Thứ năm 25/06/2026 20:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm

Trên cơ sở phân tích sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984, tác giả đưa ra một số kiến nghị triển khai thi hành.

1. Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 - CAT (Công ước Chống tra tấn) là một trong 16 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp quốc, được thông qua ngày 01/12/1984 và có hiệu lực từ ngày 26/6/1987. Công ước Chống tra tấn được xây dựng trên những nguyên tắc đã được tuyên bố trong Hiến chương của Liên Hợp quốc về công nhận quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, là cơ sở của sự tự do, công lý và hòa bình trên thế giới và phù hợp với các văn kiện pháp lý khác của Liên Hợp quốc về quyền con người. Công ước Chống tra tấn được “để ngỏ” cho các quốc gia ký kết tại trụ sở của Liên Hợp quốc tại New York từ ngày 04/02/1985. Các thành viên của Công ước Chống tra tấn chủ yếu là ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, các nước châu Á đã phê chuẩn Công ước này chủ yếu là khu vực Trung Á. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù còn có một số quốc gia chưa phê chuẩn, tuy nhiên, với đa số các quốc gia là thành viên của Liên Hợp quốc tham gia Công ước Chống tra tấn đã thể hiện ý chí của đa số trong cộng đồng quốc tế yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới kiên quyết loại bỏ hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo hoặc vô nhân đạo với con người vì bất cứ lý do gì ra khỏi đời sống của nhân loại.

Công ước Chống tra tấn gồm: Lời nói đầu và 33 điều, được chia thành 03 phần: Phần I từ Điều 1 đến Điều 16 quy định về khái niệm “tra tấn” và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi tra tấn; Phần II từ Điều 17 đến Điều 24 quy định về Ủy ban Chống tra tấn cũng như cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban; Phần III từ Điều 25 đến Điều 33 quy định về hiệu lực, thủ tục gia nhập, bảo lưu, rút lui, thủ tục sửa đổi, bổ sung và giải quyết tranh chấp. Trong đó, nội dung được quy định từ Điều 1 đến Điều 16 chính là nội dung mà tác giả tập trung nghiên cứu, khai thác. Theo đó, Công ước Chống tra tấn đã đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên ở 03 vấn đề sau: (i) Nghĩa vụ bảo vệ khỏi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (ii) Nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự và trừng phạt người thực hiện hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (iii) Nghĩa vụ ngăn ngừa tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt.

Như vậy, các quốc gia thành viên khi tham gia Công ước Chống tra tấn phải ghi nhận hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt là tội phạm[1]. Đồng thời, các quốc gia phải xây dựng biện pháp trừng phạt đối với hành vi tra tấn[2].

“Tra tấn” theo cách hiểu của Công ước Chống tra tấn là: “Bất cứ hành vi nào bắt một người phải chịu đau đớn và khổ sở về thể xác hoặc tinh thần, nhằm những mục đích như đạt được những thông tin hoặc là một sự thú tội từ người đó hoặc từ một người thứ ba, trừng phạt nạn nhân về một hành vi mà người đó hoặc người thứ ba có dính líu hoặc nghi ngờ có dính líu tới; hoặc gây hoảng sợ hay cưỡng bức người đó hoặc người thứ ba; hoặc vì bất cứ một lý do nào dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra bởi sự chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Điều này không bao gồm sự đau đớn hay khổ sở xuất phát từ sự trừng phạt theo luật pháp, một cách ngẫu nhiên hay cố hữu”[3]. Như vậy, hiểu một cách khái quát, hành vi tra tấn là: (i) Bất cứ hành vi nào gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho đối tượng bị tra tấn; (ii) Do công chức hoặc người thực thi công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện; (iii) Nhằm lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức hoặc vì lý do phân biệt đối xử. Đây là hành vi cố ý, chủ thể là bất kỳ công chức hoặc người không phải là công chức nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một công chức hoặc đang thực thi công quyền nào đó (chủ thể đặc biệt).

2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chống tra tấn

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) được xây dựng trong khoảng thời gian Việt Nam đã ký kết, gia nhập Công ước Chống tra tấn nên đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới đối với Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung (Điều 374). Theo đó, Điều 373 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp tư pháp bao gồm các hành vi cụ thể: Tra tấn, đánh đập người đang bị điều tra, bị giam giữ, bị xét xử, bị áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như dùng các thủ đoạn tàn ác khác gây đau đớn về thể xác, gây tổn hại sức khỏe. Điều 374 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội này là hành vi của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Thủ đoạn trái pháp luật có thể là đe dọa dùng nhục hình, đe dọa giam người thân của người đang bị lấy lời khai, hỏi cung... để tác động đến ý chí của người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung khai không đúng với sự thật. Như vậy, bức cung là việc dùng áp lực về mặt tinh thần một cách trái pháp luật đối với người bị lấy lời khai, hỏi cung nhằm buộc người đó phải khai báo sai sự thật theo ý muốn chủ quan của người thẩm vấn, gây hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài 02 tội danh nêu trên, Bộ luật Hình sự hiện hành còn có các tội danh khác có thể sử dụng để truy tố hành vi “tra tấn” như: Tội giết người (Điều 123); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129); Tội bức tử (Điều 130); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội làm nhục đồng đội (Điều 397); Tội hành hung đồng đội (Điều 398); Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420).

2.2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định tương đối phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của Công ước Chống tra tấn nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện để hoàn toàn tương thích, phù hợp với những yêu cầu của Công ước, cụ thể:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 đã có quy định cụ thể về cấm tra tấn: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi “tra tấn” theo tinh thần của Công ước Chống tra tấn, mà chỉ khẳng định, mọi hành vi có tính chất tra tấn được xác định là hành vi phạm tội, được quy định trong một số tội cụ thể được quy định trong Bộ luật. Vì vậy, dẫn đến việc, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn một số khó khăn khi xác định một hành vi được thực hiện bởi một cơ quan công quyền đó có phải là tra tấn hay không. Đồng thời, đối với các hành vi tra tấn về tinh thần như đe dọa sẽ gây thiệt hại cho người thứ ba, hoặc chính bản thân họ sẽ rất khó để có thể xử lý.

Thứ hai, các dấu hiệu về mặt khách quan của Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung tuy có những điểm tương đồng so với khái niệm về “tra tấn” của Công ước Chống tra tấn, tuy nhiên chưa đầy đủ các nội hàm được quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn, như: Tra tấn để lấy thông tin từ chính người đó hoặc từ một người thứ ba; hoặc sự thú tội, hoặc trừng phạt vì một hành động mà người đó, hoặc người thứ ba có liên quan hoặc bị nghi ngờ có liên quan, hoặc bất cứ một lý do nào khác, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra một cách có chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Hay nói cách khác, ngoài người trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn, những người tuy không trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn nhưng đồng ý, chấp thuận để mặc cho hành vi tra tấn xảy ra cũng xem là tội phạm. Về vấn đề này thì Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành chưa có quy định mà chủ yếu tập trung vào những người đã trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Thứ ba, quy định về các tội danh có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tra tấn đều thể hiện dấu hiệu của hành vi khách quan “là sự tác động trái pháp luật của chủ thể thuộc cơ quan có thẩm quyền tác động lên thể xác của người bị buộc tội, phạm nhân”. Tuy nhiên, khái niệm về “tra tấn” trong Công ước Chống tra tấn rộng hơn, ngoài sự tác động vật lý một cách trái pháp luật lên thể xác còn có sự tác động về tinh thần cũng là biểu hiện của những hành vi tra tấn.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, tác giả đề xuất một số phương án nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Phương án 1: Bổ sung “Tội tra tấn” trên cơ sở căn cứ nội dung quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn về chống tra tấn và tình hình thực tế ở Việt Nam; bỏ Tội dùng nhục hình, Tội bức cung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bởi Tội tra tấn sẽ bao gồm hai hành vi bức cung, dùng nhục hình. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung tình tiết “do thực hiện hành vi tra tấn” vào cấu thành tăng nặng của các tội danh: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127), Tội bức tử (Điều 130), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội làm nhục người khác (Điều 155).

- Phương án 2: Nghiên cứu, sửa đổi để hoàn thiện các tội danh liên quan đến tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Sửa đổi tên Tội dùng nhục hình (Điều 373) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thành “Tội tra tấn, dùng nhục hình”, trong đó có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hành vi tra tấn, dùng nhục hình phù hợp với tinh thần tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

Thứ hai, để bảo đảm thực thi các quy định của Công ước Chống tra tấn, rộng hơn là để bảo đảm quyền con người, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, không phải chỉ nâng cao nhận thức của người dân, mà còn nâng cao nhận thức của tất cả mọi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là những người trực tiếp thực thi, bảo đảm thực thi pháp luật. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ có thái độ và hành vi phù hợp./.

TS. Lê Tiến Hoàng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Khoản 1 Điều 4 Công ước Chống tra tấn quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia vào việc tra tấn…”.

[2]. Điều 5 Công ước Chống tra tấn quy định: “Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong những trường hợp sau đây: a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó; b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó; c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp…”.

[3]. Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: