1. Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984
Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 - CAT (Công ước Chống tra tấn) là một trong 16 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp quốc, được thông qua ngày 01/12/1984 và có hiệu lực từ ngày 26/6/1987. Công ước Chống tra tấn được xây dựng trên những nguyên tắc đã được tuyên bố trong Hiến chương của Liên Hợp quốc về công nhận quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, là cơ sở của sự tự do, công lý và hòa bình trên thế giới và phù hợp với các văn kiện pháp lý khác của Liên Hợp quốc về quyền con người. Công ước Chống tra tấn được “để ngỏ” cho các quốc gia ký kết tại trụ sở của Liên Hợp quốc tại New York từ ngày 04/02/1985. Các thành viên của Công ước Chống tra tấn chủ yếu là ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc, các nước châu Á đã phê chuẩn Công ước này chủ yếu là khu vực Trung Á. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù còn có một số quốc gia chưa phê chuẩn, tuy nhiên, với đa số các quốc gia là thành viên của Liên Hợp quốc tham gia Công ước Chống tra tấn đã thể hiện ý chí của đa số trong cộng đồng quốc tế yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới kiên quyết loại bỏ hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo hoặc vô nhân đạo với con người vì bất cứ lý do gì ra khỏi đời sống của nhân loại.
Công ước Chống tra tấn gồm: Lời nói đầu và 33 điều, được chia thành 03 phần: Phần I từ Điều 1 đến Điều 16 quy định về khái niệm “tra tấn” và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi tra tấn; Phần II từ Điều 17 đến Điều 24 quy định về Ủy ban Chống tra tấn cũng như cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban; Phần III từ Điều 25 đến Điều 33 quy định về hiệu lực, thủ tục gia nhập, bảo lưu, rút lui, thủ tục sửa đổi, bổ sung và giải quyết tranh chấp. Trong đó, nội dung được quy định từ Điều 1 đến Điều 16 chính là nội dung mà tác giả tập trung nghiên cứu, khai thác. Theo đó, Công ước Chống tra tấn đã đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên ở 03 vấn đề sau: (i) Nghĩa vụ bảo vệ khỏi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (ii) Nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự và trừng phạt người thực hiện hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt; (iii) Nghĩa vụ ngăn ngừa tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt.
Như vậy, các quốc gia thành viên khi tham gia Công ước Chống tra tấn phải ghi nhận hành vi tra tấn và các hình thức hạ nhục vô nhân đạo và trừng phạt là tội phạm[1]. Đồng thời, các quốc gia phải xây dựng biện pháp trừng phạt đối với hành vi tra tấn[2].
“Tra tấn” theo cách hiểu của Công ước Chống tra tấn là: “Bất cứ hành vi nào bắt một người phải chịu đau đớn và khổ sở về thể xác hoặc tinh thần, nhằm những mục đích như đạt được những thông tin hoặc là một sự thú tội từ người đó hoặc từ một người thứ ba, trừng phạt nạn nhân về một hành vi mà người đó hoặc người thứ ba có dính líu hoặc nghi ngờ có dính líu tới; hoặc gây hoảng sợ hay cưỡng bức người đó hoặc người thứ ba; hoặc vì bất cứ một lý do nào dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra bởi sự chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Điều này không bao gồm sự đau đớn hay khổ sở xuất phát từ sự trừng phạt theo luật pháp, một cách ngẫu nhiên hay cố hữu”[3]. Như vậy, hiểu một cách khái quát, hành vi tra tấn là: (i) Bất cứ hành vi nào gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho đối tượng bị tra tấn; (ii) Do công chức hoặc người thực thi công quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện; (iii) Nhằm lấy thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức hoặc vì lý do phân biệt đối xử. Đây là hành vi cố ý, chủ thể là bất kỳ công chức hoặc người không phải là công chức nhưng được sự đồng ý hay chấp thuận của một công chức hoặc đang thực thi công quyền nào đó (chủ thể đặc biệt).
2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984
2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chống tra tấn
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) được xây dựng trong khoảng thời gian Việt Nam đã ký kết, gia nhập Công ước Chống tra tấn nên đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới đối với Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung (Điều 374). Theo đó, Điều 373 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp tư pháp bao gồm các hành vi cụ thể: Tra tấn, đánh đập người đang bị điều tra, bị giam giữ, bị xét xử, bị áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như dùng các thủ đoạn tàn ác khác gây đau đớn về thể xác, gây tổn hại sức khỏe. Điều 374 quy định: “Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Dấu hiệu khách quan của tội này là hành vi của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Thủ đoạn trái pháp luật có thể là đe dọa dùng nhục hình, đe dọa giam người thân của người đang bị lấy lời khai, hỏi cung... để tác động đến ý chí của người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung khai không đúng với sự thật. Như vậy, bức cung là việc dùng áp lực về mặt tinh thần một cách trái pháp luật đối với người bị lấy lời khai, hỏi cung nhằm buộc người đó phải khai báo sai sự thật theo ý muốn chủ quan của người thẩm vấn, gây hậu quả nghiêm trọng.
Ngoài 02 tội danh nêu trên, Bộ luật Hình sự hiện hành còn có các tội danh khác có thể sử dụng để truy tố hành vi “tra tấn” như: Tội giết người (Điều 123); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129); Tội bức tử (Điều 130); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội làm nhục đồng đội (Điều 397); Tội hành hung đồng đội (Điều 398); Tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 420).
2.2. Sự tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam với Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984
Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định tương đối phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của Công ước Chống tra tấn nhưng vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện để hoàn toàn tương thích, phù hợp với những yêu cầu của Công ước, cụ thể:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 đã có quy định cụ thể về cấm tra tấn: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi “tra tấn” theo tinh thần của Công ước Chống tra tấn, mà chỉ khẳng định, mọi hành vi có tính chất tra tấn được xác định là hành vi phạm tội, được quy định trong một số tội cụ thể được quy định trong Bộ luật. Vì vậy, dẫn đến việc, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn một số khó khăn khi xác định một hành vi được thực hiện bởi một cơ quan công quyền đó có phải là tra tấn hay không. Đồng thời, đối với các hành vi tra tấn về tinh thần như đe dọa sẽ gây thiệt hại cho người thứ ba, hoặc chính bản thân họ sẽ rất khó để có thể xử lý.
Thứ hai, các dấu hiệu về mặt khách quan của Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung tuy có những điểm tương đồng so với khái niệm về “tra tấn” của Công ước Chống tra tấn, tuy nhiên chưa đầy đủ các nội hàm được quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn, như: Tra tấn để lấy thông tin từ chính người đó hoặc từ một người thứ ba; hoặc sự thú tội, hoặc trừng phạt vì một hành động mà người đó, hoặc người thứ ba có liên quan hoặc bị nghi ngờ có liên quan, hoặc bất cứ một lý do nào khác, khi những đau đớn và khổ sở đó được gây ra một cách có chủ mưu hoặc có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức. Hay nói cách khác, ngoài người trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn, những người tuy không trực tiếp thực hiện hành vi tra tấn nhưng đồng ý, chấp thuận để mặc cho hành vi tra tấn xảy ra cũng xem là tội phạm. Về vấn đề này thì Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành chưa có quy định mà chủ yếu tập trung vào những người đã trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.
Thứ ba, quy định về các tội danh có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tra tấn đều thể hiện dấu hiệu của hành vi khách quan “là sự tác động trái pháp luật của chủ thể thuộc cơ quan có thẩm quyền tác động lên thể xác của người bị buộc tội, phạm nhân”. Tuy nhiên, khái niệm về “tra tấn” trong Công ước Chống tra tấn rộng hơn, ngoài sự tác động vật lý một cách trái pháp luật lên thể xác còn có sự tác động về tinh thần cũng là biểu hiện của những hành vi tra tấn.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, tác giả đề xuất một số phương án nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Phương án 1: Bổ sung “Tội tra tấn” trên cơ sở căn cứ nội dung quy định tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn về chống tra tấn và tình hình thực tế ở Việt Nam; bỏ Tội dùng nhục hình, Tội bức cung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bởi Tội tra tấn sẽ bao gồm hai hành vi bức cung, dùng nhục hình. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung tình tiết “do thực hiện hành vi tra tấn” vào cấu thành tăng nặng của các tội danh: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127), Tội bức tử (Điều 130), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội làm nhục người khác (Điều 155).
- Phương án 2: Nghiên cứu, sửa đổi để hoàn thiện các tội danh liên quan đến tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Sửa đổi tên Tội dùng nhục hình (Điều 373) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thành “Tội tra tấn, dùng nhục hình”, trong đó có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hành vi tra tấn, dùng nhục hình phù hợp với tinh thần tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn.
Thứ hai, để bảo đảm thực thi các quy định của Công ước Chống tra tấn, rộng hơn là để bảo đảm quyền con người, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, không phải chỉ nâng cao nhận thức của người dân, mà còn nâng cao nhận thức của tất cả mọi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là những người trực tiếp thực thi, bảo đảm thực thi pháp luật. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ có thái độ và hành vi phù hợp./.
TS. Lê Tiến Hoàng
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
[1]. Khoản 1 Điều 4 Công ước Chống tra tấn quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi tra tấn đều là tội phạm theo pháp luật hình sự của nước đó. Quy định này cũng phải áp dụng đối với những hành vi chuẩn bị thực hiện việc tra tấn và hành vi đồng phạm hoặc tham gia vào việc tra tấn…”.
[2]. Điều 5 Công ước Chống tra tấn quy định: “Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình đối với những tội phạm quy định tại Điều 4 trong những trường hợp sau đây: a) Khi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ thuộc phạm vi quyền tài phán quốc gia hoặc trên tàu bay hoặc tàu thuyền đã đăng ký ở quốc gia đó; b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó; c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy phù hợp…”.
[3]. Điều 1 Công ước Chống tra tấn.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)