏ án lệ như ở các nước theo trường phái pháp luật Common Law thì thẩm quyền bãi bỏ án lệ ở Việt Nam là thẩm quyền theo chiều ngang - cơ quan thông qua án lệ là cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ án lệ.

2.3. Cách thức bãi bỏ án lệ

Theo quy định tại Điều 10 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, các chủ thể tham gia vào thủ tục bãi bỏ án lệ bao gồm:

Chủ thể kiến nghị bãi bỏ án lệ là cá nhân, cơ quan, tổ chức, Tòa án. Chủ thể tham gia vào quá trình xem xét bãi bỏ án lệ là Hội đồng tư vấn án lệ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chủ thể thông qua việc bãi bỏ và công bố án lệ bị bãi bỏ là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao[18].

Về thủ tục bãi bỏ án lệ: Án lệ ở Việt Nam không thuộc trường hợp bãi bỏ đương nhiên theo khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP thì phải trải qua các thủ tục sau để bãi bỏ[19], đó là:

- Bước 1: Cá nhân, cơ quan, tổ chức, Tòa án kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ khi phát hiện án lệ thuộc trường hợp bãi bỏ. Tòa án đã hủy, sửa bản án, quyết định thuộc trường hợp tại điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP phải gửi báo cáo kèm theo quyết định đã hủy, sửa về Tòa án nhân dân tối cao để xem xét; Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.

- Bước 2: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận kiến nghị, báo cáo.

- Bước 3: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp biểu quyết thông qua việc bãi bỏ án lệ theo nguyên tắc thông qua án lệ.

- Bước 4: Trên cơ sở kết quả biểu quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối, Chánh án Tòa án nhân dân tối ban hành thông báo bãi bỏ án lệ. Thông báo bãi bỏ án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Tòa án, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải có một trình tự, thủ tục hủy bỏ phức tạp và mất nhiều thời gian hay không? Đây là nội dung cần được nghiên cứu, vì chưa có một án lệ nào được công bố bị bãi bỏ ở Việt Nam.

ThS. Nguyễn Thị An Na

Giảng viên chính, Khoa Đào tạo Luật sư, Học viện Tư pháp

[1]. Thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

[2]. Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh (2018), Án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 57.

[3]. Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao Hàn Quốc (2017), Tài liệu “Hội thảo về chế định án lệ tại Việt Nam”, Hà Nội, tr. 16 - 19.

[4]. Liên minh châu Âu, Tòa án nhân dân tối cao, Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (2019), Tài liệu Hội thảo Lấy ý kiến đối với dự thảo báo cáo nghiên cứu về quy trình tuyển chọn án lệ và dự thảo Nghị quyết sửa đổi Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về án lệ, Hà Nội, tr. 21 - 22.

[5]. Xem Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: “5. Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ”.

[6]. Xem khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 04/2019/ NQ-HĐTP.

[7]. Xem Đỗ Thanh Trung (2018), Chức năng tạo lập và áp dụng án lệ của Tòa án ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 59, tr. 119.

[8]. Xem khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/ NQ-HĐTP.

[9]. Xem khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/ NQ-HĐTP.

[10]. Xem khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/ NQ-HĐTP.

[11]. Xem Điều 1 Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP.

[12]. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân tối cao (2017), Tài liệu Hội nghị trực tuyến tập huấn viết bản án, Hà Nội, tr. 7.

[13]. Khoa Luật, Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, Áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án hiện nay, Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học Xã hội, 2021, tr. 317.

[14]. Khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

[15]. Khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

[16]. Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án hiện nay, Sách chuyên khảo, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 507.

[17]. Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh (2021), Sách chuyên khảo Áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án hiện nay, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 517.

[18]. Xem khoản 1, 2, 3 Điều 10 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

[19]. Xem khoản 1, 2, 3 Điều 10 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: