Thứ sáu 23/10/2026 02:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

1. Quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015). Hợp đồng vay gồm có hợp đồng vay có kỳ hạn, hợp đồng vay không kỳ hạn, hợp đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi. Lãi suất trong hợp đồng vay do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật có liên quan quy định khác. Nếu lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực (khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015). Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; đối với trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trong hạn, lãi chậm trả của lãi trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn.

Như vậy, khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

2. Một số bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa án và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, về vấn đề thỏa thuận mức lãi suất giữa các bên cao hơn mức 20% được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trên thực tế, khi giải quyết vụ việc, nhiều Tòa án thường không xem xét và tính toán kỹ về phần lãi suất có vượt quá mức quy định hay không. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là lãi suất không được vượt quá 20%/năm có nghĩa là tối đa chỉ là 20%/năm, còn thì dù vượt ít hay nhiều, thậm chí chỉ là 0,01%... cũng đều không hợp pháp. Giá trị vượt quá dù nhỏ nhưng cũng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bên vay và làm sai lệch bản chất quy định pháp lý đã được ghi nhận cụ thể.

Ví dụ 1: Ngày 18/01/2018, ông A vay của nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 2%/tháng, cam kết trong thời hạn trả là 12 tháng. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị tính lãi suất của khoản tiền vay 30.000.000 đồng theo mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày vay là ngày 18/01/2018. Tòa án nhận định: “Xét yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” (Bản án số 25/2020/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G ngày 28/9/2020).

Như vậy, việc Tòa án xác định mức lãi suất mà các bên thỏa thuận lại tại phiên tòa 1,67%/tháng là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì theo tác giả là không phù hợp. Bởi lẽ, các bên thỏa thuận mức lãi suất 1,67%/tháng tương đương với 20,04%/năm, đã vượt quá 0,04%/năm của mức mà Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định.

Thứ hai, cách thức xác định thời hạn vay và tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thời hạn vay là khoảng thời gian mà các bên thỏa thuận vay trong hợp đồng được ấn định cụ thể, nếu sau thời hạn trên, bên vay không thực hiện nghĩa vụ thì có thể phải trả lãi chậm trả. Tuy nhiên, trên thực tế, một số Tòa án áp dụng chưa đồng nhất và nhầm lẫn một cách cơ bản về xác định thời hạn vay từ khi nào, cũng như tính thời gian chậm trả bắt đầu từ khi nào.

Ví dụ 2: Ngày 27/9/2019, ông H cho ông T vay số tiền 106.800.000 đồng, hợp đồng vay có công chứng, không quy định lãi suất, thời hạn trả ngày 07/10/2019. Sau khi hết thời hạn trả từ ngày 07/10/2019 đến nay, ông T không trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ông H yêu cầu ông T trả ngay số tiền 106.800.000 đồng và lãi chậm trả trên số nợ gốc theo mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tại phần nhận định và quyết định, Tòa án xác định thời gian chậm trả tính từ ngày 07/10/2019 đến ngày xét xử là ngày 29/4/2021 (Bản án số 53/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố H ngày 29/4/2021).

Theo quan điểm của tác giả, Tòa án xác định thời gian chậm trả bắt đầu từ ngày 07/10/2019 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP) quy định: “Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm”. Như vậy, ở Ví dụ 2 thì thời gian chậm trả sẽ được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay (ngày 07/10/2019), tức là được tính từ ngày 08/10/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 29/4/2021.

Bên cạnh đó, ở Ví dụ 1, phần nhận định và giải quyết của Tòa án “được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” là không phù hợp, bởi lẽ, không thể xác định tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn tính từ ngày 18/01/2018 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Ở đây, Tòa án đã nhầm lẫn cơ bản giữa thời gian vay trong hạn với thời gian tính lãi chậm trả. Do vậy, theo quan điểm của tác giả:

Một là, việc xác định tính tiền lãi từ ngày 18/01/2018: Căn cứ vào hợp đồng vay của các bên đã thỏa thuận thì thời hạn vay là 12 tháng, đây là khoảng thời gian vay của các bên đương sự trong hợp đồng vay, do vậy, trường hợp này, ngày 18/01/2018 là ngày vay sẽ không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định, tức là bắt đầu từ ngày 19/01/2018 đến ngày 19/01/2019 (theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Hai là, việc xác định thời gian chậm trả sẽ căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Theo đó, thời gian chậm trả được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay, tức là tính từ ngày 20/01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/9/2020.

Thứ ba, áp dụng văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Trên thực tế, không ít Tòa án đã áp dụng nhầm lẫn văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Ví dụ 3: Ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả. Tuy trong giấy ghi là mượn tiền nhưng thực tế đây là tiền vay, hai bên không thỏa thuận lãi suất, khi vay, ông Đ có hứa trả số tiền gốc và lãi theo quy định của Nhà nước. Các lần vay ông Đ đều ký vào giấy mượn tiền. Đến hẹn và qua nhiều lần ông N yêu cầu ông Đ trả nợ thì ông Đ hứa và cam kết trả nợ nhưng không thực hiện, cố tình trốn tránh trách nhiệm của mình. Nay nguyên đơn ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn số tiền vay còn nợ 300.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày hẹn trả nợ (Bản án số 11/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân thị xã ĐH, tỉnh PY ngày 29/4/2021). Trong phần nhận định và quyết định của Tòa án thì Tòa án áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn ông N số tiền vốn vay 300.000.000 đồng và tiền lãi là 151.161.000 đồng.

Theo quan điểm của tác giả thì Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết các quan hệ vay trong trường hợp trên là không phù hợp. Bởi vì, “ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả”, như vậy, đây là hai hợp đồng vay được xác lập vào hai thời điểm khác nhau và đều có thỏa thuận thời hạn trả nợ, mặt khác, tất cả giao dịch đã được xác lập trước ngày 01/01/2017 (trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực). Do vậy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các tranh chấp trong hai hợp đồng vay này sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

Thứ tư, về giải quyết đối tượng vay liên quan đến ngoại tệ.

Trên thực tế, nhiều Tòa án xác định cứ quan hệ vay liên quan đến ngoại tệ thì đều tuyên là vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, những giao dịch dân sự được xác lập kể từ thời điểm ngày 01/01/2017 thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

Ví dụ 4: A cho B vay 10.000 USD vào ngày 01/01/2015, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, B không trả nên A khởi kiện vào ngày 01/02/2017 yêu cầu B phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này thì giao dịch về hợp đồng vay đã được xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì giao dịch về hợp đồng vay sẽ bị vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của “pháp luật”, cụ thể đã vi phạm quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) với quy định không cho phép thực hiện các giao dịch bằng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, những giao dịch bằng ngoại hối đã xác lập xong trước ngày 01/01/2017 mà sau đó phát sinh tranh chấp thì Tòa án tuyên vô hiệu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ví dụ 5: C cho D vay 10.000 USD vào ngày 02/01/2017, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, D không trả nên C khởi kiện vào ngày 01/02/2019 yêu cầu D phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này, hợp đồng vay đã được xác lập khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch về hợp đồng vay không vi phạm điều cấm của “luật” nên sẽ có hiệu lực.

Tuy nhiên, trên thực tế, Tòa án vẫn căn cứ điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung 2013) ra quyết định giao dịch vay vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật”, khác với điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Như vậy, “pháp luật” là bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật, còn “luật” chỉ bao gồm văn bản luật do Quốc hội ban hành, trong khi đó, Pháp lệnh Ngoại hối không phải là văn bản luật mà là văn bản dưới luật.

Nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất cần phải nghiên cứu, rà soát lại các từ ngữ, các quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự về thời hạn, thời hiệu, mức lãi suất và một số quy định trong Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP; cần phải xác định cụ thể về quan hệ tranh chấp vào thời điểm nào, đã được xác lập hay chưa, đang được thực hiện hay đã thực hiện xong, để từ đó có thể áp dụng đúng văn bản pháp luật để giải quyết.

Trần Văn Từ

Học viên cao học Luật Kinh tế K14, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: