Thứ hai 14/09/2026 18:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự thỏa thuận của đương sự trong thi hành án dân sự

Ở Việt Nam, bên cạnh những quy định nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự, Luật Thi hành án dân sự cũng có quy định về vấn đề thỏa thuận thi hành án. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về việc khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.


1. Quy định pháp luật về sự thỏa thuận của đương sự trong thi hành án dân sự

Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng. Không những các bên giữ mối quan hệ tình cảm với nhau, thông qua đó, không những hiểu nhau hơn, tình cảm thân thiết, gắn bó với nhau hơn… mà việc thi hành án cũng được giải quyết nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém về công sức, tiền bạc để tổ chức thi hành án. Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện của các đương sự nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó. Thỏa thuận thi hành án dân sự được quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Cụ thể:

Điều 6 Luật Thi hành án dân sự quy định: “1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận. Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án. 2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định”.

Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án. Khi đương sự có yêu cầu, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận. Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do. Người yêu cầu chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự.

Như vậy, đương sự có quyền thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án. Trường hợp thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án.

2. Những khó khăn, vướng mắc trong thỏa thuận thi hành án dân sự

Thỏa thuận thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế vấn đề này còn có những khó khăn, vướng mắc nhất định như:

Thứ nhất, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án, thì các đương sự đã tự thỏa thuận thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án trước khi bán đấu giá tài sản chỉ vài ngày, nhưng không cung cấp tài liệu về thỏa thuận và không thông báo cho cơ quan thi hành án hay chấp hành viên biết việc thỏa thuận đó để dừng việc bán đấu giá. Sau khi nhận được thông báo về việc giao tài sản cho người trúng đấu giá, thì người phải thi hành án và người được thi hành án cung cấp biên nhận giao trả tiền và tự thỏa thuận về thi hành án, người được thi hành án đã đồng ý xóa toàn bộ số nợ phải thi hành án còn lại và yêu cầu đình chỉ thi hành án. Khi đó, nếu chấp hành viên nhiều lần giải quyết việc thi hành án, động viên, thuyết phục, nhưng người mua tài sản đấu giá vẫn đòi được giao tài sản, còn người phải thi hành án cương quyết không đồng ý giao tài sản, trường hợp này có thể dẫn đến tình trạng án tồn đọng. Bởi lẽ, nếu không giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá sẽ vi phạm Điều 103 Luật Thi hành án dân sự, quy định bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, vì người mua được tài sản bán đấu giá đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, họ không có lỗi; còn nếu giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì sự việc phức tạp hơn, vì việc thi hành án đã xong, người phải thi hành án không còn phải thi hành nghĩa vụ nào, bên cạnh đó, pháp luật cũng không quy định bắt buộc đương sự phải thông báo cho chấp hành viên, cơ quan thi hành án mọi thỏa thuận về thi hành án.

Thứ hai, theo quy định của pháp luật, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất chung biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định pháp luật hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không quy định chế tài khi người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung phải thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chính vì vậy, trường hợp những người này không thiện chí, không thực hiện theo yêu cầu của chấp hành viên thì cũng không có biện pháp chế tài nào đối với họ, đây là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thi hành án kéo dài.

Thứ ba, khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự quy định việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau: “… b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản”. Theo đó, quyền yêu cầu định giá lại được thực hiện sau khi kê biên, định giá tài sản cho đến trước khi thông báo công khai về việc bán đấu giá.

Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không có quy định nào yêu cầu đương sự phải nêu lý do làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Điều này có nghĩa là việc định giá do các bên thỏa thuận ngay tại thời điểm kê biên cũng có thể bị người phải thi hành án, người được thi hành án yêu cầu giám định lại. Chính vì chưa có quy định về vấn đề này nên dễ dẫn đến sự tùy tiện hoặc cố tình lợi dụng quyền yêu cầu giám định lại để kéo dài thời gian thi hành án, gây khó khăn cho công tác thi hành án.

Thứ tư, về hiệu lực của thỏa thuận thi hành án dân sự, hiện nay, pháp luật thi hành án dân sự chưa có quy định liên quan đến hiệu lực thỏa thuận thi hành án dân sự. Về nguyên tắc, thỏa thuận của các đương sự nếu không trái với quy định pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bên thứ ba thì được ghi nhận và thực hiện. Tuy nhiên, trường hợp các đượng sự không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc chỉ thực hiện đúng một phần nghĩa vụ đã thỏa thuận, pháp luật chưa có quy định bắt buộc phải tiếp tục thực hiện thỏa thuận của các bên hay thực hiện theo bản án, quyết định dân sự.

3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc

- Do điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ ngày càng đa dạng, phức tạp, nhiều quan hệ mới phát sinh, điều này dẫn đến tình trạng có những quy định pháp luật chỉ áp dụng trong một thời gian ngắn vì không còn phù hợp với thực tế, có những quy định có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc chưa được hướng dẫn kịp thời nên chưa được áp dụng thống nhất.

- Mặc dù biên chế của cơ quan thi hành án không ngừng được tăng cường, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được khối lượng công việc, dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc. Biên chế của cơ quan thi hành án hiện nay ít hơn biên chế của Tòa án, trong khi cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành hầu như tất cả các bản án, quyết định về tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của các Tòa án các cấp. Về cơ sở vật chất, mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ, thì mức ngân sách cấp cho các cơ quan thi hành án còn rất hạn chế, kinh phí, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ cũng chưa được đáp ứng đủ.

- Theo quy định, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm ra các quyết định thi hành án, phân công chấp hành viên thi hành vụ việc; quản lý và đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ đối với việc thi hành án; kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp thi hành án hiệu quả. Nếu xét thấy chấp hành viên không thể hoàn thành nhiệm vụ, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền sử dụng các biện pháp về hành chính, tổ chức, tài chính để thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên các đơn vị thi hành án thuộc quyền quản lý của mình. Để làm được điều này, đòi hỏi thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự phải nắm chắc được khối lượng việc và trạng thái thực hiện công việc của các chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp để nâng cao kết quả thi hành án. Nhưng trên thực tế cho thấy, hiện tại vẫn còn nhiều nơi, thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự chưa thực sự nắm vững được khối luợng công việc, trạng thái công việc của chấp hành viên và các đơn vị thuộc quyền quản lý, nên sự chỉ đạo, điều hành chưa kịp thời và hiệu quả chưa cao, dẫn tới kết quả thi hành án không cao.

- Chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan với cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành án. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa áp dụng kịp thời, đầy đủ các biện pháp ngăn chặn như: Kê biên, phong tỏa, tạm giữ tài sản của người phạm tội, ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản, nhất là trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, buôn lậu có giá trị lớn, cho nên đến giai đoạn thi hành án, người phải thi hành án đã tẩu tán hết tài sản, làm cho số án này trở thành không có điều kiện thi hành hoặc tang vật, tài sản đã thu giữ không được chuyển giao đầy đủ, kịp thời theo hồ sơ cho cơ quan thi hành án theo quy định, gây khó khăn cho việc xử lý tài sản để thi hành án.

- Đội ngũ chấp hành viên nói riêng và đội ngũ cán bộ, công chức trong Ngành Thi hành án nói chung cũng có những hạn chế nhất định. Trong những năm vừa qua, đội ngũ chấp hành viên đã được đào tạo một cách cơ bản, đội ngũ mới hầu hết đều phải qua lớp đào nghề chấp hành viên mới được bổ nhiệm. Bên cạnh đó, để nâng cao trình độ cho số chấp hành viên cũ và các cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự khác, Cục Thi hành án dân sự cũng thường xuyên phối hợp với các đơn vị hữu quan tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ để cập nhật những văn bản, kiến thức mới cho đội ngũ này. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua, đội ngũ chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ số lượng mà chất lượng cũng được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một số chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã không theo kịp sự phát triển của Ngành, năng lực làm việc chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Chính vì vậy, kết quả tổ chức thi hành án chưa cao, dẫn tới những việc được giao thi hành phải chuyển sang năm sau nhiều.

- Trình độ, sự thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận đương sự cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến các thỏa thuận thi hành án dân sự. Mặc dù vậy, cũng có những trường hợp do đương sự am hiểu pháp luật nên đã có thỏa thuận thi hành án dân sự nhằm mục đích kèo dài thời gian thi hành án. Có những trường hợp đương sự chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác, gây khó khăn cho việc thỏa thuận của các bên.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, trong pháp luật thi hành án, hiện tại mới quy định đối tượng là đương sự trong thỏa thuận thi hành án dân sự. Trong khi đó, vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự không chỉ liên quan đến đương sự mà còn liên quan đến người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Việc không có quy định liên quan đến đối tượng này, một mặt, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng này, vì không được tham gia vào thỏa thuận thi hành án dân sự nên họ không có tiếng nói trong thỏa thuận liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình, họ cũng không biết các đương sự thỏa thuận như thế nào, thỏa thuận đó ảnh hưởng đến mình ra sao, họ ở thế bị động trong thỏa thuận thi hành án dân sự; mặt khác, vì không được tham gia vào thỏa thuận dân sự, nên họ có tâm lý bị bỏ rơi trong thỏa thuận, họ có thể không thực hiện những thỏa thuận của đương sự vì cho rằng mình không được tham gia thảo luận, không có tiếng nói. Chính vì vậy, cần thiết phải có quy định người có quyền và nghĩa vụ liên quan được tham gia vào thỏa thuận thi hành án dân sự.

Thứ hai, Luật Thi hành án dân sự quy định trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Với quy định trên, người phải thi hành án có phần tài sản trong tài sản chung mà cố tình không tự nguyện thi hành án sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế. Nhưng để xác định đúng phần thuộc sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung thì phải do các đồng sở hữu chung thỏa thuận. Vì người phải thi hành án không tự nguyện nên việc tự thỏa thuận không thể đạt được, mà những người đồng sở hữu cũng không thực hiện việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án.

Trong trường hợp này, cần quy định chế tài khi người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu, sử dụng chung cố tình không thỏa thuận phân chia tài sản chung phải thi hành án hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ ba, pháp luật thi hành án hiện tại chỉ quy định đương sự có quyền thỏa thuận trong thi hành án dân sự. Việc thỏa thuận này trong luật không quy định rõ là khi nào, trong giai đoạn tự nguyện hay giai đoạn cưỡng chế, trước hay sau khi có quyết định thi hành án. Chính vì điều này nên bản thân đương sự dù có quyền nhưng không biết thực hiện như thế nào cho phù hợp, cũng có trường hợp lợi dụng quy định chung chung như vậy để kéo dài thời gian thi hành án. Do vậy, cần phải quy định rõ về hiệu lực thỏa thuận thi hành án.

Thứ tư, trong thỏa thuận dân sự thi hành án, chấp hành viên có vai trò quan trọng, chấp hành viên là người động viên đương sự cùng nhau thỏa thuận thi hành án dân sự, giúp việc thi hành án được nhanh chóng. Chấp hành viên là người hướng dẫn để đương sự vừa thực hiện đúng quy định pháp luật vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực, trình độ của chấp hành viên là rất quan trọng.

Khi nhận được hồ sơ thi hành án, chấp hành viên phải nắm chắc đặc thù, đặc điểm bản án đang thi hành, phải hiểu rõ nhân than của các đương sự. Chấp hành viên còn phải nắm rõ những mâu thuẫn, tranh chấp nào đã phát sinh nhằm chứng minh được nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của đương sự và tính đúng đắn của các quy phạm pháp luật do Tòa án áp dụng để giải quyết vụ việc, từ đó, xây dựng được kế hoạch cho những bước tiếp theo.

Thứ năm, việc đương sự thỏa thuận thi hành án dân sự về bản chất là thỏa thuận dân sự, thỏa thuận này trên cơ sở tự nguyện, nên trong quá trình thi hành án mà một bên đương sự không thiện chí thi hành sẽ gây khó khăn cho quá trình thi hành án. Chính vì vậy, cần quy định rằng, sự thỏa thuận của đương sự được ghi nhận và có giá trị như một “vi bằng” do chấp hành viên lập, có như vậy mới đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tiến hành thoả thuận.

ThS. Trần Trung

Khoa Luật, Đại học Kinh tế Đà Nẵng



Tài liệu tham khảo:

1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

2. Nguyễn Thanh Thủy, Luận án tiến sỹ Luật học, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008.

3. Nguyễn Nhàn, Bàn về vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, đăng trên https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=805, ngày 09/9/2016.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: