Thứ bảy 06/12/2025 04:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Tóm tắt: Bài viết phản ánh thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở nước ta, phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article is concerned with the real situation of law violation in the area of environment protection in our country and analyzes insufficiencies of existing legal provisions in the practice of law implementation of administrative violation handling and recommends some solutions for completion.

1. Thực trạng vi phạm pháp luật và những bất cập trong việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.1. Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta

Tại Việt Nam, trong những năm qua, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng, phần lớn do hoạt động của con người trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường. Qua báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tội phạm của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an cho thấy, trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát môi trường đã phát hiện, điều tra, xử lý hàng nghìn vụ việc và đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính và truy thu phí môi trường hàng ngàn tỷ đồng. Năm 2016, Ngành Công an cho biết đã xử lý hơn 17.000 vụ vi phạm pháp luật về môi trường[1]. Tổng cục Môi trường đã ban hành 431 kết luận thanh tra về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn 12 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Cao Bằng, Lào Cai, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh. Cùng với đó, Tổng Cục đã ban hành 225 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền trên 30 tỷ đồng, 17 quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm. Theo thống kê của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, mỗi năm lực lượng này phát hiện gần 10.000 vụ vi phạm pháp luật về môi trường. Từ những thống kê đó cho thấy, tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện rất lớn. Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chính là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa rõ ràng, chế tài chưa đủ mạnh để răn đe, còn nhiều lỗ hổng trong quy định.

1.2. Một số bất cập trong việc thi hành pháp luật

Hiện nay, qua thực tế cho thấy, số lượng các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường rất lớn nhưng rất ít vụ việc được xử lý hình sự và gần như không có các vụ kiện ra Tòa án về dân sự, cho thấy mức độ răn đe của các chế tài đã được áp dụng chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm. Đây là vấn đề bất cập trong thực thi pháp luật, có độ vênh và khoảng cách lớn giữa pháp luật thực định và thi hành pháp luật. Một số bất cập cụ thể như:

- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/7/2013, thực hiện được hơn 04 năm nhưng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quá trình xử lý vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính chưa có sự thống nhất, còn mâu thuẫn về “tình tiết tăng nặng” tại điểm b khoản 1 Điều 10 với điểm d khoản 1 Điều 3 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 gây khó khăn cho cơ quan hoặc người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. Hoặc “tình tiết tăng nặng” quy định tại điểm l khoản 1 Điều 10 “vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng lớn hoặc giá trị hàng hóa lớn” cho đến nay chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền xác định quy mô lớn hoặc giá trị hàng hóa vi phạm đến mức nào thì được coi là “lớn” và loại hàng hóa nào để áp dụng tình tiết tăng nặng.

Về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được quy định tại Điều 126 nói chung và tại khoản 1 của điều này nói riêng gây khó khăn, lúng túng trong quá trình áp dụng của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong thực tiễn. Khoản 1 quy định: “Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước” nhưng Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa quy định, hướng dẫn chi tiết thi hành, áp dụng đối với biện pháp này và cũng không quy định hình thức này là hình thức xử phạt hay biện pháp khắc phục hậu quả. Trên thực tiễn, các phương tiện vận tải hầu hết có giá trị lớn, người lái xe, lái tàu đa số là người làm thuê, thu nhập thấp nên không có tiền nộp phạt tương đương giá trị tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Hay quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với tổ chức hoặc xử lý tang vật vi phạm hành chính (lập hội đồng định giá để xác định giá, thời gian là 24 giờ kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ tang vật, có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ) quy định như vậy gây rất nhiều khó khăn trong vận dụng vào thực tiễn.

Ngoài ra, trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 còn nhiều quy định gây khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn như thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền tạm giữ theo thủ tục hành chính, xử phạt đối với người bị xử phạt đã chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản theo quy định… Bên cạnh đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát môi trường mới chỉ được quy định trong nghị định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và lĩnh vực thú y, còn các lĩnh vực khác như thủy sản; khoáng sản; quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; vệ sinh an toàn thực phẩm… chưa có quy định.

- Một số hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 vẫn chưa được cụ thể hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017 như: Hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép; sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người; hành vi cản trở hoạt động bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, quy định về đánh giá tác động môi trường vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng như xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cho báo cáo tác động môi trường của các dự án đặc thù, xác định rõ các loại tác động của dự án theo các giai đoạn đầu tư, xây dựng, vận hành hoặc tác động môi trường của các dự án có liên quan đến đa dạng sinh học chưa được quy định. Hiện nay, chưa có quy định về tác động môi trường về không khí riêng, quy định về quan trắc ô nhiễm môi trường không khí còn chưa đồng bộ, mạng lưới quan trắc còn thiếu và mỏng dẫn đến hiệu quả phát hiện ô nhiễm còn thấp, chưa quy định cụ thể về ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường không khí, xác định thiệt hại về môi trường không khí, chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải trong ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí (cả nguồn thải cố định và di động) mà chỉ có quy định ngăn chặn sự cố môi trường. Ngoài ra, khâu hậu kiểm trong tác động môi trường còn nhiều thủ tục hành chính, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình tiến hành dự án hoặc bản thân các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa đủ nguồn lực để tiến hành kiểm tra, xác nhận đã hoàn thành công trình tác động môi trường theo phương án đã được phê duyệt. Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 vẫn còn thiếu quy định về cơ chế thực hiện quyền của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, cộng đồng dân cư như chưa có quy định quyền được yêu cầu cung cấp thông tin môi trường của người dân hoặc Luật cũng chỉ mới quy định về giám định thiệt hại về môi trường mà chưa có quy định về giám định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị thiệt hại hoặc vấn đề giải quyết tranh chấp môi trường.

- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2017 đã kịp thời bổ sung đầy đủ các quy định về pháp luật giữa Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhằm đảm bảo tính răn đe, cụ thể, chi tiết, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, đồng thời thể hiện quan điểm nhất quán của Thủ tướng Chính phủ về quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đã quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với hành vi không lập bản kế hoạch bảo vệ môi trường, bổ sung hình thức xử phạt cảnh cáo, mức xử phạt tăng đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn quốc gia về môi trường từ 10% - 50% của khung phạt; kết quả quan trắc tự động được sử dụng làm căn cứ để xác định hành vi xả thải vượt quy chuẩn Việt Nam. Việc xác định ngưỡng vượt quy chuẩn có tính đến sai số phân tích và chi tiết khung phạt theo quy mô xả thải để đảm bảo công bằng khi xử phạt, đồng thời, Nghị định này cũng quy định danh mục các thông số môi trường nguy hại trong nước thải và khí thải. Việc phân định thẩm quyền xử phạt của các lực lượng đảm bảo đúng pháp luật, rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP vẫn còn một số nội dung bỏ trống, chưa xem xét xử phạt vi phạm hành chính như: Hành vi không thực hiện giám sát môi trường đầy đủ trong trường hợp phải thực hiện giám sát môi trường trong kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nghị định quy định một số thủ tục đình chỉ hoạt động có thời hạn cần phải tổ chức niêm phong, đánh giá, mở niêm phong sau khi đã khắc phục, nhưng hiện chưa có hướng dẫn cụ thể cách thức thực hiện.

Điều 53 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về trách nhiệm và cơ chế phối hợp trong hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng, việc quy định như Điều 53 là chưa thống nhất về thẩm quyền, trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân nói chung và Cảnh sát môi trường nói riêng trong việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, cụ thể tại điểm a khoản 3 quy định Bộ Công an có trách nhiệm: “Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật theo quy định pháp luật và theo định hướng của Bộ Tài nguyên và Môi trường; không kiểm tra các đối tượng thuộc kế hoạch kiểm tra, thanh tra hàng năm quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều này, trừ trường hợp phát hiện thấy dấu hiệu của tội phạm”; nhưng tại điểm d khoản 3 lại quy định Bộ Công an có trách nhiệm “chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân phối hợp với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường các cấp khi tiến hành kiểm tra đột xuất cá nhân, tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật do lực lượng Công an nhân dân phát hiện…”. Rõ ràng, việc quy định như vậy là không thống nhất và quá trình tổ chức kiểm tra về bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng (trong đó có lực lượng Cảnh sát môi trường) phải thông báo cho cơ quan chuyên môn về môi trường nhưng không quy định là thông báo nội dung gì, hình thức thông báo và cơ quan chuyên môn về môi trường là cơ quan nào.

2. Giải pháp khắc phục

Để việc thực hiện thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phát huy hiệu quả trong thời gian tới, cần nghiên cứu một số giải pháp sau:

Một là, ban hành văn bản hướng dẫn việc thực hiện các quy định trong Chương XIX Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017 về các tội phạm về môi trường phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường và các văn bản có liên quan nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc định tội danh, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các đối tượng phạm tội về môi trường, nhất là các quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành sửa đổi các quy định theo hướng hợp lý, rõ ràng hơn trong một số điều khoản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 như: Bổ sung các thuật ngữ “ủy quyền”, “giao quyền” và “vắng mặt” vào Điều 2 và giải thích rõ hơn các khái niệm này hoặc ban hành mới hoặc sửa đổi các nghị định hiện hành nhằm làm rõ một số quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Ba là, tiếp tục thể chế hóa Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Mặc dù đã có Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, tuy nhiên, còn nhiều điểm chưa được hướng dẫn rõ ràng. Do đó, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung những quy định còn thiếu hoặc không phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Trong đó, cần tiếp tục thể chế hóa và tăng cường hiệu quả của tham vấn trong quá trình thực hiện báo cáo tác động môi trường như xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật cho báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đặc thù, xác định rõ các loại tác động của dự án theo các giai đoạn đầu tư, xây dựng, vận hành. Trong hướng dẫn quy trình thực hiện đánh giá tác động môi trường và tham vấn, cần quy định rõ về trách nhiệm và chế tài đối với chủ đầu tư và cơ quan, thẩm quyền về tiếp nhận và phản hồi thông tin; công khai địa chỉ liên lạc của cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm phản hồi thông tin và quy định thời hạn phản hồi; xây dựng cơ chế giám sát cụ thể, những phát hiện trong quá trình giám sát phải được báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan này phải có biện pháp xử lý phù hợp; hoàn thiện và cập nhật cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần ban hành bổ sung đánh giá tác động môi trường trong đa dạng sinh học của các dự án có nguy cơ, ảnh hưởng lớn như về đối tượng và tiêu chí đánh giá; tiêu chuẩn và phương pháp đo, đếm mức độ tác động lên đa dạng sinh học; danh mục các dự án có liên quan.

Bốn là, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho lực lượng Cảnh sát môi trường trong một số lĩnh vực như về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; khoáng sản; vệ sinh an toàn thực phẩm… nhằm đảm bảo công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm đi vào chiều sâu và có hiệu quả.

Năm là, các bộ, ngành liên quan như Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường... cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định trong một số văn bản pháp luật như:

- Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cần bổ sung đại diện Cảnh sát môi trường là thành phần tham gia thẩm định đánh giá tác động môi trường đối với các dự án nhằm phục vụ công tác phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật về môi trường;

- Đề xuất Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ, cần làm rõ một số quy định như “cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường”, đồng thời đề nghị quy định cụ thể hơn về cơ chế phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát môi trường với các cơ quan có liên quan khi tiến hành các hoạt động kiểm tra do lực lượng Cảnh sát môi trường chủ trì; quy định cụ thể nội dung phối hợp giữa cơ quan nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với lực lượng Cảnh sát môi trường;

- Hàng năm, cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành tổng kết, đánh giá các quy định của pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong việc ngăn ngừa vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân về môi trường trong thời gian tới.

Vũ Ngọc Hà

Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên





[1]. http://tuoitre.vn/xu-hon-17000-vu-vi-pham-phap-luat-ve-moi-truong-nam-2016-1244032.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: