Thứ sáu 16/01/2026 01:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng - Những vấn đề đặt ra

Thực hiện chính quyền đô thị (CQĐT) là tất yếu khách quan vì đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước giữa đô thị và nông thôn là khác nhau. So với khu vực nông thôn thì đô thị có những đặc thù như: Lãnh thổ đô thị là một thể thống nhất, liên hoàn, không thể chia cắt thành bộ phận riêng lẻ

1. Dẫn nhập

Thực hiện chính quyền đô thị (CQĐT) là tất yếu khách quan vì đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước giữa đô thị và nông thôn là khác nhau. So với khu vực nông thôn thì đô thị có những đặc thù như: Lãnh thổ đô thị là một thể thống nhất, liên hoàn, không thể chia cắt thành bộ phận riêng lẻ; quy mô dân số lớn, dân tập trung đông, cơ cấu đa dạng phức tạp; trình độ dân trí cao, nhu cầu đa dạng có tính chất khép kín và tính tự quản cao; kinh tế tập trung chủ yếu là các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch), tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia; cơ sở hạ tầng có tính chất liên hoàn, phức tạp, tạo thành mạng lưới thống nhất, có tính xuyên suốt, đồng bộ.

Những đặc trưng khác biệt cơ bản trên đòi hỏi nội dung và hình thức tổ chức thực hiện quản lý nhà nước ở đô thị cũng phải có những đặc trưng khác với nông thôn. CQĐT vừa mang đặc điểm chung của chính quyền địa phương về bản chất, vị trí, vai trò, chức năng vừa mang đặc điểm riêng về phương thức quản lý và phát triển đô thị. Có như vậy, công tác quản lý và vận hành đô thị mới thực sự hiệu quả.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới mô hình, tổ chức, phương thức hoạt động của chính quyền đô thị. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền đô thị. Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), tại khoản 3 Điều 4 quy định: “Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn”. Luật đã dành Chương III “Chính quyền địa phương ở đô thị” quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của mỗi cấp chính quyền đô thị.

2. Tình hình triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng

2.1. Mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng

Ngày 19/6/2020, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 119/2020/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình CQĐT và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 119/2020/QH14). Theo đó, thí điểm tổ chức mô hình CQĐT tại thành phố Đà Nẵng như sau: Chính quyền địa phương ở thành phố Đà Nẵng là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND thành phố và UBND thành phố. Chính quyền địa phương ở các quận thuộc thành phố Đà Nẵng là UBND quận. Chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận tại thành phố Đà Nẵng là UBND phường. Việc tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính khác của thành phố Đà Nẵng được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Việc thí điểm tổ chức mô hình CQĐT tại thành phố Đà Nẵng được thực hiện từ ngày 01/7/2021 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.

Nhằm triển khai Nghị quyết số 119/2020/QH14, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 119/2020/QH14 (Nghị định số 34/2021/NĐ-CP). Theo đó, UBND quận và UBND phường làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Bên cạnh đó, Nghị định số 34/2021/NĐ-CP cũng quy định hằng năm Chủ tịch UBND quận, phường phải tiến hành đối thoại với nhân dân về những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nguyện vọng của công dân ở địa phương, trước kỳ họp thường kỳ của HĐND thành phố Đà Nẵng. Tùy thuộc vào quy mô dân số, Chủ tịch UBND quận có thể tổ chức đối thoại với nhân dân theo phường hoặc tổ dân phố; Chủ tịch UBND phường có thể tổ chức đối thoại với nhân dân qua các đại diện tổ dân phố. UBND quận, phường có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm, nội dung của của hội nghị đối thoại trước ngày tổ chức hội nghị ít nhất 07 ngày.

2.2. Kết quả đạt được

Qua 01 năm thực hiện thí điểm tổ chức mô hình CQĐT tại thành phố Đà Nẵng (01/7/2021 - 01/7/2022), kết quả đạt được như sau:

Thứ nhất, về bộ máy và biên chế:

Căn cứ Nghị định số 34/2021/NĐ-CP, số lượng và tên gọi cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận vẫn tổ chức 12 phòng theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; riêng Văn phòng HĐND và UBND quận đổi tên thành Văn phòng UBND quận theo quy định.

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 34/2021/NĐ-CP, “Công chức của UBND phường thuộc biên chế công chức của UBND quận thuộc thành phố Đà Nẵng và do UBND quận thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý, sử dụng”. Do vậy, từ ngày 01/7/2021, Sở Nội vụ đã hoàn thành việc thẩm định chuyển 619 trường hợp cán bộ, công chức phường thành công chức thuộc biên chế UBND quận. Điều 26 Nghị định số 34/2021/NĐ-CP quy định: “Biên chế công chức bình quân làm việc tại UBND phường là 15 người, số bình quân này được tính trên tổng số phường của một quận”. Theo đó, UBND thành phố đã trình HĐND thành phố phân bổ 675 biên chế công chức làm việc tại UBND 45 phường, UBND thành phố trình HĐND quyết định số lượng biên chế công chức của UBND phường ở từng quận.

Thứ hai, về phân cấp, ủy quyền:

Thực hiện Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 24/6/2020 của Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và triển khai thí điểm mô hình CQĐT theo Nghị quyết số 119/2020/QH14, ngày 19/11/2021, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Đề án số 7796/ĐA-UBND về phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước gắn với thí điểm mô hình CQĐT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 – 2026 (Đề án số 7796/ĐA-UBND).

Đối với nội dung phân cấp, Đề án đã đưa ra nguyên tắc phân cấp và nội dung phân cấp trên 05 lĩnh vực trọng tâm (tổ chức bộ máy, nhân sự; quản lý đầu tư, quản lý đô thị, quản lý tài nguyên - môi trường, quản lý ngân sách); trong đó làm rõ cơ sở pháp lý, cơ quan nhận nhiệm vụ phân cấp và bổ sung các nội dung cần điều chỉnh hoặc bãi bỏ quy định phân cấp do đã được quy định cụ thể tại văn bản pháp luật chuyên ngành.

Đối với nội dung ủy quyền, trên cơ sở rà soát, phân nhóm các công việc thuộc thẩm quyền của UBND thành phố và Chủ tịch UBND thành phố, Đề án số 7796/ĐA-UBND đề xuất ủy quyền các nhiệm vụ cụ thể và định hướng các tiêu chí để tiếp tục rà soát ủy quyền 51 nhiệm vụ của UBND thành phố và 21 nhiệm vụ của Chủ tịch UBND thành phố cho sở ngành, UBND quận, huyện, giám đốc sở, ngành, chủ tịch UBND quận huyện. Ngoài ra, theo Nghị định số 34/2021/NĐ-CP, Chủ tịch phường được ủy quyền cho công chức giữ chức danh tư pháp - hộ tịch thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của UBND phường đối với việc chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản theo quy định của pháp luật. Đến ngày 01/7/2022, trên địa bàn thành phố có 42/45 phường đã thực hiện ủy quyền cho công chức giữ chức danh tư pháp - hộ tịch phường thực hiện ký chứng thực.

Thứ ba, về điều hành phát triển kinh tế - xã hội:

Sau 01 năm thực hiện thí điểm tổ chức mô hình CQĐT tại thành phố Đà Nẵng (01/7/2021 - 01/7/2022), nhìn chung đã phát huy tính chủ động và chế độ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu UBND quận, phường; công tác quản lý điều hành của UBND các quận, phường ổn định, thông suốt, hiệu quả. Kết quả này đã góp phần tổ chức bộ máy tinh gọn hơn, thủ tục hành chính được cắt giảm, tăng tính chủ động điều hành của chính quyền, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính cấp quận, phường; nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước.

Thứ tư, về quyền làm chủ của người dân:

Việc đối thoại, tiếp nhận và giải quyết ý kiến của người dân được thực hiện đúng quy định tại Điều 9 và Điều 18 Nghị định số 34/2021/NĐ-CP. Tính đến ngày 15/6/2022, UBND quận đã tiếp nhận 89 ý kiến, đề xuất của người dân, UBND phường đã tiếp nhận 2043 kiến nghị, đề xuất của người dân và tỷ lệ giải quyết trên 95%. Chủ tịch UBND quận đã tổ chức 21 cuộc đối thoại với 1.799 người tham gia (cả trực tiếp và trực tuyến), Chủ tịch UBND phường đã tổ chức 70 cuộc đối thoại với 4.252 người tham gia. Nhìn chung các buổi đối thoại được tổ chức chất lượng, hiệu quả.

Ngoài ra, khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, thành phố đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tăng cường hoạt động tiếp công dân từ thành phố đến các phường, xã. Nơi tiếp dân được bố trí thuận lợi để người dân đến phản ánh, kiến nghị hoặc khiếu nại, tố cáo. Cán bộ tiếp dân đã được tăng cường về chất lượng và số lượng.

2.3. Một số khó khăn, vướng mắc đặt ra khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện thí điểm mô hình CQĐT tại thành phố Đà Nẵng còn phát sinh một số khó khăn, vướng mắc đó là:

Một là, về tài chính và ngân sách:

Khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND quận thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách cấp I trực thuộc UBND thành phố Đà Nẵng; UBND phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc UBND quận. UBND quận, phường không còn là cấp ngân sách mà là đơn vị dự toán nên không còn nguồn tăng thu, kết dư ngân sách để chủ động bổ sung dự toán phục vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và công tác bảo đảm an sinh xã hội như một cấp ngân sách. HĐND thành phố Đà Nẵng quyết định phương hướng, nhiệm vụ và ngân sách của quận, phường. Trong khi đó, đối với UBND quận, phường là cơ quan hành chính thẩm quyền chung nên các lĩnh vực của đời sống xã hội đều thuộc phạm vi quản lý của UBND quận, phường (từ sửa chữa đường, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng, đặc biệt là an sinh xã hội). Do vậy quá trình xây dựng dự toán ban đầu không thể nào lường trước được. Điều này ảnh hưởng đến tính chủ động của UBND quận, phường trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trên địa bàn.

Bên cạnh đó, theo Nghị định số 91/2017/-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định việc bố trí quỹ thi đua khen thưởng chỉ thực hiện đối với cấp ngân sách, chưa quy định bố trí quỹ thi đua khen thưởng đối với đơn vị dự toán là quận, phường nên việc thực hiện khen thưởng cũng gặp khó khăn, vướng mắc.

Hai là, việc tiếp nhận, xử lý các ý kiến của người dân ở đô thị:

Khi thực hiện thí điểm mô hình CQĐT thì quyền đại diện của người dân thông qua đại biểu HĐND phường và HĐND quận không còn mà được thực hiện thông qua các kênh khác như: Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội của thành phố; Thường trực HĐND, các ban, tổ đại biểu và của đại biểu HĐND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp... Tuy nhiên, số lượng đại biểu hoạt động kiêm nhiệm chiếm đa số; chức năng, nhiệm vụ của HĐND thành phố tăng thêm do không tổ chức HĐND quận, phường, do vậy cũng ảnh hưởng đến việc tiếp nhận, xử lý các ý kiến của người dân ở đô thị.

Ba là, về chế độ, chính sách đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách:

HĐND thành phố Đà Nẵng ban hành Nghị quyết số 52/2021/NQ-HĐND ngày 17/12/2021 quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách; nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2022 và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền của thành phố Đà Nẵng quy định phân bổ chi khác ngân sách bằng 4% trên tổng các khoản chi thường xuyên cho UBND các quận, phường để thực hiện các nhiệm vụ đột xuất phát sinh trên địa bàn; phân bổ chi quản lý hành chính cho cán bộ, công chức phường; người hoạt động không chuyên trách phường là 48 triệu đồng/định biên/năm. Với mức định biên như trên là rất thấp vì nhiệm vụ của UBND phường khi thực hiện CQĐT là rất nhiều, đòi hỏi đội ngũ người hoạt động không chuyên trách làm việc rất vất vả, khối lượng công việc nhiều, áp lực, trong khi thu nhập thấp ảnh hưởng đến chăm lo đời sống cho gia đình và chưa thực sự yên tâm công tác.

Bốn là, vướng mắc về pháp lý:

Một số nội dung liên quan đến thẩm quyền quyết định của HĐND quận trước đây như quy hoạch chi tiết khu chức năng, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quyết định chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính chưa được quy định cụ thể theo Nghị quyết số 119/2020/QH14 và Nghị định số 34/2021/NĐ-CP (khi không còn tổ chức HĐND quận). Do vậy, trên thực tế chưa có căn cứ pháp lý triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, công tác phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn đầu tư công thuộc quận, phường quản lý và quyết định giao kế hoạch vốn dân sinh hằng năm có sự vướng mắc trong quá trình áp dụng khi chưa thống nhất giữa Nghị quyết số 119/2020/QH14, Luật Đầu tư công và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Hiện nay, các dự án, công trình cấp bách, dân sinh quy mô nhỏ có nhu cầu triển khai của các quận phải được UBND thành phố phê duyệt chủ trương đầu tư và HĐND thành phố xem xét, quyết định việc giao kế hoạch vốn trung hạn và hằng năm.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Trên cơ sở các khó khăn, vướng mắc nêu trên, trong thời gian tới, các cơ quan trung ương có thẩm quyền và thành phố Đà Nẵng cần quan tâm đến một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, xây dựng cơ chế quản lý tài chính, ngân sách phù hợp để UBND quận, phường chủ động, linh hoạt hơn trong quản lý nhà nước và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh tại địa phương, tránh bị động, lệ thuộc vào nguồn kinh phí từ HĐND thành phố.

Thứ hai, cần ban hành hướng dẫn hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND, trong đó nêu rõ trách nhiệm của cơ quan chịu sự giám sát trong việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; chủ trương tăng thêm số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND thành phố Đà Nẵng theo hướng tăng thêm số lượng ủy viên chuyên trách của các Ban HĐND thành phố.

Thứ ba, cần thống nhất chế độ quản lý cán bộ, công chức phường khi thực hiện thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Xem xét, quyết định đối với cán bộ thuộc tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các phường nơi triển khai thí điểm CQĐT được áp dụng quy định tương tự về chế độ công vụ của công chức làm việc tại phường theo Nghị định số 34/2021/NĐ-CP để bảo đảm thống nhất trong hệ thống chính trị ở phường, cũng như trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức liên thông giữa các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền; giữa phường với quận.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định của pháp luật theo hướng quy định rõ một số nội dung trước đây thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND quận nhưng chưa được quy định trong Nghị quyết số 119/2020/QH14 và Nghị định số 34/2021/NĐ-CP như quy hoạch chi tiết khu chức năng, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quyết định chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính. Đồng thời, khắc phục sự chồng chéo, vướng mắc về quy định thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn đầu tư công thuộc quận, phường quản lý và quyết định giao kế hoạch vốn dân sinh hằng năm.

Như vậy, việc triển khai CQĐT giúp cho bộ máy chính quyền tinh gọn hơn, tiết kiệm kinh phí. Tuy nhiên, để CQĐT tại thành phố Đà Nẵng hoạt động hiệu lực, hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc nêu trên. Đồng thời, gắn việc thực hiện CQĐT với đẩy mạnh xây dựng chính quyền số hướng đến chính quyền thông minh tại thành phố Đà Nẵng./.

ThS. Lưu Thị Tươi
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị Đà Nẵng



Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.1, t.2.

2. Quốc hội (2013), Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

3. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

4. Quốc hội (2019), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

5. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng.

6. Chính phủ (2021), Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng.

7. UBND thành phố Đà Nẵng (2022), Báo cáo số 181/BC-UBND ngày 18/6/2022 về tình hình thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: