Thứ tư 11/03/2026 14:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm

Trên cơ sở phân tích sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984, tác giả đưa ra một số kiến nghị triển khai thi hành.

1. Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 - CAT (Công ước Chống tra tấn) là một trong 16 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp quốc, được thông qua ngày 01/12/1984 và có hiệu lực từ ngày 26/6/1987. Công ước Chống tra tấn được xây dựng trên những nguyên tắc đã được tuyên bố trong Hiến chương của Liên Hợp quốc về công nhận quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, là cơ sở của sự tự do, công lý và hòa bình trên thế giới và phù hợp với các văn kiện pháp lý khác của Liên Hợp quốc về quyền con người. Công ước Chống tra tấn được “để ngỏ” cho các quốc gia ký kết tại trụ sở của Liên Hợp quốc tại New York từ ngày 04/02/1985. Các thành viên của Công ước Chống tra tấn chủ yếu là ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, các nước châu Á đã phê chuẩn Công ước này chủ yếu là khu vực Trung Á. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù còn có một số quốc gia chưa phê chuẩn, tuy nhiên, với đa số các quốc gia là thành viên của Liên Hợp quốc tham gia Công ước Chống tra tấn đã thể hiện ý chí của đa số trong cộng đồng quốc tế yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới kiên quyết loại bỏ hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo hoặc vô nhân đạo với con người vì bất cứ lý do gì ra khỏi đời sống của nhân loại.

Công ước Chống tra tấn gồm: Lời nói đầu và 33 điều, được chia thành 03 phần: Phần I từ Điều 1 đến Điều 16 quy định về khái niệm “tra tấn” và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi tra tấn; Phần II từ Điều 17 đến Điều 24 quy định về Ủy ban Chống tra tấn cũng như cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban; Phần III từ Điều 25 đến Điều 33 quy định về hiệu lực, thủ tục gia nhập, bảo lưu, rút lui, thủ tục sửa đổi, bổ sung và giải quyết tranh chấp. Trong đó, nội dung được quy định từ Điều 1 đến Điều 16 chính là nội dung mà tác giả tập trung nghiên cứu, khai thác. Theo đó, Công ước Chống tra tấn đã đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên ở 03 vấn đề sau: (i) Nghĩa vụ bảo vệ khỏi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (ii) Nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự và trừng phạt người thực hiện hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (iii) Nghĩa vụ ngăn ngừa tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt.

Như vậy, các quốc gia thành viên khi tham gia Công ước Chống tra tấn phải ghi nhận hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt là tội phạm[1]. Đồng thời, các quốc gia phải xây dựng biện pháp trừng phạt đối với hành vi tra tấn[2].

“Tra tấn” theo cách hiểu của Công ước Chống tra tấn là: “Bất cứ hành vi nào bắt một người phải chịu đau đớn và khổ sở về thể xác hoặc tinh thần, nhằm những mục đích như đạt được những thông tin hoặc là một sự thú tội từ người đó hoặc từ một người thứ ba, trừng phạt nạn nhân về một hành vi mà người đó hoặc người thứ ba có dính líu hoặc nghi ngờ có dính líu tới; hoặc gây hoảng sợ hay cưỡng bức người đó hoặc người thứ ba; hoặc vì bất cứ một lý do nào dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra bởi sự chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Điều này không bao gồm sự đau đớn hay khổ sở xuất phát từ sự trừng phạt theo luật pháp, một cách ngẫu nhiên hay cố hữu”[3]. Như vậy, hiểu một cách khái quát, hành vi tra tấn là: (i) Bất cứ hành vi nào gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho đối tượng bị tra tấn; (ii) Do công chức hoặc người thực thi công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện; (iii) Nhằm lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức hoặc vì lý do phân biệt đối xử. Đây là hành vi cố ý, chủ thể là bất kỳ công chức hoặc người không phải là công chức nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một công chức hoặc đang thực thi công quyền nào đó (chủ thể đặc biệt).

2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chống tra tấn

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) được xây dựng trong khoảng thời gian Việt Nam đã ký kết, gia nhập Công ước Chống tra tấn nên đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới đối với Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung (Điều 374). Theo đó, Điều 373 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp tư pháp bao gồm các hành vi cụ thể: Tra tấn, đánh đập người đang bị điều tra, bị giam giữ, bị xét xử, bị áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như dùng các thủ đoạn tàn ác khác gây đau đớn về thể xác, gây tổn hại sức khỏe. Điều 374 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội này là hành vi của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Thủ đoạn trái pháp luật có thể là đe dọa dùng nhục hình, đe dọa giam người thân của người đang bị lấy lời khai, hỏi cung... để tác động đến ý chí của người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung khai không đúng với sự thật. Như vậy, bức cung là việc dùng áp lực về mặt tinh thần một cách trái pháp luật đối với người bị lấy lời khai, hỏi cung nhằm buộc người đó phải khai báo sai sự thật theo ý muốn chủ quan của người thẩm vấn, gây hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài 02 tội danh nêu trên, Bộ luật Hình sự hiện hành còn có các tội danh khác có thể sử dụng để truy tố hành vi “tra tấn” như: Tội giết người (Điều 123); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129); Tội bức tử (Điều 130); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội làm nhục đồng đội (Điều 397); Tội hành hung đồng đội (Điều 398); Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420).

2.2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định tương đối phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của Công ước Chống tra tấn nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện để hoàn toàn tương thích, phù hợp với những yêu cầu của Công ước, cụ thể:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 đã có quy định cụ thể về cấm tra tấn: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi “tra tấn” theo tinh thần của Công ước Chống tra tấn, mà chỉ khẳng định, mọi hành vi có tính chất tra tấn được xác định là hành vi phạm tội, được quy định trong một số tội cụ thể được quy định trong Bộ luật. Vì vậy, dẫn đến việc, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn một số khó khăn khi xác định một hành vi được thực hiện bởi một cơ quan công quyền đó có phải là tra tấn hay không. Đồng thời, đối với các hành vi tra tấn về tinh thần như đe dọa sẽ gây thiệt hại cho người thứ ba, hoặc chính bản thân họ sẽ rất khó để có thể xử lý.

Thứ hai, các dấu hiệu về mặt khách quan của Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung tuy có những điểm tương đồng so với khái niệm về “tra tấn” của Công ước Chống tra tấn, tuy nhiên chưa đầy đủ các nội hàm được quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn, như: Tra tấn để lấy thông tin từ chính người đó hoặc từ một người thứ ba; hoặc sự thú tội, hoặc trừng phạt vì một hành động mà người đó, hoặc người thứ ba có liên quan hoặc bị nghi ngờ có liên quan, hoặc bất cứ một lý do nào khác, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra một cách có chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Hay nói cách khác, ngoài người trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn, những người tuy không trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn nhưng đồng ý, chấp thuận để mặc cho hành vi tra tấn xảy ra cũng xem là tội phạm. Về vấn đề này thì Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành chưa có quy định mà chủ yếu tập trung vào những người đã trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Thứ ba, quy định về các tội danh có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tra tấn đều thể hiện dấu hiệu của hành vi khách quan “là sự tác động trái pháp luật của chủ thể thuộc cơ quan có thẩm quyền tác động lên thể xác của người bị buộc tội, phạm nhân”. Tuy nhiên, khái niệm về “tra tấn” trong Công ước Chống tra tấn rộng hơn, ngoài sự tác động vật lý một cách trái pháp luật lên thể xác còn có sự tác động về tinh thần cũng là biểu hiện của những hành vi tra tấn.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, tác giả đề xuất một số phương án nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Phương án 1: Bổ sung “Tội tra tấn” trên cơ sở căn cứ nội dung quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn về chống tra tấn và tình hình thực tế ở Việt Nam; bỏ Tội dùng nhục hình, Tội bức cung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bởi Tội tra tấn sẽ bao gồm hai hành vi bức cung, dùng nhục hình. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung tình tiết “do thực hiện hành vi tra tấn” vào cấu thành tăng nặng của các tội danh: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127), Tội bức tử (Điều 130), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội làm nhục người khác (Điều 155).

- Phương án 2: Nghiên cứu, sửa đổi để hoàn thiện các tội danh liên quan đến tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Sửa đổi tên Tội dùng nhục hình (Điều 373) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thành “Tội tra tấn, dùng nhục hình”, trong đó có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hành vi tra tấn, dùng nhục hình phù hợp với tinh thần tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

Thứ hai, để bảo đảm thực thi các quy định của Công ước Chống tra tấn, rộng hơn là để bảo đảm quyền con người, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, không phải chỉ nâng cao nhận thức của người dân, mà còn nâng cao nhận thức của tất cả mọi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là những người trực tiếp thực thi, bảo đảm thực thi pháp luật. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ có thái độ và hành vi phù hợp./.

TS. Lê Tiến Hoàng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Khoản 1 Điều 4 Công ước Chống tra tấn quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia vào việc tra tấn…”.

[2]. Điều 5 Công ước Chống tra tấn quy định: “Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong những trường hợp sau đây: a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó; b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó; c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp…”.

[3]. Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: