Thứ tư 09/09/2026 01:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thông tư liên tịch về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng thúc đẩy trách nhiệm của các ngành đối với người được trợ giúp pháp lý

Ngày 29/6/2018, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

Ngày 29/6/2018, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT). Thông tư liên tịch tiếp tục kế thừa thành tựu của các Thông tư liên tịch về phối hợp trợ giúp pháp lý (TGPL) trong tố tụng đã được hình thành từ năm 2007[1], đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn. Thông tư liên tịch gồm 06 chương, 25 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2018 và thay thế Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

Trên cơ sở quy định của các bộ luật, luật tố tụng[2], Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017[3] với tinh thần lấy người được TGPL làm trung tâm, tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ TGPL của người được TGPL, “nâng cao chất lượng TGPL” để bảo đảm “bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL”[4], Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm của các ngành về phối hợp TGPL trong tố tụng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến việc phối hợp TGPL trong tố tụng theo Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT gồm: Trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, trại giam và người có thẩm quyền của các cơ quan trên với các tổ thức thực hiện TGPL[5] và người thực hiện TGPL[6] (thể hiện ở 05 nhóm hoạt động: Truyền thông về TGPL trong tố tụng; giải thích, thông báo, thông tin về TGPL; thống kê, báo cáo về công tác phối hợp; tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL trực tại các cơ quan; một số hoạt động phối hợp khác. Trong mỗi nhóm hoạt động đều quy định rõ trách nhiệm của các bên trong công tác phối hợp để các chủ thể chủ động thực hiện nhiệm vụ, thúc đẩy hiệu quả công tác phối hợp); cơ chế phối hợp liên ngành trong việc bảo đảm quyền được TGPL của người được TGPL (Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng).

1. Truyền thông về trợ giúp pháp lý trong tố tụng

Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định Trung tâm TGPL nhà nước thuộc Sở Tư pháp (Trung tâm) có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu, hỗ trợ khác về truyền thông để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ thực hiện việc niêm yết bảng thông tin về TGPL, đặt hộp tin TGPL tại trụ sở của các cơ quan, niêm yết tờ thông tin về TGPL trong buồng tạm giữ, buồng tạm giam, tại nơi làm thủ tục tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, phòng thăm gặp, phòng làm việc của người bào chữa và nơi sinh hoạt chung của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL. Đồng thời, Trung tâm còn có trách nhiệm phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông và hướng dẫn về TGPL tại các đơn vị trong ngành (ví dụ: Hỗ trợ tài liệu, báo cáo viên…).

Đặc biệt, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT bổ sung quy định: Trung tâm có trách nhiệm cung cấp băng ghi âm, đĩa ghi âm, usb hoặc phương tiện khác có chứa nội dung thông tin về TGPL dạng âm thanh và các cơ sở giam giữ có trách nhiệm phát qua các phương tiện truyền thanh tại nơi sinh hoạt chung của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Đây là quy định mới nhằm bảo đảm người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong điều kiện bị giam giữ vẫn được tiếp cận thường xuyên với thông tin về TGPL để có thể sử dụng được dịch vụ này.

2. Giải thích, thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý

Đây là quy định mới giúp khắc phục tồn tại, hạn chế cơ bản trong việc tiếp cận với dịch vụ TGPL của người thuộc diện được TGPL là chưa có cơ chế cụ thể tạo điều kiện cho Trung tâm tiếp xúc trực tiếp với người thuộc diện được TGPL để hướng dẫn, giải thích về lợi ích của TGPL nên nhiều đối tượng do thiếu hiểu biết đã không yêu cầu TGPL dẫn đến bị bỏ sót. Đồng thời, quy định này còn cụ thể hóa các nội dung về giải thích, thông báo, hướng dẫn về TGPL tại các bộ luật, luật tố tụng, đặc biệt là Điều 71 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm quyền được TGPL của người được TGPL.

Điều 7, Điều 8, Điều 9 Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thực hiện việc giải thích, thông báo, thông tin về TGPL như sau:

(i) Giải thích về quyền được TGPL

- Tại thời điểm bắt, tạm giữ người, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người bị hại, lấy lời khai của đương sự, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc tại thời điểm gửi thông báo thụ lý vụ án, thông báo thụ lý đơn yêu cầu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển cho họ đọc bản thông tin về người được trợ giúp pháp lý (theo Mẫu số 01 có xác nhận của họ và được lưu hồ sơ vụ án, vụ việc). Trường hợp họ không tự đọc được thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho họ biết.

- Nếu họ tự nhận mình là người được TGPL thì giải thích về quyền được TGPL (kịp thời, đầy đủ, bằng ngôn ngữ dễ hiểu để họ hiểu rõ về quyền được TGPL).

- Giải thích trong tố tụng hình sự được thực hiện bằng việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đọc, hướng dẫn cụ thể nội dung và điền thông tin vào biên bản giải thích về quyền được TGPL miễn phí của người bị buộc tội, người bị hại, đương sự thuộc diện được TGPL (theo Mẫu số 02 và được lưu tại hồ sơ vụ án); giải thích trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính do người tiến hành tố tụng thực hiện.

(ii) Thông báo, thông tin về TGPL (phân chia theo tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, hành chính)

- Trong tố tụng hình sự chia làm 03 trường hợp:

+ Thông báo: Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được TGPL và có yêu cầu TGPL thì thông báo (theo Mẫu số 03, ghi vào biên bản tố tụng và lưu tại hồ sơ vụ án) cho Trung tâm, chi nhánh để cử người thực hiện TGPL hoặc kiểm tra diện người được TGPL để cử người thực hiện TGPL; đối với người bị bắt, người bị tạm giữ còn phải thông báo ngay bằng điện thoại.

+ Thông tin: Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được TGPL và chưa có yêu cầu TGPL thì thông tin (theo Mẫu số 04) cho Trung tâm, chi nhánh biết để thực hiện việc kiểm tra diện người được TGPL, cử người thực hiện TGPL hoặc thông tin lại.

+ Chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được TGPLtheo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì đề nghị Trung tâm, chi nhánh cử ngay người thực hiện TGPL bào chữa cho họ (theo Mẫu số 03).

- Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Việc thông báo, thông tin được thực hiện như thông báo, thông tin trong tố tụng hình sự, tuy nhiên việc thông báo không phải ghi vào biên bản tố tụng.

Ngoài ra, tại Điều 10 và Điều 11 Thông tư liên tịch sô 10/2018/TTLT quy định cơ sở giam giữ, trại giam và người có thẩm quyền của các cơ quan trên cũng có trách nhiệm thực hiện việc giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT.

Nếu như trước đây, người thuộc diện được TGPL do thiếu hiểu biết về TGPL (nghĩ rằng TGPL có thể mất tiền, không hiểu lợi ích của việc được TGPL...) mà từ chối sử dụng dịch vụ này dẫn đến việc họ không có người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng, thì nay, với quy định mới tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT, người thuộc diện được TGPL chỉ cần thể hiện nguyện vọng “có yêu cầu” TGPL hoặc “chưa có yêu cầu” TGPL (thay cho việc “không có yêu cầu” TGPL) thì dù trong trường hợp họ “chưa có yêu cầu”, Trung tâm cũng sẽ chủ động tiếp cận, giải thích để họ hiểu và quyết định có sử dụng quyền được TGPL hay không. Với cơ chế này, nếu được thực thi nghiêm túc, sẽ không bỏ sót đối tượng thực sự có nhu cầu TGPL.

Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT bổ sung quy định trách nhiệm của Trung tâm, chi nhánh khi nhận được thông báo, thông tin để tăng tính chủ động trong phối hợp và tiếp cận đối tượng, cụ thể:

- Khi nhận được thông báo thì cử người thực hiện TGPL trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu vụ việc thuộc trường hợp thụ lý ngay thì cử ngay người thực hiện TGPL cho người được TGPL.

- Khi nhận được thông báo, thông tin thì kiểm tra diện người được TGPL đối với người bị buộc tội, người bị hại, đương sự để cử người thực hiện TGPL nếu họ là người được TGPL và có yêu cầu TGPL; hoặc thông tin lại cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chuyển đến biết nếu họ không thuộc diện được TGPL hoặc không có yêu cầu TGPL.

3. Thống kê, báo cáo về công tác phối hợp

Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định Trung tâm có trách nhiệm cung cấp sổ theo dõi vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng theo Mẫu số 05 (Điều 3) và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ có trách nhiệm thực hiện thống kê vào sổ (Điều 8, Điều 10). Đây là quy định mới nhằm khắc phục tồn tại hiện nay là chưa thống kê được số liệu đối tượng thuộc diện được TGPL, từ đó dẫn tới việc khó nắm bắt được nhu cầu TGPL. Số liệu thống kê thể hiện rõ số lượng người được TGPL trên số đối tượng thuộc diện được TGPL và đối tượng do các ngành thụ lý, tiếp nhận. Từ đó, đánh giá chính xác, hiệu quả giải thích, thông báo, thông tin về TGPL, khả năng cung cấp dịch vụ TGPL và tránh bỏ lọt đối tượng thuộc diện được TGPL.

4. Tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại các cơ quan

Khoản 9 Điều 8 Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định: “Khuyến khích cơ quan điều tra, Tòa án các cấp tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL trực tại các cơ quan này phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để người được TGPL biết và sử dụng dịch vụ TGPL kịp thời”. Đây là quy định tạo hướng đi mới, góp phần khắc phục tồn tại đó là: Do không có điều kiện tiếp cận với TGPL mà nhiều đối tượng thuộc diện được TGPL chưa yêu cầu được TGPL, vì thế không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Quy định trên không chỉ giúp người được TGPL thuận lợi tiếp cận và yêu cầu TGPL mà còn giúp người thực hiện TGPL chủ động trong công tác phối hợp, tiếp cận người được TGPL để cung cấp dịch vụ TGPL. Đây là quy định mang tính chất “khuyến khích” (nhằm hướng tới các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức thực hiện TGPL tại địa phương có đủ điều kiện) thực hiện để bảo đảm tốt nhất quyền được TGPL của các đối tượng. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, Sở Tư pháp (cụ thể là Trung tâm) phải có sự chuẩn bị, phối hợp chặt chẽ với các thành viên của Hội đồng phối hợp liên ngành địa phương để lựa chọn cơ quan, đơn vị phù hợp (nơi có cơ sở vật chất bảo đảm, có nhiều vụ việc tố tụng…).

5. Một số hoạt động phối hợp khác

Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT cũng quy định về một số hoạt động phối hợp khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL như: Đăng ký bào chữa, đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra, lịch xét xử cho tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL; tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; ghi rõ trong bản án, quyết định thông tin về người thực hiện TGPL và ý kiến, quan điểm bào chữa hoặc bảo vệ của họ; xác nhận về thời gian hoặc công việc của người thực hiện TGPL khi làm việc với các cơ quan…

6. Hội đồng phối hợp liên ngành ở trung ương và địa phương

Kế thừa quy định của Thông tư trước đây về Hội đồng phối hợp liên ngành ở trung ương và địa phương (Hội đồng), Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT (từ Điều 16 đến Điều 21) tiếp tục quy định theo hướng rõ ràng, đầy đủ hơn về các nội dung liên quan đến Hội đồng trong việc giúp lãnh đạo 06 ngành “thống nhất chỉ đạo phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng”.

Ở Trung ương, Hội đồng do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập và làm Chủ tịch. Ở địa phương, Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và Giám đốc Sở Tư pháp là Chủ tịch.

Nhằm thúc đẩy hiệu quả của công tác phối hợp liên ngành, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT đã có nhiều quy định mới: (i) Sửa đổi, bổ sung thành phần Hội đồng (quy định số lượng thành viên không quá 08 người; bổ sung thành phần Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Giám đốc Sở Tư pháp phụ trách công tác TGPL, quy định mang tính lựa chọn thành phần thuộc Ngành Quốc phòng trong Hội đồng phối hợp liên ngành địa phương); (ii) Bổ sung thêm một số nhiệm vụ để tăng tính hiệu quả của Hội đồng; (iii) Tách bạch giữa nhiệm vụ chung của Hội đồng với nhiệm vụ của các ngành thành viên…

Trên cơ sở đó, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định các khoản kinh phí cho hoạt động của Hội đồng (do cơ quan thường trực Hội đồng lập dự toán kinh phí), các khoản kinh phí do các ngành lập cho công tác phối hợp TGPL trong tố tụng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thông tư đã bổ sung 04 khoản kinh phí sau: Tổ chức tập huấn cho người thực hiện TGPL, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cung cấp băng ghi âm, đĩa ghi âm, usb; in ấn sổ theo dõi vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng và các mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT; chi cho các hoạt động khác nhằm tăng cường hiệu quả công tác phối hợp.

Đồng thời, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT quy định Sở Tư pháp (Trung tâm) lập dự toán cho 07 khoản kinh phí phục vụ công tác phối hợp của Hội đồng, cụ thể: (i) Sơ kết, tổng kết, kiểm tra, đánh giá, sao chụp tài liệu phối hợp về TGPL trong hoạt động tố tụng; (ii) Đặt bảng thông tin, tờ thông tin, hộp tin TGPL, tờ gấp pháp luật và các tài liệu khác có liên quan; cung cấp băng ghi âm, đĩa ghi âm hoặc usb có chứa nội dung thông tin về TGPL dạng âm thanh; (iii) In ấn sổ theo dõi vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng và các mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT; (iv) Tổ chức tập huấn cho thành viên Hội đồng và tổ giúp việc cho Hội đồng, người thực hiện TGPL, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (v) Khen thưởng cho thành viên Hội đồng và thành viên tổ giúp việc cho Hội đồng; (vi) Bồi dưỡng cho thành viên Hội đồng và tổ giúp việc cho Hội đồng; (vii) Chi cho các hoạt động khác để tăng cường hiệu quả phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng.

Các ngành (công an, quốc phòng, tài chính, tòa án, kiểm sát) được lập dự toán cho các kinh phí, đó là: (i) Sơ kết, tổng kết, kiểm tra, đánh giá, sao chụp tài liệu phối hợp về TGPL trong hoạt động tố tụng; (ii) Tổ chức tập huấn cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Việc quy định trên đã bảo đảm cho các ngành thành viên Hội đồng chủ động trong việc thực hiện trách nhiệm phối hợp, thúc đẩy công tác phối hợp hiệu quả, bảo đảm tốt quyền được TGPL của người được TGPL.

ThS. Cù Thu Anh

ThS. Nguyễn Thị Pha

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp





[1]. Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKNTC-TANTC ngày 28/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

[2]. Các điều 71, 72, 76, 78, 83, 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điều 9, 48, 75 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 19, 38, 61 Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015; các điều 8, 9,13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

[3]. Các điều 31, 41 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[4]. Khoản 3 Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[5]. Gồm Trung tâm TGPL nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và chi nhánh của Trung tâm; tổ chức tham gia TGPL (tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng hoặc đăng ký tham gia TGPL).

[6]. Gồm trợ giúp viên pháp lý, luật sư ký hợp đồng với Trung tâm và luật sư của tổ chức tham gia TGPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: