Thứ năm 19/03/2026 12:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền của người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật TNBTCNN được ban hành để bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Xuất phát từ đối tượng được bồi thường nêu trên, các quy định về phục hồi danh dự được xây dựng hướng đến thiệt hại trực tiếp về danh dự, nhân phẩm của người bị thiệt hại. Luật TNBTCNN năm 2009, quy định việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thông qua việc xin lỗi, cải chính công khai với hai hình thức là: (i) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại; (ii) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương.

1. So sánh, phân tích quyền của người bị thiệt hại và quyền của người yêu cầu bồi thường

1.1. Về thuật ngữ

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) năm 2009 sử dụng đồng thời thuật ngữ “người bị thiệt hại” và “người yêu cầu bồi thường”. Tuy nhiên, chưa quy định rõ người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường cụ thể là những người nào. Nghiên cứu các quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 cho thấy, thuật ngữ “người bị thiệt hại” được sử dụng xuyên suốt trong các quy định của Luật. Thuật ngữ “người yêu cầu bồi thường” chỉ được sử dụng trong các quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường và quyết định giải quyết bồi thường[i]. Do đó, có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất, người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường là một chủ thể, việc sử dụng thuật ngữ người yêu cầu bồi thường được thay cho thuật ngữ người bị thiệt hại với mục đích thể hiện rõ hành vi thực hiện quyền của người bị thiệt hại trong việc có yêu cầu bồi thường. Cách hiểu thứ hai, người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường có thể là các chủ thể khác nhau. Vì Luật TNBTCNN năm 2009 quy định rõ quyền của người bị thiệt hại mà chưa quy định rõ quyền của người yêu cầu bồi thường nên việc xác định quyền của người yêu cầu bồi thường sẽ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật khác có liên quan như Bộ luật Dân sự.

Một trong những nội dung mới của Luật TNBTCNN năm 2017 là giải nghĩa cụ thể thuật ngữ “người bị thiệt hại” và “người yêu cầu bồi thường”. Theo đó, “người bị thiệt hại” là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[ii]. “Người yêu cầu bồi thường” là người có văn bản yêu cầu bồi thường thuộc một trong các trường hợp: Người bị thiệt hại, người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại[iii]. Mặc dù Luật TNBTCNN năm 2009 hay Luật TNBTCNN năm 2017 có quy định khác nhau về thuật ngữ, tuy nhiên, điểm tương đồng giữa cả hai văn bản quy phạm pháp luật này là không phân biệt cá nhân, tổ chức bị thiệt hại của Việt Nam hay nước ngoài. Theo đó, tại Việt Nam mọi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ sẽ được giải quyết bồi thường mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Điều này đã thể hiện đậm nét nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện triệt để các yêu cầu về hội nhập quốc tế.

1.2. Về quyền của người bị thiệt hại và quyền của người yêu cầu bồi thường trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2009 đã quy định 05 nhóm quyền của người bị thiệt hại, làm cơ sở để bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của mình, bao gồm: (i) Yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009; (ii) Được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc Tòa án giải quyết và thông báo việc giải quyết bồi thường; (iii) Khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; (iv) Khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng; (v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại còn có các quyền như được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hướng dẫn bổ sung hồ sơ yêu cầu bồi thường[iv].

Luật TNBTCNN năm 2017, bên cạnh việc kế thừa, có sửa đổi các quyền của người bị thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, còn bổ sung thêm 03 nhóm quyền khác là: (i) Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; (ii) Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và (iii) Quyền khác theo quy định của pháp luật[v]. Bên cạnh đó, so với Luật TNBTCNN năm 2009 thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định rạch ròi giữa quyền của người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại với quyền của người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền. Theo đó, người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có các quyền: (i) Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TNBTCNN năm 2017 giải quyết yêu cầu bồi thường và được thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường; (ii) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính; khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng; (iii) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật; (iv) Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; (v) Được cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hướng dẫn thủ tục yêu cầu bồi thường; (vi) Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và (vii) Quyền khác theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền có các quyền như người bị thiệt hại với quyền của người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại, ngoại trừ quyền được ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ sự khác nhau về địa vị pháp lý của người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường nên trong trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường thì hồ sơ yêu cầu bồi thường bao gồm: (i) Văn bản yêu cầu bồi thường; (ii) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; (iii) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại và (iv) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có). Tuy nhiên, đối với người yêu cầu bồi thường là người thừa kế (nếu có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó phải cử ra một người đại diện) hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại thì ngoài các tài liệu mà người bị thiệt hại phải cung cấp như đã nêu trên thì trong hồ sơ còn phải có các tài liệu: (i) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế, người đại diện của người bị thiệt hại; (ii) Văn bản ủy quyền hợp pháp trong trường hợp đại diện theo ủy quyền; (iii) Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc, trường hợp không có di chúc thì phải có văn bản hợp pháp về quyền thừa kế.

1.3. Về phục hồi danh dự

Luật TNBTCNN được ban hành để bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Xuất phát từ đối tượng được bồi thường nêu trên, các quy định về phục hồi danh dự được xây dựng hướng đến thiệt hại trực tiếp về danh dự, nhân phẩm của người bị thiệt hại. Luật TNBTCNN năm 2009, quy định việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thông qua việc xin lỗi, cải chính công khai với hai hình thức là: (i) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại; (ii) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương.

Xuất phát từ việc mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc nên đối tượng được phục hồi danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 đã được mở rộng hơn. Bên cạnh đó, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định bổ sung việc chủ động phục hồi danh dự; trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai; đăng báo xin lỗi và cải chính công khai đều chỉ áp dụng đối với người bị thiệt hại. Những đối tượng còn lại là người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại không thuộc trường hợp được phục hồi danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017.

1.4. Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm cho người yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại thực hiện quyền

Tương ứng với quyền của người yêu cầu bồi thường và người bị thiệt hại là nghĩa vụ của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và các cơ quan khác có liên quan.

Đối với cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Luật TNBTCNN năm 2017 sử dụng thuật ngữ “cơ quan giải quyết bồi thường”), Điều 8 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định 08 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định 15 nhóm trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường. Bên cạnh một số nghĩa vụ được kế thừa như tiếp nhận thụ lý yêu cầu bồi thường; xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường; chi trả tiền bồi thường; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết bồi thường; tham gia tố tụng tại Tòa án; khôi phục hoặc đề nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại; báo cáo việc giải quyết yêu cầu bồi thường thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung một số trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền của người yêu cầu bồi thường như hướng dẫn người yêu cầu bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường hay giải thích cho người yêu cầu bồi thường về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường (Luật TNBTCNN năm 2017 sử dụng thuật ngữ “cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước”), Luật TNBTCNN năm 2009 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 đã quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với người bị thiệt hại, như hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường[vi]. Như đã được đề cập ở các mục trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể, tách bạch giữa quyền của người yêu cầu bồi thường và quyền của người bị thiệt hại. Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với hai nhóm đối tượng này có điểm tương đồng, đó là đều được cơ quan giải quyết bồi thường giải thích về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và được hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường (khoản 3 và khoản 9 Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017). Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong việc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại. Theo đó, ở trung ương, Bộ Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường; ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình, Sở Tư pháp là cơ quan được giao tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. Trường hợp người bị thiệt hại ủy quyền cho người đại diện, người được ủy quyền thì cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước ở cả trung ương và địa phương sẽ không thực hiện việc hỗ trợ, hướng dẫn dành cho đối tượng được ủy quyền, được đại diện.

2. Một số kiến nghị

Về thể chế, Luật TNBTCNN năm 2017 đã có bước tiến trong việc bảo đảm cho người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường thực hiện quyền của mình. So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã làm rõ thế nào là người yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại; bên cạnh đó, làm rõ địa vị pháp lý giữa hai đối tượng này trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và phục hồi danh dự. Ngoài ra, so với Luật TNBTCNN năm 2009 thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của hai đối tượng nêu trên. Tuy nhiên, để tiếp tục bảo đảm quyền của người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường, trong thời gian tới, tác giả cho rằng cần quan tâm đến việc tổ chức thi hành Luật TNBTCNN năm 2017, trong đó việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng của Luật TNBTCNN năm 2017 là cần thiết. Để tiếp tục tổ chức thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu quả, các đối tượng cần tập trung thực hiện một số hoạt động sau đây:

2.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Điểm k khoản 2 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường nhà nước. Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang được áp dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có cả lĩnh vực pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thì việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường nhà nước (với những thông tin tổng hợp về cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nơi cung cấp dịch vụ nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường trực tuyến, là một kênh giải đáp vướng mắc trực tiếp...) là cần thiết để giúp người bị thiệt hại nắm bắt, cập nhật thông tin chính thức, đầy đủ về pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nộp đơn yêu cầu bồi thường và được giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2.2. Đối với cơ quan giải quyết bồi thường

Điều 8 Luật TNBTCNN năm 2009, nay là Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định về trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường. Theo đó, về phía cơ quan giải quyết bồi thường cần bám sát 15 nhóm trách nhiệm được quy định tại Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ được giao và kịp thời phúc đáp quyền được bồi thường của người bị thiệt hại. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường không phải là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, khi phát sinh vụ việc yêu cầu bồi thường, nếu có khó khăn, vướng mắc, cơ quan giải quyết bồi thường cần kịp thời liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước để được hướng dẫn nghiệp vụ.

2.3. Đối với người yêu cầu bồi thường

Bên cạnh việc tiếp cận các thông tin pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông qua việc tuyên truyền phổ biến thì người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường cần chủ động tìm hiểu các nguồn thông tin tham khảo để qua đó nắm bắt quyền và cách thức thực hiện quyền được bồi thường của mình. Mặt khác, để việc giải quyết bồi thường được thực hiện kịp thời, hiệu quả, cần có sự phối hợp từ phía cá nhân, tổ chức với cơ quan giải quyết bồi thường. Đồng thời, khi yêu cầu về việc khảo sát, đánh giá hiệu quả dịch vụ công nói chung và giải quyết bồi thường và quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước nói chung, cá nhân, tổ chức cần tích cực tham gia và bày tỏ quan điểm, đánh giá để trên cơ sở đó, cơ quan thực hiện khảo sát có thêm kênh thông tin để hoàn thiện hơn nữa các cơ chế để bảo đảm quyền của người bị thiệt hại, quyền của người yêu cầu bồi thường. Điều 12 Luật TNBTCNN năm 2009 được kế thừa và bổ sung thành Điều 16 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Do đó, người yêu cầu bồi thường cần bảo đảm không vi phạm các quy định các hành vi bị nghiêm cấm này để bảo đảm việc giải quyết bồi thường được thực hiện nhanh chóng và hợp pháp.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[i] Điểm a khoản 2 Điều 16, điểm a khoản 1 Điều 20, điểm a khoản 2 Điều 34, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 41 và điểm a khoản 2 Điều 42 Luật TNBTCNN năm 2009.

[ii]Khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017.

[iii]Khoản 3 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017.

[iv]Khoản 1 Điều 17 Luật TNBTCNN năm 2009.

[v]Điểm d, e và g khoản 1 Điều 13 Luật TNBTCNN năm 2017.

[vi] Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BTP-BQP ngày 01/02/2013 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự; Điều 17 Thông tư số 03/2013/TT-BTP ngày 31/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: