Thứ tư 21/01/2026 01:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự thay đổi về quyền từ chối nhận di sản trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về sự phát triển của quy định từ chối nhận di sản từ năm 1990 đến nay và nêu lên điểm thay đổi về thủ tục từ chối nhận di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về sự phát triển của quy định từ chối nhận di sản từ năm 1990 đến nay và nêu lên điểm thay đổi về thủ tục từ chối nhận di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: This paper analyzes the development of provisions on refusal of inheritance from 1999 to the present and points out, point of change in procedures of inheritance refusal in accordance with provisions of the Civil Code of 2015.

1. Quyền khước từ di sản theo Pháp lệnh Thừa kế năm 1990

Ngày 30/8/1990, Pháp lệnh Thừa kế được ban hành, theo Pháp lệnh này, quyền từ chối nhận di sản được mang tên gọi là khước từ quyền hưởng di sản. Theo đó, người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản, trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản. Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác (Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990). Quyền từ chối nhận di sản theo quy định ở thời điểm này có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, theo quy định của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, quyền khước từ quyền hưởng di sản của người thừa kế được ghi nhận cụ thể và là nền tảng kế thừa cho quyền từ chối nhận di sản ở các Bộ luật Dân sự sau này

Trong thời kỳ pháp luật phong kiến, thì quyền từ chối nhận di sản hầu như không được ghi nhận. Mọi quyền, nghĩa vụ tài sản từ cá nhân chết để lại cho người thừa kế theo nguyên tắc “phụ trái tử hoàn”, tức là cha nợ thì con phải trả, dù đó là khối tài sản có hay tài sản nợ thì con cháu cũng phải gánh chịu để thực hiện thay cho người chết và hầu như không có giới hạn trong phạm vi di sản, có nghĩa là họ phải gánh chịu nghĩa vụ từ người chết bằng chính tài sản của bản thân. Pháp luật phong kiến (Luật Hồng Đức, Luật Gia Long) chỉ ghi nhận việc bị tước quyền hưởng di sản do vi phạm hoặc bị truất quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại di sản thể hiện trong di chúc mà không hề có sự tồn tại của quyền từ chối nhận di sản[1].

Đến giai đoạn thời kỳ Pháp thuộc, thì tư tưởng của các quy định thời kỳ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhất định. Con cháu của người chết, vợ hay chồng của người chết bắt buộc phải nhận di sản và bắt buộc phải lấy tài sản riêng của mình mà trang trải các khoản nợ của người chết, không có ngoại lệ nào (Điều 316, Điều 376 Dân luật Bắc kỳ ).

Điều 10 Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 không coi việc nhận di sản thừa kế là một nghĩa vụ mà quy định con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũng không bắt buộc phải thừa kế người ấy. Khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại. Quy định này chính là nền tảng đầu tiên ghi nhận về từ chối nhận di sản và nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng trong pháp luật sau này.

Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 ghi nhận quyền từ chối nhận di sản một cách khá hoàn thiện về sự tồn tại quyền, điều kiện và thể thức từ chối chính là nền tảng vững chắc cho các bộ luật sau này hoàn thiện ghi nhận quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế.

Thứ hai, việc khước từ quyền hưởng di sản còn chưa được phân biệt rõ ràng với việc nhận quyền hưởng di sản sau đó tặng cho kỷ phần lại cho người thừa kế khác

Khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định: “Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác”. Có thể thấy, Pháp lệnh này chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa việc từ chối nhận di sản và việc đồng ý nhận nhưng nhưởng quyền hoặc nhường phần kỷ phần lại cho người khác. Bởi vì, việc nhường kỷ phần cũng được ghi nhận trong cùng một điều với khước từ quyền hưởng di sản. Khước từ quyền hưởng di sản lẽ ra phải được hiểu đúng bản chất của nó, rằng sau khi quyết định và thực hiện quyền này, người thừa kế ban đầu đã không còn quyền định đoạt đối với phần di sản bị khước từ hưởng. Nếu muốn nhường kỷ phần, tặng cho kỷ phần lại cho người thừa kế khác, bắt buộc người thừa kế phải thực hiện việc thừa kế di sản - trở thành người có quyền đối với phần được tặng, được nhường lại.

Thứ ba, khước từ quyền hưởng di sản là một quyền có hạn chế, thực hiện quyền khước từ không được ảnh hưởng lợi ích của người khác

Người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản, trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản. Đây là giới hạn hợp lý dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng về quyền dân sự của các chủ thể. Khi đó, chủ thể bất kỳ thực hiện quyền của mình nhưng không được xâm hại đến lợi ích của chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

Thứ tư, thủ tục khước từ quyền hưởng di sản phải thông báo việc khước từ cho người thừa kế khác, Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan công chứng nơi mở thừa kế, song hình thức khước từ chưa có sự quy định cụ thể

Việc khước từ phải thông báo cho người thừa kế khác, Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan công chứng nơi mở thừa kế. Như vậy, ở giai đoạn này, khước từ quyền hưởng di sản muốn có hiệu lực phải thông báo cho người thừa kế khác và thực hiện việc công chức hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân nơi mở thừa kế. Việc công chứng hoặc chứng thực được coi là bắt buộc để việc khước từ có hiệu lực. Bên cạnh đó, thời hạn khước từ quyền hưởng di sản là sáu tháng, kể từ ngày người thừa kế biết thời điểm mở thừa kế. Thời hạn sáu tháng được tính kể từ ngày “biết thời điểm mở thừa kế” mà không phải sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy, thời hạn này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa kế, rằng khi đó người thừa kế có biết về thời điểm mở thừa kế. Có nghĩa là, khi người thừa kế còn chưa biết hoặc không biết thì thời hạn sáu tháng này chưa được tính đến.

2. Quyền từ chối nhận di sản theo Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền hưởng di sản của người thừa kế là quyền đương nhiên. Khi muốn từ chối nhận di sản thì người thừa kế thể hiện cụ thể, không thể suy đoán việc từ chối này. Cụ thể, người thừa kế từ chối nhận di sản phải biểu lộ ý chí không nhận di sản này bằng văn bản, có sự thông báo đến những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, công chứng nhà nước hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Đến đây, hình thức của việc từ chối nhận di sản đã được quy định rõ phải thể hiện bằng văn bản và việc công chứng, chứng thực vẫn là quy định bắt buộc về thủ tục, về phần chủ thể phải được thông báo đến có sự bổ sung về người phân chia di sản so với Pháp lệnh Thừa kế năm 1990.

Trong quá trình thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, nhiều ý kiến cho rằng, không cần thiết phải quy định thời hạn từ chối nhận di sản. Nếu di sản chưa được chia thì người thừa kế có thể từ chối nhận di sản ở bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, để ổn định các quan hệ tài sản liên quan đến di sản thừa kế, các ý kiến khác lại cho rằng vẫn cần thiết quy định thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế. Theo quan điểm này, thì thời hạn sáu tháng kể từ khi người để lại di sản mất đi là đủ để người thừa kế có thể xác định mình có nhận di sản thừa kế hay không. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn giữ nguyên quy định việc từ chối nhận di sản phải được bày tỏ trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế, hết thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu người thừa kế không có văn bản từ chối hưởng di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản thừa kế[2].

Đối với hạn chế của quyền từ chối nhận di sản, cả Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 đều nêu rõ: “… Trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác” như ở tinh thần của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, nhưng với câu chữ rõ ràng hơn.

Về từ chối nhận di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất thì nội dung văn bản từ chối phải thể hiện rõ các nội dung như: (i) Họ, tên người từ chối hưởng di sản thừa kế; (ii) Là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của ai, đã mất vào ngày, tháng, năm nào; (iii) Tài sản mà người từ chối di sản thừa kế được hưởng; (iv) Thể hiện quan điểm tự nguyện từ chối hưởng di sản thừa kế[3].

3. Từ chối hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế có những điểm khác biệt nổi bật như sau:

Thứ nhất, việc từ chối phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Như vậy, chủ thể cần phải được gửi văn bản từ chối nhận di sản từ người thừa kế có sự bổ sung về người quản lý di sản. Sự bổ sung này là cần thiết và phù hợp, thuận tiện cho việc quản lý và phân chia di sản, để những người này biết mà thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cho phù hợp. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn quy định việc công chứng, chứng thực văn bản từ chối nhận di sản như một thủ tục bắt buộc làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản từ chối. Theo tác giả, việc loại bỏ quy định bắt buộc này là cần thiết để mở rộng việc thực hiện quyền của người thừa kế và phù hợp với xu thế coi việc công chứng, chứng thực như một dạng dịch vụ công. Như vậy, từ ngày 01/01/2017 người thừa kế từ chối nhận di sản chỉ cần lập thành văn bản và gửi đến những chủ thể theo quy định thì văn bản từ chối nhận di sản ấy đã hợp pháp mà không cần phải đi công chứng hoặc chứng thực.

Thứ hai, việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn hạn chế quyền từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm biết được thời điểm mở thừa kế hay từ thời điểm mở thừa kế như các văn bản quy phạm pháp luật trước đây.

Mặc dù không nói cụ thể về thời điểm bắt đầu phát sinh quyền từ chối nhận di sản, nhưng theo nguyên tắc suy lý thì quyền từ chối nhận di sản là một quyền của người thừa kế và thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thừa kế được Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ là kể từ thời điểm mở thừa kế. Các quyền, nghĩa vụ này đã bao gồm cả quyền từ chối nhận di sản. Hay nói cách khác, quyền từ chối nhận di sản không thể thực hiện khi người có tài sản chưa chết. Nguyên tắc về thời điểm bắt đầu tính thời hạn này cũng đã tồn tại trong thực tiễn xét xử trước đây. Quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 chính là sự ghi nhận chính thức của luật về thời điểm phát sinh quyền từ chối nhận di sản thừa kế của người thừa kế.

Sự tiến bộ của quy định về thời hạn từ chối nhận di sản là không còn bị hạn chế trong thời gian khá ngắn, chỉ có sáu tháng từ thời điểm mở thừa kế, bởi trên thực tế, nhiều người thừa kế đang trong thời gian “tang gia bối rối”, họ không có đủ thời gian và tâm trí để quyết định vấn đề về tài sản, trong khi đó thời hạn theo luật quy định lại trôi qua và cuối cùng họ không thực hiện được quyền từ chối trên thực tế. Với cách quy định này, thời hạn từ chối có thể thay đổi theo từng trường hợp thừa kế, bởi thời hạn này phụ thuộc vào thời điểm phân chia di sản, mà thời điểm phân chia di sản thường do những người thừa kế thỏa thuận xác định mà hạn mức cuối cùng để yêu cầu phân chia di sản đối với động sản là 10 năm, đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, người thừa kế vẫn có thể tiến hành phân chia ngay cả sau thời hạn luật định này khi họ đã thực hiện văn bản đồng thuận phân chia di sản và thỏa thuận sẽ tiến hành phân chia sau này. Có thể thấy rằng, quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế được đảm bảo thực hiện trên thực tế rất mở rộng so với các văn bản, các Bộ luật Dân sự trước đây.

Trên đây là một số phân tích và quan điểm đánh giá của tác giả về quy định từ chối nhận di sản của người thừa kế. Hy vọng rằng, bài viết sẽ giúp cho độc giả có thể xác định được cách thức xác lập một văn bản từ chối nhận di sản hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình khi thực hiện việc từ chối nhận di sản trên thực tế.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư

Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Trà Vinh





[1]. Viện Sử học Việt Nam (2016), Điều 506 Luật Hồng Đức, Nxb. Chính trị quốc gia.

[2]. Viện Khoa học pháp lý (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (tập III), Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 37.

[3]. Mẫu số 30, Mẫu số 60 của Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản, thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: