Chủ nhật 25/10/2026 16:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Pháp nhân là tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật, có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Để tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể riêng biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật

Pháp nhân là tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật, có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Để tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể riêng biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật, khoa học pháp lý đưa ra khái niệm pháp nhân (tổ chức) nhằm phân biệt với thể nhân (tự nhiên nhân) là những cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật.

Vấn đề pháp nhân luôn là vấn đề tranh luận sôi nổi một thời gian dài từ cuối Thế kỷ XIX”[1]. Kết quả xuất hiện nhiều thuyết khác nhau về pháp nhân. Có thể kể đến các học thuyết như Thuyết giả định, Thuyết thực tại, Thuyết phủ nhận[2]. Cho đến ngày nay, pháp nhân, tổ chức đã được thừa nhận rộng rãi về mặt lý luận, luật pháp cũng như là một thực thể hiện hữu trong thực tế, được coi như chủ thể cơ bản của luật pháp và có vai trò ngày càng lớn trong đời sống kinht ế xã hội. Pháp nhân đóng vai trò quan trọng và là chủ thể tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật theo quy định của pháp luật các nước như pháp luật hành chính, hình sự, tố tụng hình sự và trong pháp luật dân sự.

Kế thừa thành tựu pháp lý của thế giới, trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua, Việt Nam chính thức ghi nhận, quy định vấn đề pháp nhân là chủ thể của tội phạm và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong đó, căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân và những vấn đề chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là những nội dung mới, quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

Căn cứ khởi tố bị can có vai trò quan trọng trong tiến trình tố tụng hình sự. Căn cứ khởi tố bị can là “đề khởi” của quá trình tố tụng hình sự đối với bị can. Việc khởi tố bị can chính xác, đúng pháp luật phụ thuộc vào căn cứ khởi tố bị can.

Căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là cơ sở để xác định về mặt pháp lý một pháp nhân phạm tội, là cơ sở để cơ quan điều tra công khai mở cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật tố tụng hình sự quy định để làm rõ pháp nhân phạm tội. Trừ một số trường hợp mang tính cấp bách, về nguyên tắc các biện pháp cưỡng chế[3] được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ được áp dụng đối với pháp nhân phạm tội sau khi có quyết định khởi tố bị can.

Trước tiên, để xác định và chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân chính xác theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải phân biệt căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân với căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân; căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân vớicăn cứ khởi tố bị can đối với cá nhân.

Về căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân và căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân thì: Khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự [4]. Khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân[5].

Như vậy, để có căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân, thì cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải thông qua các hoạt động kiểm tra, xác minh thu thập chứng cứ, đánh giá sơ bộ để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm tương ứng với một tội danh đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự xảy ra trên thực tế. Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với pháp nhân thì không bắt buộc phải chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Thông thường, chỉ cần làm rõ khách thể trực tiếp của tội phạm, các dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan và chủ quan của tội phạm. Vì thế khi xác định có dấu hiệu của tội phạm dù chưa rõ pháp nhân nào thực hiện thì việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vẫn được tiến hành. Khác với căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân, khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra phải xác định chính xác pháp nhân nào đã thực hiện hành vi phạm tội thì mới tiến hành khởi tố bị can đối với pháp nhân đó.

Về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân và căn cứ khởi tố bị can đối với cá nhân: Nếu như khởi tố bị can đối với cá nhân thì việc xác định căn cứ khởi tố bị can thông qua cá nhân người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, còn khởi tố bị can đối với pháp nhân thì cơ quan điều tra phải xác định căn cứ khởi tố bị can là pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm[6].

Khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra cần làm rõ: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự[7].

Việc làm rõ nội dung trên giúp cơ quan điều tra xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân hay pháp nhân để xác định có căn cứ khởi tố bị can đối với người phạm tội hay khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Ngoài ra, khi chứng minh căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra cần làm rõ: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân[8].

Việc chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra” không phải là vấn đề phức tạp đặt ra đối với cơ quan điều tra khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân. Tuy nhiên, việc chứng minh lỗi của pháp nhân lại là vấn đề hết sức khó khăn. Vấn đề này hiện đang còn nhiều ý kiến khác nhau, và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng không quy định rõ.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân khi thực hiện tội phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với pháp nhân. Khi tiến hành khởi tố hình sự đối với pháp nhân chỉ cần pháp nhân đó có hành phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đủ.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng: cần phải xác định lỗi của pháp nhân khi phạm tội thì mới đầy đủ cơ sở để tiến hành khởi tố đối với pháp nhân đó.

Theo tác giả, giữa lỗi và việc truy cứu trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ. Khoa học pháp lý đã khẳng định, tội phạm là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, để truy cứu trách nhiệm hình sự cần phải xác định được cấu thành tội phạm trong những trường hợp cụ thể. Một trong những dấu hiệu luôn bắt buộc trong cấu thành tội phạm đó là dấu hiệu lỗi. Do vậy, khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân phải chứng minh lỗi của pháp nhân. Cơ quan điều tra phải xác định lỗi của pháp nhân thì mới có đầy đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Về vấn đề xác định lỗi của pháp nhân làm căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân, theo tác giả lỗi của pháp nhân phạm tội không tách rời khỏi lỗi của những thành viên của pháp nhân đó. Lỗi của pháp nhân xuất phát từ những hành động hoặc không hành động có lỗi của các cá nhân, mà có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình theo luật định. Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự về lỗi của mình khi có lỗi cụ thể của mỗi cá nhân, cũng như khi lỗi của những cá nhân cụ thể bị loại trừ. Đó là những người đứng đầu pháp nhân, người thực hiện phạm tội vì pháp nhân đó.

Hiện nay, căn cứ theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã… thì khó có thể xác định được mặt chủ quan của những người cùng tham gia quyết định thực hiện tội phạm khi họp đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần), hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), đại hội xã viên (đối với hợp tác xã)... Do đó, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bỏ phiếu không tán thành, do họ không có lỗi và cũng khó xác định được người nào tán thành, người nào không tán thành, vì kết quả biểu quyết chỉ xác định trên cơ sở phiếu biểu quyết tính theo tỷ lệ phần trăm. Trong trường hợp này, việc xác định lỗi thông qua người đứng đầu pháp nhân, người thực hiện phạm tội vì pháp nhân đó.

Ngoài ra, khi xác định lỗi của pháp nhân để chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân cần chú ý phân biệt người đứng đầu pháp nhân, người đại diện cho pháp nhân thực hiện tội phạm với tư cách cá nhân chứ không phải vì lợi ích chung của pháp nhân, đại diện cho pháp nhân đó để khởi tố bảo đảm chính xác.

Những cá nhân đại diện cho pháp nhân, những người đứng đầu pháp nhân thực hiện tội phạm nếu có đủ các điều kiện sau thì có cơ sở xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cụ thể:

+ Những người này không thực hiện hành vi với tư cách cá nhân mà phải thực hiện hành vi với tư cách là người đứng đầu, đại diện cho pháp nhân đó.

+ Nếu quyền hạn của họ do ủy quyền mà có thì họ phải thực hiện trong phạm vi ủy quyền.

+ Hành vi nhằm đem lại lợi ích cho pháp nhân mà không nhằm mưu cầu lợi ích cho cá nhân.

Nếu không có các điều kiện trên thì khởi tố hình sự đối với cá nhân chứ không khởi tố hình sự đối với pháp nhân.

Ngoài ra, khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát cần chứng minh pháp nhân phạm tội nào theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì khởi tố đối với pháp nhân chỉ được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm các tội kinh tế và môi trường. Khởi tố bị can đối với người phạm tội không giới hạn phạm vi khởi tố. Khi cá nhân phạm bất kỳ tội nào được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cơ quan có thẩm quyền đều có thể tiến hành khởi tố.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015: Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới phải chịu trách nhiệm hình sự[9]. Như vậy, pháp nhân phi thương mại không phải là đối tượng chứng minh khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác [10]. Pháp nhân này chính là đối tượng của khởi tố bị can đối với pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác[11].

Mặt khác, khi chứng minhcăn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cần căn cứ phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được quy định trong Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, có thể xác định phạm vi khởi tố bị can đối với pháp nhân đó là chỉ tiến hành khởi tố bị can là pháp nhân thương mại nếu pháp nhân thương mại phạm các tội phạm về kinh tế và môi trường theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

.Căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là một vấn đề mới trong pháp luật tố tụng hình sự. Việc nhận thức cơ sở lý luận nêu trên về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là tiền đề để triển khai và áp dụng có hiệu quả trong thực tế chế định khởi tố bị can đối với pháp nhân trong tố tụng hình sự của cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với các loại tội phạm do pháp nhân thực hiện trong thời gian tới.

ThS. Lưu Thanh Hùng
Trường Đại học An ninh nhân dân


[1]Trần Văn Liêm - Dân Luật nhập môn - 1974, tr.308-313.

[2] TS Nguyễn Bá Ngừng (2011), Sách chuyên khảo “Lỗi của tổ chức vi phạm pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb. Công an nhân dân, tr.12-13.

[3]Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]Điều 432 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]Điều 433 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Điều 433 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[8] Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Khoản 2 Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015

[10] Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11] Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: