Thứ năm 11/12/2025 13:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Pháp nhân là tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật, có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Để tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể riêng biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật

Pháp nhân là tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật, có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Để tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể riêng biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật, khoa học pháp lý đưa ra khái niệm pháp nhân (tổ chức) nhằm phân biệt với thể nhân (tự nhiên nhân) là những cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật.

Vấn đề pháp nhân luôn là vấn đề tranh luận sôi nổi một thời gian dài từ cuối Thế kỷ XIX”[1]. Kết quả xuất hiện nhiều thuyết khác nhau về pháp nhân. Có thể kể đến các học thuyết như Thuyết giả định, Thuyết thực tại, Thuyết phủ nhận[2]. Cho đến ngày nay, pháp nhân, tổ chức đã được thừa nhận rộng rãi về mặt lý luận, luật pháp cũng như là một thực thể hiện hữu trong thực tế, được coi như chủ thể cơ bản của luật pháp và có vai trò ngày càng lớn trong đời sống kinht ế xã hội. Pháp nhân đóng vai trò quan trọng và là chủ thể tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật theo quy định của pháp luật các nước như pháp luật hành chính, hình sự, tố tụng hình sự và trong pháp luật dân sự.

Kế thừa thành tựu pháp lý của thế giới, trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua, Việt Nam chính thức ghi nhận, quy định vấn đề pháp nhân là chủ thể của tội phạm và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong đó, căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân và những vấn đề chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là những nội dung mới, quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

Căn cứ khởi tố bị can có vai trò quan trọng trong tiến trình tố tụng hình sự. Căn cứ khởi tố bị can là “đề khởi” của quá trình tố tụng hình sự đối với bị can. Việc khởi tố bị can chính xác, đúng pháp luật phụ thuộc vào căn cứ khởi tố bị can.

Căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là cơ sở để xác định về mặt pháp lý một pháp nhân phạm tội, là cơ sở để cơ quan điều tra công khai mở cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật tố tụng hình sự quy định để làm rõ pháp nhân phạm tội. Trừ một số trường hợp mang tính cấp bách, về nguyên tắc các biện pháp cưỡng chế[3] được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ được áp dụng đối với pháp nhân phạm tội sau khi có quyết định khởi tố bị can.

Trước tiên, để xác định và chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân chính xác theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải phân biệt căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân với căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân; căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân vớicăn cứ khởi tố bị can đối với cá nhân.

Về căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân và căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân thì: Khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự [4]. Khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân[5].

Như vậy, để có căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân, thì cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải thông qua các hoạt động kiểm tra, xác minh thu thập chứng cứ, đánh giá sơ bộ để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm tương ứng với một tội danh đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự xảy ra trên thực tế. Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với pháp nhân thì không bắt buộc phải chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Thông thường, chỉ cần làm rõ khách thể trực tiếp của tội phạm, các dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan và chủ quan của tội phạm. Vì thế khi xác định có dấu hiệu của tội phạm dù chưa rõ pháp nhân nào thực hiện thì việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vẫn được tiến hành. Khác với căn cứ khởi tố vụ án đối với pháp nhân, khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra phải xác định chính xác pháp nhân nào đã thực hiện hành vi phạm tội thì mới tiến hành khởi tố bị can đối với pháp nhân đó.

Về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân và căn cứ khởi tố bị can đối với cá nhân: Nếu như khởi tố bị can đối với cá nhân thì việc xác định căn cứ khởi tố bị can thông qua cá nhân người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, còn khởi tố bị can đối với pháp nhân thì cơ quan điều tra phải xác định căn cứ khởi tố bị can là pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm[6].

Khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra cần làm rõ: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự[7].

Việc làm rõ nội dung trên giúp cơ quan điều tra xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân hay pháp nhân để xác định có căn cứ khởi tố bị can đối với người phạm tội hay khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Ngoài ra, khi chứng minh căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra cần làm rõ: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân[8].

Việc chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra” không phải là vấn đề phức tạp đặt ra đối với cơ quan điều tra khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân. Tuy nhiên, việc chứng minh lỗi của pháp nhân lại là vấn đề hết sức khó khăn. Vấn đề này hiện đang còn nhiều ý kiến khác nhau, và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng không quy định rõ.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân khi thực hiện tội phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với pháp nhân. Khi tiến hành khởi tố hình sự đối với pháp nhân chỉ cần pháp nhân đó có hành phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đủ.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng: cần phải xác định lỗi của pháp nhân khi phạm tội thì mới đầy đủ cơ sở để tiến hành khởi tố đối với pháp nhân đó.

Theo tác giả, giữa lỗi và việc truy cứu trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ. Khoa học pháp lý đã khẳng định, tội phạm là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, để truy cứu trách nhiệm hình sự cần phải xác định được cấu thành tội phạm trong những trường hợp cụ thể. Một trong những dấu hiệu luôn bắt buộc trong cấu thành tội phạm đó là dấu hiệu lỗi. Do vậy, khi chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân phải chứng minh lỗi của pháp nhân. Cơ quan điều tra phải xác định lỗi của pháp nhân thì mới có đầy đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Về vấn đề xác định lỗi của pháp nhân làm căn cứ để khởi tố bị can đối với pháp nhân, theo tác giả lỗi của pháp nhân phạm tội không tách rời khỏi lỗi của những thành viên của pháp nhân đó. Lỗi của pháp nhân xuất phát từ những hành động hoặc không hành động có lỗi của các cá nhân, mà có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình theo luật định. Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự về lỗi của mình khi có lỗi cụ thể của mỗi cá nhân, cũng như khi lỗi của những cá nhân cụ thể bị loại trừ. Đó là những người đứng đầu pháp nhân, người thực hiện phạm tội vì pháp nhân đó.

Hiện nay, căn cứ theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã… thì khó có thể xác định được mặt chủ quan của những người cùng tham gia quyết định thực hiện tội phạm khi họp đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần), hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn), đại hội xã viên (đối với hợp tác xã)... Do đó, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bỏ phiếu không tán thành, do họ không có lỗi và cũng khó xác định được người nào tán thành, người nào không tán thành, vì kết quả biểu quyết chỉ xác định trên cơ sở phiếu biểu quyết tính theo tỷ lệ phần trăm. Trong trường hợp này, việc xác định lỗi thông qua người đứng đầu pháp nhân, người thực hiện phạm tội vì pháp nhân đó.

Ngoài ra, khi xác định lỗi của pháp nhân để chứng minh căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân cần chú ý phân biệt người đứng đầu pháp nhân, người đại diện cho pháp nhân thực hiện tội phạm với tư cách cá nhân chứ không phải vì lợi ích chung của pháp nhân, đại diện cho pháp nhân đó để khởi tố bảo đảm chính xác.

Những cá nhân đại diện cho pháp nhân, những người đứng đầu pháp nhân thực hiện tội phạm nếu có đủ các điều kiện sau thì có cơ sở xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cụ thể:

+ Những người này không thực hiện hành vi với tư cách cá nhân mà phải thực hiện hành vi với tư cách là người đứng đầu, đại diện cho pháp nhân đó.

+ Nếu quyền hạn của họ do ủy quyền mà có thì họ phải thực hiện trong phạm vi ủy quyền.

+ Hành vi nhằm đem lại lợi ích cho pháp nhân mà không nhằm mưu cầu lợi ích cho cá nhân.

Nếu không có các điều kiện trên thì khởi tố hình sự đối với cá nhân chứ không khởi tố hình sự đối với pháp nhân.

Ngoài ra, khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát cần chứng minh pháp nhân phạm tội nào theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì khởi tố đối với pháp nhân chỉ được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm các tội kinh tế và môi trường. Khởi tố bị can đối với người phạm tội không giới hạn phạm vi khởi tố. Khi cá nhân phạm bất kỳ tội nào được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cơ quan có thẩm quyền đều có thể tiến hành khởi tố.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015: Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới phải chịu trách nhiệm hình sự[9]. Như vậy, pháp nhân phi thương mại không phải là đối tượng chứng minh khi xác định căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân.

Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác [10]. Pháp nhân này chính là đối tượng của khởi tố bị can đối với pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác[11].

Mặt khác, khi chứng minhcăn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cần căn cứ phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được quy định trong Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, có thể xác định phạm vi khởi tố bị can đối với pháp nhân đó là chỉ tiến hành khởi tố bị can là pháp nhân thương mại nếu pháp nhân thương mại phạm các tội phạm về kinh tế và môi trường theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

.Căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là một vấn đề mới trong pháp luật tố tụng hình sự. Việc nhận thức cơ sở lý luận nêu trên về căn cứ khởi tố bị can đối với pháp nhân là tiền đề để triển khai và áp dụng có hiệu quả trong thực tế chế định khởi tố bị can đối với pháp nhân trong tố tụng hình sự của cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với các loại tội phạm do pháp nhân thực hiện trong thời gian tới.

ThS. Lưu Thanh Hùng
Trường Đại học An ninh nhân dân


[1]Trần Văn Liêm - Dân Luật nhập môn - 1974, tr.308-313.

[2] TS Nguyễn Bá Ngừng (2011), Sách chuyên khảo “Lỗi của tổ chức vi phạm pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb. Công an nhân dân, tr.12-13.

[3]Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]Điều 432 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]Điều 433 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Điều 433 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[8] Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Khoản 2 Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015

[10] Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11] Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: