Thứ ba 13/01/2026 13:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm

Trên cơ sở phân tích sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984, tác giả đưa ra một số kiến nghị triển khai thi hành.

1. Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 - CAT (Công ước Chống tra tấn) là một trong 16 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp quốc, được thông qua ngày 01/12/1984 và có hiệu lực từ ngày 26/6/1987. Công ước Chống tra tấn được xây dựng trên những nguyên tắc đã được tuyên bố trong Hiến chương của Liên Hợp quốc về công nhận quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, là cơ sở của sự tự do, công lý và hòa bình trên thế giới và phù hợp với các văn kiện pháp lý khác của Liên Hợp quốc về quyền con người. Công ước Chống tra tấn được “để ngỏ” cho các quốc gia ký kết tại trụ sở của Liên Hợp quốc tại New York từ ngày 04/02/1985. Các thành viên của Công ước Chống tra tấn chủ yếu là ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, các nước châu Á đã phê chuẩn Công ước này chủ yếu là khu vực Trung Á. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù còn có một số quốc gia chưa phê chuẩn, tuy nhiên, với đa số các quốc gia là thành viên của Liên Hợp quốc tham gia Công ước Chống tra tấn đã thể hiện ý chí của đa số trong cộng đồng quốc tế yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới kiên quyết loại bỏ hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo hoặc vô nhân đạo với con người vì bất cứ lý do gì ra khỏi đời sống của nhân loại.

Công ước Chống tra tấn gồm: Lời nói đầu và 33 điều, được chia thành 03 phần: Phần I từ Điều 1 đến Điều 16 quy định về khái niệm “tra tấn” và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi tra tấn; Phần II từ Điều 17 đến Điều 24 quy định về Ủy ban Chống tra tấn cũng như cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban; Phần III từ Điều 25 đến Điều 33 quy định về hiệu lực, thủ tục gia nhập, bảo lưu, rút lui, thủ tục sửa đổi, bổ sung và giải quyết tranh chấp. Trong đó, nội dung được quy định từ Điều 1 đến Điều 16 chính là nội dung mà tác giả tập trung nghiên cứu, khai thác. Theo đó, Công ước Chống tra tấn đã đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên ở 03 vấn đề sau: (i) Nghĩa vụ bảo vệ khỏi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (ii) Nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự và trừng phạt người thực hiện hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (iii) Nghĩa vụ ngăn ngừa tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt.

Như vậy, các quốc gia thành viên khi tham gia Công ước Chống tra tấn phải ghi nhận hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt là tội phạm[1]. Đồng thời, các quốc gia phải xây dựng biện pháp trừng phạt đối với hành vi tra tấn[2].

“Tra tấn” theo cách hiểu của Công ước Chống tra tấn là: “Bất cứ hành vi nào bắt một người phải chịu đau đớn và khổ sở về thể xác hoặc tinh thần, nhằm những mục đích như đạt được những thông tin hoặc là một sự thú tội từ người đó hoặc từ một người thứ ba, trừng phạt nạn nhân về một hành vi mà người đó hoặc người thứ ba có dính líu hoặc nghi ngờ có dính líu tới; hoặc gây hoảng sợ hay cưỡng bức người đó hoặc người thứ ba; hoặc vì bất cứ một lý do nào dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra bởi sự chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Điều này không bao gồm sự đau đớn hay khổ sở xuất phát từ sự trừng phạt theo luật pháp, một cách ngẫu nhiên hay cố hữu”[3]. Như vậy, hiểu một cách khái quát, hành vi tra tấn là: (i) Bất cứ hành vi nào gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho đối tượng bị tra tấn; (ii) Do công chức hoặc người thực thi công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện; (iii) Nhằm lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức hoặc vì lý do phân biệt đối xử. Đây là hành vi cố ý, chủ thể là bất kỳ công chức hoặc người không phải là công chức nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một công chức hoặc đang thực thi công quyền nào đó (chủ thể đặc biệt).

2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chống tra tấn

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) được xây dựng trong khoảng thời gian Việt Nam đã ký kết, gia nhập Công ước Chống tra tấn nên đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới đối với Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung (Điều 374). Theo đó, Điều 373 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp tư pháp bao gồm các hành vi cụ thể: Tra tấn, đánh đập người đang bị điều tra, bị giam giữ, bị xét xử, bị áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như dùng các thủ đoạn tàn ác khác gây đau đớn về thể xác, gây tổn hại sức khỏe. Điều 374 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội này là hành vi của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Thủ đoạn trái pháp luật có thể là đe dọa dùng nhục hình, đe dọa giam người thân của người đang bị lấy lời khai, hỏi cung... để tác động đến ý chí của người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung khai không đúng với sự thật. Như vậy, bức cung là việc dùng áp lực về mặt tinh thần một cách trái pháp luật đối với người bị lấy lời khai, hỏi cung nhằm buộc người đó phải khai báo sai sự thật theo ý muốn chủ quan của người thẩm vấn, gây hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài 02 tội danh nêu trên, Bộ luật Hình sự hiện hành còn có các tội danh khác có thể sử dụng để truy tố hành vi “tra tấn” như: Tội giết người (Điều 123); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129); Tội bức tử (Điều 130); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội làm nhục đồng đội (Điều 397); Tội hành hung đồng đội (Điều 398); Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420).

2.2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984

Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định tương đối phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của Công ước Chống tra tấn nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện để hoàn toàn tương thích, phù hợp với những yêu cầu của Công ước, cụ thể:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 đã có quy định cụ thể về cấm tra tấn: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi “tra tấn” theo tinh thần của Công ước Chống tra tấn, mà chỉ khẳng định, mọi hành vi có tính chất tra tấn được xác định là hành vi phạm tội, được quy định trong một số tội cụ thể được quy định trong Bộ luật. Vì vậy, dẫn đến việc, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn một số khó khăn khi xác định một hành vi được thực hiện bởi một cơ quan công quyền đó có phải là tra tấn hay không. Đồng thời, đối với các hành vi tra tấn về tinh thần như đe dọa sẽ gây thiệt hại cho người thứ ba, hoặc chính bản thân họ sẽ rất khó để có thể xử lý.

Thứ hai, các dấu hiệu về mặt khách quan của Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung tuy có những điểm tương đồng so với khái niệm về “tra tấn” của Công ước Chống tra tấn, tuy nhiên chưa đầy đủ các nội hàm được quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn, như: Tra tấn để lấy thông tin từ chính người đó hoặc từ một người thứ ba; hoặc sự thú tội, hoặc trừng phạt vì một hành động mà người đó, hoặc người thứ ba có liên quan hoặc bị nghi ngờ có liên quan, hoặc bất cứ một lý do nào khác, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra một cách có chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Hay nói cách khác, ngoài người trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn, những người tuy không trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn nhưng đồng ý, chấp thuận để mặc cho hành vi tra tấn xảy ra cũng xem là tội phạm. Về vấn đề này thì Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành chưa có quy định mà chủ yếu tập trung vào những người đã trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Thứ ba, quy định về các tội danh có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tra tấn đều thể hiện dấu hiệu của hành vi khách quan “là sự tác động trái pháp luật của chủ thể thuộc cơ quan có thẩm quyền tác động lên thể xác của người bị buộc tội, phạm nhân”. Tuy nhiên, khái niệm về “tra tấn” trong Công ước Chống tra tấn rộng hơn, ngoài sự tác động vật lý một cách trái pháp luật lên thể xác còn có sự tác động về tinh thần cũng là biểu hiện của những hành vi tra tấn.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, tác giả đề xuất một số phương án nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Phương án 1: Bổ sung “Tội tra tấn” trên cơ sở căn cứ nội dung quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn về chống tra tấn và tình hình thực tế ở Việt Nam; bỏ Tội dùng nhục hình, Tội bức cung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bởi Tội tra tấn sẽ bao gồm hai hành vi bức cung, dùng nhục hình. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung tình tiết “do thực hiện hành vi tra tấn” vào cấu thành tăng nặng của các tội danh: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127), Tội bức tử (Điều 130), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội làm nhục người khác (Điều 155).

- Phương án 2: Nghiên cứu, sửa đổi để hoàn thiện các tội danh liên quan đến tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Sửa đổi tên Tội dùng nhục hình (Điều 373) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thành “Tội tra tấn, dùng nhục hình”, trong đó có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hành vi tra tấn, dùng nhục hình phù hợp với tinh thần tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

Thứ hai, để bảo đảm thực thi các quy định của Công ước Chống tra tấn, rộng hơn là để bảo đảm quyền con người, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, không phải chỉ nâng cao nhận thức của người dân, mà còn nâng cao nhận thức của tất cả mọi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là những người trực tiếp thực thi, bảo đảm thực thi pháp luật. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ có thái độ và hành vi phù hợp./.

TS. Lê Tiến Hoàng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Khoản 1 Điều 4 Công ước Chống tra tấn quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia vào việc tra tấn…”.

[2]. Điều 5 Công ước Chống tra tấn quy định: “Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong những trường hợp sau đây: a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó; b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó; c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp…”.

[3]. Điều 1 Công ước Chống tra tấn.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: