Thứ ba 17/03/2026 22:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn thi hành công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại tại Việt Nam

Tranh chấp dân sự và thương mại ngày càng tăng cùng với quá trình toàn cầu hóa. Những tranh chấp này không chỉ xảy ra trên lãnh thổ của một quốc gia mà còn liên quan đến chủ thể có quốc tịch hoặc sinh sống tại quốc gia khác hoặc tài sản ở quốc gia khác.

Đối với các tranh chấp do Tòa án thụ lý và giải quyết thì một trong những nhiệm vụ bảo đảm công tác xét xử theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng là công tác tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, trong đó có tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại. Để bảo đảm hoạt động và gắn trách nhiệm của các quốc gia trong việc thực hiện TTTP có hiệu quả, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định TTTP và gần đây nhất đã gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước Tống đạt). Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 01/10/2016. So với các hiệp định TTTP, việc gia nhập Công ước Tống đạt có phạm vi thực hiện tống đạt về mặt địa lý rộng hơn, bởi vì tính đến thời điểm hiện nay, đã có 70 quốc gia là thành viên của Công ước.

Công ước Tống đạt gồm có 31 điều và một phụ lục các mẫu yêu cầu tống đạt, giấy xác nhận kết quả tống đạt, bản tóm tắt giấy tờ được tống đạt. Công ước Tống đạt chỉ tập trung vào 02 vấn đề chính là: (i) Thủ tục tống đạt giấy tờ; (ii) Xét xử vắng mặt liên quan đến việc tống đạt giấy triệu tập bị đơn. Bài viết này giới thiệu về nội dung chính của Công ước Tống đạt và thực tiễn thực thi Công ước ở Việt Nam trong thời gian qua.

1. Nội dung chính của Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại

1.1. Mục tiêu

Công ước Tống đạt là điều ước quốc tế đa phương được xây dựng nhằm mục đích xây dựng cơ chế bảo đảm tiếp nhận và gửi các tài liệu tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, đơn giản hóa thủ tục, phương thức tống đạt và bảo vệ quyền lợi của bị đơn thông qua chứng minh được tống đạt đã được thực hiện ở nước ngoài, dưới hình thức giấy xác nhận kết quả theo mẫu thống nhất.

1.2. Phạm vi

Công ước Tống đạt áp dụng cho các vụ việc về dân sự hoặc thương mại có yêu cầu phải tống đạt giấy tờ tư pháp hoặc ngoài tư pháp ra nước ngoài và không áp dụng trong trường hợp không xác định được địa chỉ của người được tống đạt. Việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp chỉ được thực hiện khi đáp ứng được 04 điều kiện sau: (i) Giấy tờ phải được tống đạt từ quốc gia thành viên này sang quốc gia thành viên khác; (ii) Giấy tờ tống đạt phải là giấy tờ tư pháp hoặc ngoài tư pháp; (iii) Giấy tờ tống đạt phải là giấy tờ liên quan tới các vấn đề về dân sự hoặc thương mại; (iv) Địa chỉ của người nhận phải xác định được.

1.3. Các kênh tống đạt

Công ước Tống đạt quy định 01 kênh tống đạt chính (từ Điều 2 đến Điều 7) và các kênh tống đạt thay thế (từ Điều 8 đến Điều 11). Cụ thể như sau:

a. Kênh tống đạt chính

Kênh tống đạt chính là kênh tống đạt thông qua cơ quan trung ương của nước được yêu cầu. Trên trang web của Hội nghị La Hay có liệt kê thông tin của các cơ quan trung ương của các nước thành viên Công ước, bao gồm: Địa chỉ, điện thoại, fax, email và địa chỉ trang web (nếu có), ngôn ngữ liên lạc. Cơ quan trung ương của các quốc gia thành viên được chỉ định theo pháp luật của quốc gia đó và thông thường là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Tòa án, Bộ Tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao. Tuy vậy, đối với Hoa Kỳ, mặc dù cơ quan trung ương là Bộ Tư pháp Hoa Kỳ nhưng việc thực hiện yêu cầu và gửi yêu cầu do Công ty Process Forwarding International (ABC Legal) thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký với Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.

Chi phí thực hiện tống đạt sẽ được miễn, có nghĩa là các quốc gia sẽ không yêu cầu thanh toán cho việc thực hiện tống đạt. Tuy vậy, đối với chi phí tống đạt theo phương thức đặc biệt thì nước yêu cầu phải trả chi phí cho việc thực hiện. Ngoài ra, đối với một số quốc gia, nếu pháp luật có quy định việc thực hiện yêu cầu tống đạt do tổ chức tư nhân thực hiện (Thừa phát lại) thì chi phí thực hiện ủy thác tư pháp sẽ do nước yêu cầu chi trả. Thời gian thực hiện tống đạt có thể trong vòng 02 tháng và nhiều nhất là 06 tháng. Kết quả tống đạt sẽ được xác nhận bởi cơ quan trung ương, theo đó, giấy xác nhận kết quả phải nêu rõ tống đạt giấy tờ có thành công hay không.

b. Các kênh tống đạt thay thế

(i) Tống đạt trực tiếp cho đương sự ở nước ngoài thông qua cơ quan ngoại giao, lãnh sự (Điều 8). Kênh tống đạt này thông thường được áp dụng cho việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp cho công dân của nước yêu cầu tại nước được yêu cầu. Ví dụ, Thụy Sỹ chỉ chấp nhận sử dụng kênh tống đạt này để tống đạt cho công dân của nước yêu cầu, còn việc tống đạt cho công dân Thụy Sỹ hoặc công dân nước thứ ba thì phải sử dụng kênh chính hoặc kênh tống đạt tại Điều 9;

(ii) Tống đạt cho cơ quan thẩm quyền của nước được yêu cầu thông qua cơ quan ngoại giao, lãnh sự (Điều 9);

(iii) Tống đạt trực tiếp cho đương sự ở nước ngoài qua đường bưu điện (điểm a Điều 10);

(iv) Tống đạt từ nhân viên tư pháp, cán bộ hoặc người có thẩm quyền của nước yêu cầu trực tiếp qua nhân viên tư pháp, cán bộ hoặc người có thẩm quyền của nước được yêu cầu (điểm b Điều 10);

(v) Tống đạt từ bất kỳ cá nhân nào có liên quan trong thủ tục tố tụng trực tiếp qua nhân viên tư pháp, cán bộ hoặc người có thẩm quyền của nước được yêu cầu (điểm c Điều 10);

(vi) Các kênh tống đạt khác mà các nước thành viên chấp nhận (Điều 11).

Kênh tống đạt chính và kênh tống đạt thay thế đều có giá trị pháp lý như nhau. Công ước Tống đạt không đưa ra bất kỳ ưu tiên, hoặc thứ bậc nào cho các kênh tống đạt này. Việc tống đạt qua kênh tống đạt thay thế có giá trị tương đương với tống đạt qua kênh tống đạt chính. Các quốc gia tham gia Công ước Tống đạt có quyền lựa chọn sử dụng kênh tống đạt nào mà họ thấy phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.

Việc tống đạt có thể bị từ chối hay nói cách khác nước được yêu cầu tống đạt có thể từ chối yêu cầu tống đạt khi thấy việc thực hiện yêu cầu tống đạt vi phạm chủ quyền hoặc an ninh quốc gia. Tuy nhiên, việc từ chối thực hiện yêu cầu tống đạt vì lý do vi phạm chủ quyền hoặc an ninh rất ít khi được vận dụng và “chủ quyền và an ninh quốc gia” không được giải thích theo nghĩa là trật tự công.

1.4. Bảo vệ bị đơn liên quan đến tống đạt giấy tờ

Thực tiễn và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đều quy định bảo đảm nguyên tắc tiếp cận công lý, có nghĩa là bị đơn được quyền triệu tập và tham dự phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Cụ thể, bị đơn được gửi giấy triệu tập theo quy định pháp luật và được quyền tham dự, trình bày ý kiến của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy vậy, trong một số trường hợp tống đạt theo đúng trình tự, thủ tục hoặc người nhận đã biết được việc tống đạt nhưng không tham gia phiên tòa thì Tòa án có quyền xét xử vắng mặt.

Công ước Tống đạt quy định về hai nội dung là bảo vệ bị đơn trước khi ra bản án/quyết định (Điều 15) và bảo vệ bị đơn sau khi ra phán quyết (Điều 16), nhằm mục đích bảo vệ bị đơn nếu chứng minh được họ không nhận được giấy tờ tống đạt. Quy định này được áp dụng cho các kênh tống đạt của Công ước Tống đạt, trừ các kênh tống đạt theo quy định tại Điều 11 (các kênh tống đạt khác các kênh được nêu trong Công ước mà các nước thành viên chấp nhận).

a. Bảo vệ bị đơn trước khi ra phán quyết

Trong trường hợp giấy triệu tập hoặc giấy tờ tương đương được tống đạt ra nước ngoài theo quy định của Công ước nhưng bị đơn vắng mặt khi xét xử, thẩm phán chỉ được đưa ra bản án/quyết định vắng mặt khi đáp ứng 02 điều kiện: (i) Giấy tờ đã được tống đạt phù hợp với quy định của nước được yêu cầu (trong trường hợp tống đạt theo kênh chính thức hoặc kênh thay thế), hoặc giấy tờ đó thực tế đã tống đạt cho đương sự hoặc đến nơi ở của đương sự theo các phương thức khác được quy định tại Công ước (kênh bổ sung); (ii) Trong bất kỳ trường hợp nào, việc tống đạt phải đảm bảo đủ thời gian để bị đơn có thể tự đưa ra quyết định của mình hoặc tự bảo vệ (điểm a Điều 15).

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nguyên đơn, thẩm phán vẫn có thể đưa ra bản án, quyết định vắng mặt khi không nhận được giấy xác nhận kết quả tống đạt nếu 04 điều kiện sau được đáp ứng: (i) Giấy tờ đã được tống đạt theo một trong các kênh được quy định trong Công ước này; (ii) Đã hết khoảng thời gian mà thẩm phán quyết định trong trường hợp cụ thể nhưng không ít hơn 06 tháng, kể từ ngày gửi giấy tờ tống đạt; (iii) Không nhận được giấy xác nhận kết quả dưới bất kỳ hình thức nào mặc dù đã thực hiện mọi nỗ lực hợp lý để có được giấy này thông qua cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu; (iv) Nước yêu cầu tuyên bố áp dụng quy định của Điều 15 về xét xử vắng mặt.

b. Bảo vệ bị đơn sau khi ra phán quyết

Điều 16 quy định bảo vệ bị đơn trong trường hợp đã đưa ra phán quyết vắng mặt và thời gian kháng cáo đã hết. Thẩm phán có thể gia hạn thời gian kháng cáo cho bị đơn nếu đáp ứng 03 điều kiện: (i) Bị đơn không có lỗi và không biết được về giấy tờ trong khoảng thời gian đủ để tự bảo vệ hoặc không biết về phán quyết trong khoảng thời gian đủ để kháng cáo; (ii) Bị đơn đã nộp cho Tòa án bản tự bảo vệ rõ ràng ngay từ đầu về nội dung vụ việc (có nghĩa là bản tự bảo vệ mà ngay từ đầu đã có đủ căn cứ pháp lý cho phép bị đơn đạt được phán quyết có lợi cho mình hay đủ căn cứ để thay đổi kết quả của phán quyết đã được tuyên vắng mặt); (iii) Bị đơn nộp đơn yêu cầu xin gia hạn trong thời gian hợp lý, kể từ ngày biết được về phán quyết.

Thuật ngữ “kháng cáo” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các cách thức khắc phục khác nhau theo pháp luật của nước nơi có Tòa án, trong đó có cả kháng cáo theo nghĩa truyền thống (thủ tục phúc thẩm, trong đó vụ việc sẽ được xem xét lại ở Tòa án cấp cao hơn) và yêu cầu hủy phán quyết (thủ tục tại chính Tòa án đã ra phán quyết đó).

2. Việc bảo lưu và thực tiễn thi hành Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại tại Việt Nam

Từ năm 2013, khi trở thành thành viên của Hội nghị La Hay, Việt Nam đã có nghiên cứu và đánh giá khả năng gia nhập Công ước Tống đạt, bởi vì, phạm vi địa lý tống đạt rộng hơn so với các điều ước TTTP song phương và trong bối cảnh hiện nay, nhiều nước hạn chế ký kết các hiệp định song phương về TTTP. Trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự hoặc thương mại, Việt Nam đã chính thức nộp đơn gia nhập Công ước Tống đạt vào ngày 01/3/2016 tại phiên họp của Hội nghị La Hay. Sau 06 tháng, do không có quốc gia thành viên nào phản đối nên Công ước đã có hiệu lực vào ngày 01/10/2016. Sau đây là một số nội dung mà Việt Nam bảo lưu khi gia nhập và tình hình thực hiện Công ước sau gần 01 năm gia nhập.

2.1. Bảo lưu của Việt Nam khi gia nhập Công ước Tống đạt

Theo quy định tại Điều 16, 29 và 31 của Công ước Tống đạt, Việt Nam đã đưa ra Tuyên bố theo Quyết định số 2731/2015/QĐ-CTN ngày 08/12/2015 của Chủ tịch nước về gia nhập Công ước Tống đạt. Cụ thể như sau: (i) Tuyên bố chỉ định Bộ Tư pháp Việt Nam là cơ quan gửi giấy tờ và là cơ quan trung ương theo Điều 2 của Công ước Tống đạt; (ii) Không áp dụng phương thức tống đạt tại Điều 8 Công ước Tống đạt, trừ khi giấy tờ được tống đạt cho công dân của quốc gia gửi; (iii) Không áp dụng phương thức tống đạt tại đoạn b và c Điều 10 của Công ước Tống đạt (phương thức tống đạt thông qua cán bộ tư pháp và người tham gia tố tụng); (iv) áp dụng phương thức tống đạt tại đoạn a Điều 10 Công ước Tống đạt với điều kiện giấy tờ được gửi qua thư bảo đảm; (v) áp dụng đoạn 2 Điều 15 của Công ước Tống đạt, theo đó, thẩm phán có quyền đưa ra bản án/quyết định khi có căn cứ chứng minh rằng giấy triệu tập đã được đưa trực tiếp cho bị đơn trong thời gian đủ để bị đơn biết. Yêu cầu tống đạt theo mẫu gửi đến Việt Nam phải được lập hoặc kèm theo một bản dịch bằng tiếng Việt. Các giấy tờ của nước ngoài được tống đạt tại Việt Nam phải được lập hoặc kèm theo một bản dịch bằng tiếng Việt có công chứng hoặc chứng thực chữ ký người dịch, trừ trường hợp tống đạt qua kênh ngoại giao, lãnh sự trực tiếp cho đương sự là công dân nước gửi hoặc tống đạt qua kênh bưu điện cho đương sự là công dân nước gửi quy định tại Điều 8 và đoạn a Điều 10 Công ước Tống đạt.

Trong quá trình gia nhập Công ước Tống đạt (kể từ khi Việt Nam nộp văn kiện gia nhập), nhiều nước đã có ý kiến đề nghị Việt Nam giải thích và trả lời các câu hỏi có liên quan đến bảo lưu của Việt Nam. Ví dụ, ý kiến của Thụy Sỹ liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại đối với tuyên bố của Việt Nam cho phép tống đạt bằng bưu điện với điều kiện giấy tờ gửi qua thư bảo đảm, trong trường hợp này, Thụy Sỹ không cho phép giấy tờ gửi bằng bưu điện, kể cả bằng thư bảo đảm. Do vậy, nếu giấy tờ của Thụy Sỹ gửi qua bưu điện bằng thư bảo đảm thì có được Việt Nam chấp nhận không và nếu chấp nhận thì Việt Nam có yêu cầu Thụy Sỹ cho phép áp dụng nguyên tắc có đi, có lại, có nghĩa là Thụy Sỹ có phải chấp nhận việc gửi giấy tờ qua bưu điện từ Việt Nam hay không.

2.2. Thực tiễn thực thi Công ước tại Việt Nam

Sau gần 01 năm thực hiện Công ước Tống đạt, theo thống kê (từ 01/10/2016 đến 30/6/2017) thì Việt Nam đã nhận được 65 yêu cầu tống đạt từ thành viên của Công ước, Việt Nam cũng đã gửi 107 tống đạt. Việt Nam tiếp nhận và chuyển trả yêu cầu tống đạt chủ yếu từ Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Can-na-đa và Đức. Trong quá trình thực hiện Công ước, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện, Việt Nam cũng đã liên hệ và trao đổi thông tin với các quốc gia thành viên thông qua hộp thư điện tử (email) hoặc tại các cuộc họp của Hội nghị La Hay. Đối với các quốc gia vừa là thành viên của hiệp định song phương và vừa là thành viên của Công ước Tống đạt, Việt Nam đã tiến hành rà soát và thông báo cho các quốc gia này nên thực hiện theo các hiệp định song phương, bởi vì Điều 25 Công ước không cấm việc thực hiện theo các hiệp định song phương. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện Công ước Tống đạt còn có những tồn tại, hạn chế sau:

- Về việc gửi yêu cầu tống đạt, nhiều cơ quan có thẩm quyền tại địa phương (chủ yếu là Tòa án) chưa hiểu rõ Công ước Tống đạt, vì vậy đã lập sai nhiều hồ sơ gửi đến Bộ Tư pháp (cơ quan trung ương) nên đã bị gửi trả lại, nhất là phần mẫu theo Công ước Tống đạt.

- Về chi phí tống đạt, nhiều Tòa án còn gặp khó khăn trong việc tìm hiểu thông tin về tài khoản cũng như thanh toán chi phí tống đạt cho những nước yêu cầu phải nộp trước chi phí tống đạt thực tế. Việc thu, nộp và tạm ứng chi phí chưa được thực hiện tốt đối với nhiều hồ sơ gửi đi.

- Nhiều cơ quan có thẩm quyền tại địa phương vẫn còn chưa phân biệt rõ trường hợp nào thì gửi theo Công ước Tống đạt và trường hợp nào nên gửi theo hiệp định song phương.

Việc gia nhập và thực hiện Công ước Tống đạt có ý nghĩa lớn trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương cũng như ký kết các điều ước song phương về thương mại và dân sự; giúp cho Tòa án giải quyết có hiệu quả các vụ án liên quan đến những lĩnh vực này, từ đó thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Để thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên của Công ước Tống đạt, các bộ, ngành và địa phương phải nâng cao nhận thức về Công ước; hiểu và vận dụng tốt các kênh của Công ước nhằm hạn chế những sai sót trong hồ sơ dẫn đến nhiều hồ sơ bị trả lại hoặc không thực hiện được. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tập trung vào việc tập huấn, xây dựng sổ tay để phổ biến nội dung Công ước đến các địa phương.

TS. Nguyễn Văn Tuấn

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: