Thứ tư 11/03/2026 14:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự thay đổi về quyền từ chối nhận di sản trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về sự phát triển của quy định từ chối nhận di sản từ năm 1990 đến nay và nêu lên điểm thay đổi về thủ tục từ chối nhận di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về sự phát triển của quy định từ chối nhận di sản từ năm 1990 đến nay và nêu lên điểm thay đổi về thủ tục từ chối nhận di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: This paper analyzes the development of provisions on refusal of inheritance from 1999 to the present and points out, point of change in procedures of inheritance refusal in accordance with provisions of the Civil Code of 2015.

1. Quyền khước từ di sản theo Pháp lệnh Thừa kế năm 1990

Ngày 30/8/1990, Pháp lệnh Thừa kế được ban hành, theo Pháp lệnh này, quyền từ chối nhận di sản được mang tên gọi là khước từ quyền hưởng di sản. Theo đó, người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản, trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản. Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác (Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990). Quyền từ chối nhận di sản theo quy định ở thời điểm này có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, theo quy định của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, quyền khước từ quyền hưởng di sản của người thừa kế được ghi nhận cụ thể và là nền tảng kế thừa cho quyền từ chối nhận di sản ở các Bộ luật Dân sự sau này

Trong thời kỳ pháp luật phong kiến, thì quyền từ chối nhận di sản hầu như không được ghi nhận. Mọi quyền, nghĩa vụ tài sản từ cá nhân chết để lại cho người thừa kế theo nguyên tắc “phụ trái tử hoàn”, tức là cha nợ thì con phải trả, dù đó là khối tài sản có hay tài sản nợ thì con cháu cũng phải gánh chịu để thực hiện thay cho người chết và hầu như không có giới hạn trong phạm vi di sản, có nghĩa là họ phải gánh chịu nghĩa vụ từ người chết bằng chính tài sản của bản thân. Pháp luật phong kiến (Luật Hồng Đức, Luật Gia Long) chỉ ghi nhận việc bị tước quyền hưởng di sản do vi phạm hoặc bị truất quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại di sản thể hiện trong di chúc mà không hề có sự tồn tại của quyền từ chối nhận di sản[1].

Đến giai đoạn thời kỳ Pháp thuộc, thì tư tưởng của các quy định thời kỳ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhất định. Con cháu của người chết, vợ hay chồng của người chết bắt buộc phải nhận di sản và bắt buộc phải lấy tài sản riêng của mình mà trang trải các khoản nợ của người chết, không có ngoại lệ nào (Điều 316, Điều 376 Dân luật Bắc kỳ ).

Điều 10 Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 không coi việc nhận di sản thừa kế là một nghĩa vụ mà quy định con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũng không bắt buộc phải thừa kế người ấy. Khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại. Quy định này chính là nền tảng đầu tiên ghi nhận về từ chối nhận di sản và nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng trong pháp luật sau này.

Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 ghi nhận quyền từ chối nhận di sản một cách khá hoàn thiện về sự tồn tại quyền, điều kiện và thể thức từ chối chính là nền tảng vững chắc cho các bộ luật sau này hoàn thiện ghi nhận quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế.

Thứ hai, việc khước từ quyền hưởng di sản còn chưa được phân biệt rõ ràng với việc nhận quyền hưởng di sản sau đó tặng cho kỷ phần lại cho người thừa kế khác

Khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định: “Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác”. Có thể thấy, Pháp lệnh này chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa việc từ chối nhận di sản và việc đồng ý nhận nhưng nhưởng quyền hoặc nhường phần kỷ phần lại cho người khác. Bởi vì, việc nhường kỷ phần cũng được ghi nhận trong cùng một điều với khước từ quyền hưởng di sản. Khước từ quyền hưởng di sản lẽ ra phải được hiểu đúng bản chất của nó, rằng sau khi quyết định và thực hiện quyền này, người thừa kế ban đầu đã không còn quyền định đoạt đối với phần di sản bị khước từ hưởng. Nếu muốn nhường kỷ phần, tặng cho kỷ phần lại cho người thừa kế khác, bắt buộc người thừa kế phải thực hiện việc thừa kế di sản - trở thành người có quyền đối với phần được tặng, được nhường lại.

Thứ ba, khước từ quyền hưởng di sản là một quyền có hạn chế, thực hiện quyền khước từ không được ảnh hưởng lợi ích của người khác

Người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản, trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản. Đây là giới hạn hợp lý dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng về quyền dân sự của các chủ thể. Khi đó, chủ thể bất kỳ thực hiện quyền của mình nhưng không được xâm hại đến lợi ích của chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

Thứ tư, thủ tục khước từ quyền hưởng di sản phải thông báo việc khước từ cho người thừa kế khác, Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan công chứng nơi mở thừa kế, song hình thức khước từ chưa có sự quy định cụ thể

Việc khước từ phải thông báo cho người thừa kế khác, Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan công chứng nơi mở thừa kế. Như vậy, ở giai đoạn này, khước từ quyền hưởng di sản muốn có hiệu lực phải thông báo cho người thừa kế khác và thực hiện việc công chức hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân nơi mở thừa kế. Việc công chứng hoặc chứng thực được coi là bắt buộc để việc khước từ có hiệu lực. Bên cạnh đó, thời hạn khước từ quyền hưởng di sản là sáu tháng, kể từ ngày người thừa kế biết thời điểm mở thừa kế. Thời hạn sáu tháng được tính kể từ ngày “biết thời điểm mở thừa kế” mà không phải sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy, thời hạn này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa kế, rằng khi đó người thừa kế có biết về thời điểm mở thừa kế. Có nghĩa là, khi người thừa kế còn chưa biết hoặc không biết thì thời hạn sáu tháng này chưa được tính đến.

2. Quyền từ chối nhận di sản theo Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền hưởng di sản của người thừa kế là quyền đương nhiên. Khi muốn từ chối nhận di sản thì người thừa kế thể hiện cụ thể, không thể suy đoán việc từ chối này. Cụ thể, người thừa kế từ chối nhận di sản phải biểu lộ ý chí không nhận di sản này bằng văn bản, có sự thông báo đến những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, công chứng nhà nước hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Đến đây, hình thức của việc từ chối nhận di sản đã được quy định rõ phải thể hiện bằng văn bản và việc công chứng, chứng thực vẫn là quy định bắt buộc về thủ tục, về phần chủ thể phải được thông báo đến có sự bổ sung về người phân chia di sản so với Pháp lệnh Thừa kế năm 1990.

Trong quá trình thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, nhiều ý kiến cho rằng, không cần thiết phải quy định thời hạn từ chối nhận di sản. Nếu di sản chưa được chia thì người thừa kế có thể từ chối nhận di sản ở bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, để ổn định các quan hệ tài sản liên quan đến di sản thừa kế, các ý kiến khác lại cho rằng vẫn cần thiết quy định thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế. Theo quan điểm này, thì thời hạn sáu tháng kể từ khi người để lại di sản mất đi là đủ để người thừa kế có thể xác định mình có nhận di sản thừa kế hay không. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn giữ nguyên quy định việc từ chối nhận di sản phải được bày tỏ trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế, hết thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu người thừa kế không có văn bản từ chối hưởng di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản thừa kế[2].

Đối với hạn chế của quyền từ chối nhận di sản, cả Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 đều nêu rõ: “… Trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác” như ở tinh thần của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, nhưng với câu chữ rõ ràng hơn.

Về từ chối nhận di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất thì nội dung văn bản từ chối phải thể hiện rõ các nội dung như: (i) Họ, tên người từ chối hưởng di sản thừa kế; (ii) Là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của ai, đã mất vào ngày, tháng, năm nào; (iii) Tài sản mà người từ chối di sản thừa kế được hưởng; (iv) Thể hiện quan điểm tự nguyện từ chối hưởng di sản thừa kế[3].

3. Từ chối hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế có những điểm khác biệt nổi bật như sau:

Thứ nhất, việc từ chối phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Như vậy, chủ thể cần phải được gửi văn bản từ chối nhận di sản từ người thừa kế có sự bổ sung về người quản lý di sản. Sự bổ sung này là cần thiết và phù hợp, thuận tiện cho việc quản lý và phân chia di sản, để những người này biết mà thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cho phù hợp. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn quy định việc công chứng, chứng thực văn bản từ chối nhận di sản như một thủ tục bắt buộc làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản từ chối. Theo tác giả, việc loại bỏ quy định bắt buộc này là cần thiết để mở rộng việc thực hiện quyền của người thừa kế và phù hợp với xu thế coi việc công chứng, chứng thực như một dạng dịch vụ công. Như vậy, từ ngày 01/01/2017 người thừa kế từ chối nhận di sản chỉ cần lập thành văn bản và gửi đến những chủ thể theo quy định thì văn bản từ chối nhận di sản ấy đã hợp pháp mà không cần phải đi công chứng hoặc chứng thực.

Thứ hai, việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn hạn chế quyền từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm biết được thời điểm mở thừa kế hay từ thời điểm mở thừa kế như các văn bản quy phạm pháp luật trước đây.

Mặc dù không nói cụ thể về thời điểm bắt đầu phát sinh quyền từ chối nhận di sản, nhưng theo nguyên tắc suy lý thì quyền từ chối nhận di sản là một quyền của người thừa kế và thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thừa kế được Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ là kể từ thời điểm mở thừa kế. Các quyền, nghĩa vụ này đã bao gồm cả quyền từ chối nhận di sản. Hay nói cách khác, quyền từ chối nhận di sản không thể thực hiện khi người có tài sản chưa chết. Nguyên tắc về thời điểm bắt đầu tính thời hạn này cũng đã tồn tại trong thực tiễn xét xử trước đây. Quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 chính là sự ghi nhận chính thức của luật về thời điểm phát sinh quyền từ chối nhận di sản thừa kế của người thừa kế.

Sự tiến bộ của quy định về thời hạn từ chối nhận di sản là không còn bị hạn chế trong thời gian khá ngắn, chỉ có sáu tháng từ thời điểm mở thừa kế, bởi trên thực tế, nhiều người thừa kế đang trong thời gian “tang gia bối rối”, họ không có đủ thời gian và tâm trí để quyết định vấn đề về tài sản, trong khi đó thời hạn theo luật quy định lại trôi qua và cuối cùng họ không thực hiện được quyền từ chối trên thực tế. Với cách quy định này, thời hạn từ chối có thể thay đổi theo từng trường hợp thừa kế, bởi thời hạn này phụ thuộc vào thời điểm phân chia di sản, mà thời điểm phân chia di sản thường do những người thừa kế thỏa thuận xác định mà hạn mức cuối cùng để yêu cầu phân chia di sản đối với động sản là 10 năm, đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, người thừa kế vẫn có thể tiến hành phân chia ngay cả sau thời hạn luật định này khi họ đã thực hiện văn bản đồng thuận phân chia di sản và thỏa thuận sẽ tiến hành phân chia sau này. Có thể thấy rằng, quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế được đảm bảo thực hiện trên thực tế rất mở rộng so với các văn bản, các Bộ luật Dân sự trước đây.

Trên đây là một số phân tích và quan điểm đánh giá của tác giả về quy định từ chối nhận di sản của người thừa kế. Hy vọng rằng, bài viết sẽ giúp cho độc giả có thể xác định được cách thức xác lập một văn bản từ chối nhận di sản hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của mình khi thực hiện việc từ chối nhận di sản trên thực tế.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư

Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Trà Vinh





[1]. Viện Sử học Việt Nam (2016), Điều 506 Luật Hồng Đức, Nxb. Chính trị quốc gia.

[2]. Viện Khoa học pháp lý (2013), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (tập III), Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 37.

[3]. Mẫu số 30, Mẫu số 60 của Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản, thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: