Thứ tư 26/08/2026 05:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền của người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật TNBTCNN được ban hành để bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Xuất phát từ đối tượng được bồi thường nêu trên, các quy định về phục hồi danh dự được xây dựng hướng đến thiệt hại trực tiếp về danh dự, nhân phẩm của người bị thiệt hại. Luật TNBTCNN năm 2009, quy định việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thông qua việc xin lỗi, cải chính công khai với hai hình thức là: (i) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại; (ii) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương.

1. So sánh, phân tích quyền của người bị thiệt hại và quyền của người yêu cầu bồi thường

1.1. Về thuật ngữ

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) năm 2009 sử dụng đồng thời thuật ngữ “người bị thiệt hại” và “người yêu cầu bồi thường”. Tuy nhiên, chưa quy định rõ người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường cụ thể là những người nào. Nghiên cứu các quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 cho thấy, thuật ngữ “người bị thiệt hại” được sử dụng xuyên suốt trong các quy định của Luật. Thuật ngữ “người yêu cầu bồi thường” chỉ được sử dụng trong các quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường và quyết định giải quyết bồi thường[i]. Do đó, có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất, người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường là một chủ thể, việc sử dụng thuật ngữ người yêu cầu bồi thường được thay cho thuật ngữ người bị thiệt hại với mục đích thể hiện rõ hành vi thực hiện quyền của người bị thiệt hại trong việc có yêu cầu bồi thường. Cách hiểu thứ hai, người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường có thể là các chủ thể khác nhau. Vì Luật TNBTCNN năm 2009 quy định rõ quyền của người bị thiệt hại mà chưa quy định rõ quyền của người yêu cầu bồi thường nên việc xác định quyền của người yêu cầu bồi thường sẽ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật khác có liên quan như Bộ luật Dân sự.

Một trong những nội dung mới của Luật TNBTCNN năm 2017 là giải nghĩa cụ thể thuật ngữ “người bị thiệt hại” và “người yêu cầu bồi thường”. Theo đó, “người bị thiệt hại” là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[ii]. “Người yêu cầu bồi thường” là người có văn bản yêu cầu bồi thường thuộc một trong các trường hợp: Người bị thiệt hại, người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại[iii]. Mặc dù Luật TNBTCNN năm 2009 hay Luật TNBTCNN năm 2017 có quy định khác nhau về thuật ngữ, tuy nhiên, điểm tương đồng giữa cả hai văn bản quy phạm pháp luật này là không phân biệt cá nhân, tổ chức bị thiệt hại của Việt Nam hay nước ngoài. Theo đó, tại Việt Nam mọi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ sẽ được giải quyết bồi thường mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Điều này đã thể hiện đậm nét nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện triệt để các yêu cầu về hội nhập quốc tế.

1.2. Về quyền của người bị thiệt hại và quyền của người yêu cầu bồi thường trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2009 đã quy định 05 nhóm quyền của người bị thiệt hại, làm cơ sở để bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của mình, bao gồm: (i) Yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009; (ii) Được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc Tòa án giải quyết và thông báo việc giải quyết bồi thường; (iii) Khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; (iv) Khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng; (v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại còn có các quyền như được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hướng dẫn bổ sung hồ sơ yêu cầu bồi thường[iv].

Luật TNBTCNN năm 2017, bên cạnh việc kế thừa, có sửa đổi các quyền của người bị thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, còn bổ sung thêm 03 nhóm quyền khác là: (i) Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; (ii) Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và (iii) Quyền khác theo quy định của pháp luật[v]. Bên cạnh đó, so với Luật TNBTCNN năm 2009 thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định rạch ròi giữa quyền của người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại với quyền của người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền. Theo đó, người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có các quyền: (i) Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TNBTCNN năm 2017 giải quyết yêu cầu bồi thường và được thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường; (ii) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính; khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng; (iii) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật; (iv) Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; (v) Được cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hướng dẫn thủ tục yêu cầu bồi thường; (vi) Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và (vii) Quyền khác theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền có các quyền như người bị thiệt hại với quyền của người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại, ngoại trừ quyền được ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ sự khác nhau về địa vị pháp lý của người bị thiệt hại và người yêu cầu bồi thường nên trong trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường thì hồ sơ yêu cầu bồi thường bao gồm: (i) Văn bản yêu cầu bồi thường; (ii) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; (iii) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại và (iv) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có). Tuy nhiên, đối với người yêu cầu bồi thường là người thừa kế (nếu có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó phải cử ra một người đại diện) hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại thì ngoài các tài liệu mà người bị thiệt hại phải cung cấp như đã nêu trên thì trong hồ sơ còn phải có các tài liệu: (i) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế, người đại diện của người bị thiệt hại; (ii) Văn bản ủy quyền hợp pháp trong trường hợp đại diện theo ủy quyền; (iii) Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc, trường hợp không có di chúc thì phải có văn bản hợp pháp về quyền thừa kế.

1.3. Về phục hồi danh dự

Luật TNBTCNN được ban hành để bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Xuất phát từ đối tượng được bồi thường nêu trên, các quy định về phục hồi danh dự được xây dựng hướng đến thiệt hại trực tiếp về danh dự, nhân phẩm của người bị thiệt hại. Luật TNBTCNN năm 2009, quy định việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thông qua việc xin lỗi, cải chính công khai với hai hình thức là: (i) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại; (ii) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương.

Xuất phát từ việc mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc nên đối tượng được phục hồi danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 đã được mở rộng hơn. Bên cạnh đó, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định bổ sung việc chủ động phục hồi danh dự; trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai; đăng báo xin lỗi và cải chính công khai đều chỉ áp dụng đối với người bị thiệt hại. Những đối tượng còn lại là người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại không thuộc trường hợp được phục hồi danh dự theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017.

1.4. Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm cho người yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại thực hiện quyền

Tương ứng với quyền của người yêu cầu bồi thường và người bị thiệt hại là nghĩa vụ của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và các cơ quan khác có liên quan.

Đối với cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Luật TNBTCNN năm 2017 sử dụng thuật ngữ “cơ quan giải quyết bồi thường”), Điều 8 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định 08 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định 15 nhóm trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường. Bên cạnh một số nghĩa vụ được kế thừa như tiếp nhận thụ lý yêu cầu bồi thường; xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường; chi trả tiền bồi thường; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết bồi thường; tham gia tố tụng tại Tòa án; khôi phục hoặc đề nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại; báo cáo việc giải quyết yêu cầu bồi thường thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung một số trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền của người yêu cầu bồi thường như hướng dẫn người yêu cầu bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường hay giải thích cho người yêu cầu bồi thường về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường (Luật TNBTCNN năm 2017 sử dụng thuật ngữ “cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước”), Luật TNBTCNN năm 2009 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 đã quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với người bị thiệt hại, như hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường[vi]. Như đã được đề cập ở các mục trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể, tách bạch giữa quyền của người yêu cầu bồi thường và quyền của người bị thiệt hại. Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với hai nhóm đối tượng này có điểm tương đồng, đó là đều được cơ quan giải quyết bồi thường giải thích về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và được hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường (khoản 3 và khoản 9 Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017). Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong việc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại. Theo đó, ở trung ương, Bộ Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường; ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình, Sở Tư pháp là cơ quan được giao tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. Trường hợp người bị thiệt hại ủy quyền cho người đại diện, người được ủy quyền thì cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước ở cả trung ương và địa phương sẽ không thực hiện việc hỗ trợ, hướng dẫn dành cho đối tượng được ủy quyền, được đại diện.

2. Một số kiến nghị

Về thể chế, Luật TNBTCNN năm 2017 đã có bước tiến trong việc bảo đảm cho người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường thực hiện quyền của mình. So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã làm rõ thế nào là người yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại; bên cạnh đó, làm rõ địa vị pháp lý giữa hai đối tượng này trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và phục hồi danh dự. Ngoài ra, so với Luật TNBTCNN năm 2009 thì Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của hai đối tượng nêu trên. Tuy nhiên, để tiếp tục bảo đảm quyền của người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường, trong thời gian tới, tác giả cho rằng cần quan tâm đến việc tổ chức thi hành Luật TNBTCNN năm 2017, trong đó việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng của Luật TNBTCNN năm 2017 là cần thiết. Để tiếp tục tổ chức thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu quả, các đối tượng cần tập trung thực hiện một số hoạt động sau đây:

2.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Điểm k khoản 2 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường nhà nước. Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang được áp dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có cả lĩnh vực pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thì việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường nhà nước (với những thông tin tổng hợp về cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nơi cung cấp dịch vụ nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường trực tuyến, là một kênh giải đáp vướng mắc trực tiếp...) là cần thiết để giúp người bị thiệt hại nắm bắt, cập nhật thông tin chính thức, đầy đủ về pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nộp đơn yêu cầu bồi thường và được giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2.2. Đối với cơ quan giải quyết bồi thường

Điều 8 Luật TNBTCNN năm 2009, nay là Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định về trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường. Theo đó, về phía cơ quan giải quyết bồi thường cần bám sát 15 nhóm trách nhiệm được quy định tại Điều 15 Luật TNBTCNN năm 2017 để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ được giao và kịp thời phúc đáp quyền được bồi thường của người bị thiệt hại. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường không phải là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, khi phát sinh vụ việc yêu cầu bồi thường, nếu có khó khăn, vướng mắc, cơ quan giải quyết bồi thường cần kịp thời liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước để được hướng dẫn nghiệp vụ.

2.3. Đối với người yêu cầu bồi thường

Bên cạnh việc tiếp cận các thông tin pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông qua việc tuyên truyền phổ biến thì người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường cần chủ động tìm hiểu các nguồn thông tin tham khảo để qua đó nắm bắt quyền và cách thức thực hiện quyền được bồi thường của mình. Mặt khác, để việc giải quyết bồi thường được thực hiện kịp thời, hiệu quả, cần có sự phối hợp từ phía cá nhân, tổ chức với cơ quan giải quyết bồi thường. Đồng thời, khi yêu cầu về việc khảo sát, đánh giá hiệu quả dịch vụ công nói chung và giải quyết bồi thường và quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước nói chung, cá nhân, tổ chức cần tích cực tham gia và bày tỏ quan điểm, đánh giá để trên cơ sở đó, cơ quan thực hiện khảo sát có thêm kênh thông tin để hoàn thiện hơn nữa các cơ chế để bảo đảm quyền của người bị thiệt hại, quyền của người yêu cầu bồi thường. Điều 12 Luật TNBTCNN năm 2009 được kế thừa và bổ sung thành Điều 16 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Do đó, người yêu cầu bồi thường cần bảo đảm không vi phạm các quy định các hành vi bị nghiêm cấm này để bảo đảm việc giải quyết bồi thường được thực hiện nhanh chóng và hợp pháp.

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[i] Điểm a khoản 2 Điều 16, điểm a khoản 1 Điều 20, điểm a khoản 2 Điều 34, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 41 và điểm a khoản 2 Điều 42 Luật TNBTCNN năm 2009.

[ii]Khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017.

[iii]Khoản 3 Điều 3 Luật TNBTCNN năm 2017.

[iv]Khoản 1 Điều 17 Luật TNBTCNN năm 2009.

[v]Điểm d, e và g khoản 1 Điều 13 Luật TNBTCNN năm 2017.

[vi] Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BTP-BQP ngày 01/02/2013 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự; Điều 17 Thông tư số 03/2013/TT-BTP ngày 31/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: