Thứ bảy 11/04/2026 05:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Trên thực tế, tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại trường hợp một số các tổ chức tín dụng thực hiện việc thẩm định không rõ ràng, thẩm định sai tài sản, thẩm định không đầy đủ, điều này gây ra thiệt hại cho phía các ngân hàng khi có tranh chấp xảy ra, cũng như gây nguy cơ mất an toàn đối với hệ thống tín dụng.

1. Bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Quá trình thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc nhất định, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề thẩm định tài sản thế chấp bảo đảm cho mục đích thế chấp tại các tổ chức tín dụng:

Thẩm định tài sản thế chấp để bảo đảm cho mục đích thế chấp tại ngân hàng trước khi cấp tín dụng đóng vai trò quan trọng, vì đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng quyết định hạn mức vay vốn cũng như hạn chế đến mức thấp nhất mức độ rủi ro trong trường hợp bên vay không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, đặc biệt tài sản là quyền sử dụng đất. Mục đích thẩm định đối với tài sản này nhằm xác định giá trị thị trường tại thời điểm vay vốn cũng như tính chất pháp lý của tài sản, trên cơ sở đó, các tổ chức tín dụng xác định đúng giá trị của tài sản bảo đảm nhằm cấp hạn mức tín dụng phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tránh được những rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Chính vì lẽ đó, việc thẩm định tài sản thế chấp đòi hỏi sự chặt chẽ, khách quan và tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại trường hợp một số các tổ chức tín dụng thực hiện việc thẩm định không rõ ràng, thẩm định sai tài sản, thẩm định không đầy đủ, điều này gây ra thiệt hại cho phía các ngân hàng khi có tranh chấp xảy ra, cũng như gây nguy cơ mất an toàn đối với hệ thống tín dụng.

Ví dụ chứng minh từ vụ án cụ thể do Tòa án nhân dân thị xã B thụ lý đối với vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng, bị đơn là ông Hoàng Q và bà Hoàng Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị B và anh Hoàng Văn V.

Nội dung vụ án như sau: Ông Q và bà H có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, cụ thể: Ngày 16/11/2018, ông Q và bà H ký với Ngân hàng hợp đồng tín dụng để vay tiền. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông Q, bà H. Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, ông Q và bà H đã thế chấp tài sản là 01 bất động sản của bên thứ ba là bà B, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại hợp đồng thế chấp mô tả có 02 ngôi nhà trên đất thế chấp, tuy nhiên Ngân hàng là bên nhận thế chấp không làm rõ 02 ngôi nhà này của ai, có đăng ký quyền sở hữu nhà ở hay không, diện tích bao nhiêu; những người sở hữu nhà ở không ký vào hợp đồng thế chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức xem xét thẩm định tại chỗ thì phát sinh sự việc 02 ngôi nhà này hiện có hai gia đình là con của bà C đang sinh sống; diện tích 02 ngôi nhà vượt ra ngoài diện tích đất thế chấp. Tòa án tiến hành lấy lời khai, xác minh thì con bà C khẳng định hai ngôi nhà này thuộc quyền sở hữu của họ, có trước khi thế chấp, tuy nhiên không cung cấp được quyền sở hữu về nhà ở cũng như các căn cứ khác để chứng minh nguồn gốc ngôi nhà của mình, cho rằng không ký vào hợp đồng thế chấp nên không có nghĩa vụ, không thỏa thuận trong việc xử lý tài sản thế chấp.

Từ nội dung vụ án, có thể thấy rằng, việc thẩm định tài sản thế chấp không rõ ràng, thiếu chặt chẽ, dẫn đến những vướng mắc, cụ thể:

- Khi thẩm định tài sản để ký kết hợp đồng thế chấp, Ngân hàng xác định có 02 ngôi nhà nhưng không làm rõ có đăng ký quyền sỡ hữu nhà ở hay thuộc quyền sử dụng của ai? Có đồng ý hay không để thế chấp cho Ngân hàng bảo đảm khoản vay?

Đối với tình huống này, theo quy định tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Án lệ số 11 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì khi giải quyết cần phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người bỏ tiền xây căn nhà, động viên khuyến khích các đương sự thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp, dành cho chủ sở hữu nhà được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng). Tuy nhiên, việc thi hành để xử lý tài sản thế chấp trên thực tế là khó thực thi, bởi vì các chủ sở hữu nhà hiện tại có thái độ chống đối, gây rối, không hợp tác.

- Khi xử lý tài sản thế chấp, phần diện tích 02 ngôi nhà vượt ra khỏi diện tích đất thế chấp phải xử lý như thế nào?

Đối với tình huống này, phần diện tích 02 ngôi nhà vượt ra khỏi diện đất thế chấp rất khó xử lý. Bỡi lẽ, căn nhà là một kết cấu liên hoàn, nếu tháo dỡ phần nhà trong diện tích đất đã thế chấp sẽ làm hư hỏng toàn bộ kết cấu của ngôi nhà, còn nếu định giá phần nhà vượt ra diện tích đất đã thế chấp để trả lại giá trị cho người sở hữu ngôi nhà thì Ngân hàng không đồng ý. Thực trạng này đang vướng mắc, chưa có văn bản hướng dẫn nói chung và ngành Tòa án đang chờ hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Thứ hai, về việc áp dụng nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm:

Việc xử lý tài sản bảo đảm là vấn đề không mong muốn, đặc biệt là đối với hoạt động vay của các ngân hàng thương mại, điều này có nghĩa là bên vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, cũng như các ngân hàng thương mại đứng trước rủi ro có thể không thu hồi được khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp bên vay không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, pháp luật quy định rõ về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tại Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị định số 21/2021/NĐ-CP), cụ thể như sau:

(i) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

(ii) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

(iii) Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.

(iv) Người xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác. Người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm.

(v) Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm.

(vi) Trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở.

Mặc dù, pháp luật đã quy định rõ về các nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm nhưng trên thực tế, một số ngân hàng vẫn chưa thực hiện đúng theo các nguyên tắc này. Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây: Ngân hàng tự bán tài sản bảo đảm để thu nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí; một số trường hợp thiếu sự hợp tác với ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm vì cho rằng, ngân hàng đã được ủy quyền và được toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản. Do đó, việc xử lý tài sản bảo đảm không được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.

Thứ ba, tài sản bảo đảm là tài sản chung của hộ gia đình:

Một vấn đề còn bất cập hiện nay đó là việc khách hàng vay vốn sử dụng tài sản chung của hộ gia đình để bảo đảm khoản vay, đáng lưu ý là các trường hợp liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất.

Theo quy định của pháp luật dân sự, tài sản chung của hộ gia đình là khối tài sản do các thành viên của hộ gia đình tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung. Đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình được dùng để bảo đảm khoản vay đã xuất hiện vướng mắc trong thực tế khi phía các tổ chức tín dụng chỉ quan tâm ai là người có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trong khi đó, phía công chứng viên khi công chứng hợp đồng thế chấp luôn yêu cầu các thành viên của hộ gia đình có tên trong hộ khẩu ký tên. Điều này dẫn đến việc khi có các thành viên nhập khẩu, không liên quan đến quá trình hình thành và tạo lập tài sản cũng tham gia vào ký kết hợp đồng thế chấp. Đây là điều bất hợp lý, dễ phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng, cũng như tranh chấp liên quan đến tài sản đang thế chấp của hộ gia đình. Mặt khác, điều này lại phát sinh thêm nhiều vấn đề liên quan phức tạp khi xử lý tài sản bảo đảm của các bên nhận thế chấp và cơ quan xử lý tranh chấp.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, khắc phục những hạn chế trong xử lý tài sản bảo đảm:

Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể thấy rõ nguy cơ mất vốn hoặc không thu hồi được vốn vay là hiện hữu nếu không có cơ sở pháp lý vững chắc đối với việc vay có bảo đảm. Do đó, cần thực hiện các giải pháp sau đây nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tồn tại trong xử lý tài sản bảo đảm:

- Trong các quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm cần hướng dẫn rõ ràng, thống nhất các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm đối với các bên có liên quan để phù hợp với hình thức pháp lý của văn bản cũng như yêu cầu đặt ra.

- Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung trong phạm vi cả nước về biện pháp bảo đảm giúp các tổ chức tín dụng và các chủ thể liên quan truy cập, đăng ký nhanh và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tài sản bảo đảm. Thông tin khi được hệ thống hóa sẽ giúp các tổ chức tín dụng có thêm thông tin trong quá trình thẩm định tài sản, do đó sẽ giảm thiểu đến mức tối đa rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng[1].

Thứ hai, nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan có liên quan khác trong thực thi pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng:

- Đối với quy định về áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp về tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu: Cần đánh giá kỹ tính khả thi của quy định này, học tập kinh nghiệm của các nước trong việc tạo cơ chế xử lý nợ xấu tại Tòa án; đặc biệt là đồng bộ các cơ chế quy định về quản lý, đăng ký tài sản.

- Về cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định về xử lý nợ xấu: Cần nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đất, quyền sử dụng đất. Theo đó, công khai các thông tin về tình trạng đất, quyền sử dụng đất. Hệ thống này cần được liên thông toàn quốc, khi có biến động liên quan, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin để cơ quan được giao chủ trì quản lý cập nhật vào hệ thống này, đáp ứng yêu cầu công khai, tra cứu thông tin, phòng tránh rủi ro, tranh chấp và bảo đảm ổn định quan hệ sử dụng đất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Về xem xét thẩm định tại chỗ: Đây là hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng (Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15), hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 40 triệu đồng, đồng thời người có hành vi vi phạm có thể phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Như vậy, đến nay đã có cơ chế xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền nói chung và xử lý hành vi cản trở việc xem xét thẩm định tại chỗ nói riêng. Để khắc phục những vướng mắc trong việc xem xét thẩm định tại chỗ trong xét xử của Tòa án, cần có các cơ chế bảo đảm thi hành và đưa Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 sớm đi vào cuộc sống.

- Nâng cao năng lực của thẩm phán và cán bộ Tòa án, thường xuyên, định kỳ tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn xét xử các tranh chấp về hợp đồng tín dụng để trao đổi, rút kinh nghiệm cho Tòa án các cấp trong việc giải quyết loại vụ án này.

- Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan liên quan trong việc cung cấp thông tin đối với các vụ việc mà Tòa án giải quyết.

- Để nâng cao hiệu quả giải quyết của Tòa án, công tác xác minh, thẩm định của tổ chức tín dụng đối với tài sản bảo đảm cần được thực hiện chất lượng, hiệu quả hơn.

- Nâng cao hiệu quả của biện pháp tố tụng trong việc xử lý tài sản thế chấp.

Thứ ba, nhằm tạo thuận lợi và hiệu quả cho biện pháp khởi kiện để xử lý tài sản, hệ thống pháp luật dân sự và tố tụng dân sự cần khắc phục được những điểm bất cập, những nội dung tranh chấp chưa có định hướng giải quyết thống nhất trên thực tế, có thể xem xét theo hướng sau:

(i) Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể phương án tố tụng phù hợp để giải quyết đối với trường hợp bên thế chấp, bên có nghĩa vụ bảo đảm vắng mặt tại nơi cư trú (cá nhân), bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh (pháp nhân) hoặc cố tình chống đối, cản trở cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Ngay trong chính quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có điều luật có thể tham khảo làm phương hướng có thể khắc phục được tình trạng này, cụ thể tại Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về: “Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa” đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cho phép Tòa án ấn định lộ trình giải quyết vụ án với đầy đủ các yếu tố về thời gian, địa điểm thực hiện các biện pháp tố tụng. Thông báo này được tống đạt hợp lệ cho các đương sự và buộc các đương sự phải biết và tuân thủ yêu cầu của Tòa án. Do đó, Tòa án cũng có thể áp dụng biện pháp này để giải quyết các trường hợp đương sự không có mặt tại nơi cư trú hoặc cố tình chống đối triệu tập của Tòa án giúp giảm các thủ tục tống đạt, niêm yết, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án. Trường hợp các đương sự được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ trên hai lần mà vẫn vắng mặt, thì Tòa án có quyền xem xét xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

(ii) Nội dung giải quyết vụ án của Tòa án căn cứ trên yêu cầu của các bên đương sự, mặc dù vậy Tòa án vẫn có quyền tiến hành các biện pháp tố tụng nếu xét thấy cần thiết. Trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản thế chấp, Tòa án cần phải thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản một cách khoa học, có thể thuê đơn vị chuyên môn có chức năng phù hợp để xác định đúng hiện trạng tài sản tạo căn cứ giải quyết vụ việc một cách chính xác. Điều này bảo đảm việc phán quyết của Tòa án có thể được thi hành một cách nhanh chóng, thuận lợi, giúp bảo vệ những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các đương sự.

(iii) Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thống nhất đường lối giải quyết vụ án, nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với các vấn đề có liên quan đến thế chấp tài sản như: Xác định chủ sở hữu có quyền thế chấp tài sản; xác định phạm vi tài sản thế chấp, phạm vi bảo đảm của tài sản, xác định những cá nhân tổ chức có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp; xác định nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình đối với các giao dịch trên tài sản thế chấp[2]./.

ThS. Phan Thị Phương Huyền

Trường Cao đẳng Luật miền Trung

ThS. Phan Anh Đức

Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình


[1] https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/thuc-trang-xu-ly-tai-san-bao-dam-tien-vay-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-129327.html.

[2] Nguyễn Đức Lợi (2019), Thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật dân sự và thực tiễn thực hiện, Luận văn thạc sĩ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 90.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: