Thứ tư 26/08/2026 18:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Trên thực tế, tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại trường hợp một số các tổ chức tín dụng thực hiện việc thẩm định không rõ ràng, thẩm định sai tài sản, thẩm định không đầy đủ, điều này gây ra thiệt hại cho phía các ngân hàng khi có tranh chấp xảy ra, cũng như gây nguy cơ mất an toàn đối với hệ thống tín dụng.

1. Bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Quá trình thi hành pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc nhất định, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề thẩm định tài sản thế chấp bảo đảm cho mục đích thế chấp tại các tổ chức tín dụng:

Thẩm định tài sản thế chấp để bảo đảm cho mục đích thế chấp tại ngân hàng trước khi cấp tín dụng đóng vai trò quan trọng, vì đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng quyết định hạn mức vay vốn cũng như hạn chế đến mức thấp nhất mức độ rủi ro trong trường hợp bên vay không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, đặc biệt tài sản là quyền sử dụng đất. Mục đích thẩm định đối với tài sản này nhằm xác định giá trị thị trường tại thời điểm vay vốn cũng như tính chất pháp lý của tài sản, trên cơ sở đó, các tổ chức tín dụng xác định đúng giá trị của tài sản bảo đảm nhằm cấp hạn mức tín dụng phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tránh được những rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Chính vì lẽ đó, việc thẩm định tài sản thế chấp đòi hỏi sự chặt chẽ, khách quan và tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại trường hợp một số các tổ chức tín dụng thực hiện việc thẩm định không rõ ràng, thẩm định sai tài sản, thẩm định không đầy đủ, điều này gây ra thiệt hại cho phía các ngân hàng khi có tranh chấp xảy ra, cũng như gây nguy cơ mất an toàn đối với hệ thống tín dụng.

Ví dụ chứng minh từ vụ án cụ thể do Tòa án nhân dân thị xã B thụ lý đối với vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng, bị đơn là ông Hoàng Q và bà Hoàng Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị B và anh Hoàng Văn V.

Nội dung vụ án như sau: Ông Q và bà H có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, cụ thể: Ngày 16/11/2018, ông Q và bà H ký với Ngân hàng hợp đồng tín dụng để vay tiền. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông Q, bà H. Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, ông Q và bà H đã thế chấp tài sản là 01 bất động sản của bên thứ ba là bà B, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại hợp đồng thế chấp mô tả có 02 ngôi nhà trên đất thế chấp, tuy nhiên Ngân hàng là bên nhận thế chấp không làm rõ 02 ngôi nhà này của ai, có đăng ký quyền sở hữu nhà ở hay không, diện tích bao nhiêu; những người sở hữu nhà ở không ký vào hợp đồng thế chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức xem xét thẩm định tại chỗ thì phát sinh sự việc 02 ngôi nhà này hiện có hai gia đình là con của bà C đang sinh sống; diện tích 02 ngôi nhà vượt ra ngoài diện tích đất thế chấp. Tòa án tiến hành lấy lời khai, xác minh thì con bà C khẳng định hai ngôi nhà này thuộc quyền sở hữu của họ, có trước khi thế chấp, tuy nhiên không cung cấp được quyền sở hữu về nhà ở cũng như các căn cứ khác để chứng minh nguồn gốc ngôi nhà của mình, cho rằng không ký vào hợp đồng thế chấp nên không có nghĩa vụ, không thỏa thuận trong việc xử lý tài sản thế chấp.

Từ nội dung vụ án, có thể thấy rằng, việc thẩm định tài sản thế chấp không rõ ràng, thiếu chặt chẽ, dẫn đến những vướng mắc, cụ thể:

- Khi thẩm định tài sản để ký kết hợp đồng thế chấp, Ngân hàng xác định có 02 ngôi nhà nhưng không làm rõ có đăng ký quyền sỡ hữu nhà ở hay thuộc quyền sử dụng của ai? Có đồng ý hay không để thế chấp cho Ngân hàng bảo đảm khoản vay?

Đối với tình huống này, theo quy định tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Án lệ số 11 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì khi giải quyết cần phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người bỏ tiền xây căn nhà, động viên khuyến khích các đương sự thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp, dành cho chủ sở hữu nhà được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng). Tuy nhiên, việc thi hành để xử lý tài sản thế chấp trên thực tế là khó thực thi, bởi vì các chủ sở hữu nhà hiện tại có thái độ chống đối, gây rối, không hợp tác.

- Khi xử lý tài sản thế chấp, phần diện tích 02 ngôi nhà vượt ra khỏi diện tích đất thế chấp phải xử lý như thế nào?

Đối với tình huống này, phần diện tích 02 ngôi nhà vượt ra khỏi diện đất thế chấp rất khó xử lý. Bỡi lẽ, căn nhà là một kết cấu liên hoàn, nếu tháo dỡ phần nhà trong diện tích đất đã thế chấp sẽ làm hư hỏng toàn bộ kết cấu của ngôi nhà, còn nếu định giá phần nhà vượt ra diện tích đất đã thế chấp để trả lại giá trị cho người sở hữu ngôi nhà thì Ngân hàng không đồng ý. Thực trạng này đang vướng mắc, chưa có văn bản hướng dẫn nói chung và ngành Tòa án đang chờ hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Thứ hai, về việc áp dụng nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm:

Việc xử lý tài sản bảo đảm là vấn đề không mong muốn, đặc biệt là đối với hoạt động vay của các ngân hàng thương mại, điều này có nghĩa là bên vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, cũng như các ngân hàng thương mại đứng trước rủi ro có thể không thu hồi được khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp bên vay không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, pháp luật quy định rõ về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tại Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị định số 21/2021/NĐ-CP), cụ thể như sau:

(i) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

(ii) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

(iii) Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.

(iv) Người xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác. Người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm.

(v) Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm.

(vi) Trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở.

Mặc dù, pháp luật đã quy định rõ về các nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm nhưng trên thực tế, một số ngân hàng vẫn chưa thực hiện đúng theo các nguyên tắc này. Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây: Ngân hàng tự bán tài sản bảo đảm để thu nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí; một số trường hợp thiếu sự hợp tác với ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm vì cho rằng, ngân hàng đã được ủy quyền và được toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản. Do đó, việc xử lý tài sản bảo đảm không được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.

Thứ ba, tài sản bảo đảm là tài sản chung của hộ gia đình:

Một vấn đề còn bất cập hiện nay đó là việc khách hàng vay vốn sử dụng tài sản chung của hộ gia đình để bảo đảm khoản vay, đáng lưu ý là các trường hợp liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất.

Theo quy định của pháp luật dân sự, tài sản chung của hộ gia đình là khối tài sản do các thành viên của hộ gia đình tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung. Đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình được dùng để bảo đảm khoản vay đã xuất hiện vướng mắc trong thực tế khi phía các tổ chức tín dụng chỉ quan tâm ai là người có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trong khi đó, phía công chứng viên khi công chứng hợp đồng thế chấp luôn yêu cầu các thành viên của hộ gia đình có tên trong hộ khẩu ký tên. Điều này dẫn đến việc khi có các thành viên nhập khẩu, không liên quan đến quá trình hình thành và tạo lập tài sản cũng tham gia vào ký kết hợp đồng thế chấp. Đây là điều bất hợp lý, dễ phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng, cũng như tranh chấp liên quan đến tài sản đang thế chấp của hộ gia đình. Mặt khác, điều này lại phát sinh thêm nhiều vấn đề liên quan phức tạp khi xử lý tài sản bảo đảm của các bên nhận thế chấp và cơ quan xử lý tranh chấp.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng tại tỉnh Quảng Bình, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, khắc phục những hạn chế trong xử lý tài sản bảo đảm:

Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể thấy rõ nguy cơ mất vốn hoặc không thu hồi được vốn vay là hiện hữu nếu không có cơ sở pháp lý vững chắc đối với việc vay có bảo đảm. Do đó, cần thực hiện các giải pháp sau đây nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tồn tại trong xử lý tài sản bảo đảm:

- Trong các quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm cần hướng dẫn rõ ràng, thống nhất các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm đối với các bên có liên quan để phù hợp với hình thức pháp lý của văn bản cũng như yêu cầu đặt ra.

- Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung trong phạm vi cả nước về biện pháp bảo đảm giúp các tổ chức tín dụng và các chủ thể liên quan truy cập, đăng ký nhanh và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tài sản bảo đảm. Thông tin khi được hệ thống hóa sẽ giúp các tổ chức tín dụng có thêm thông tin trong quá trình thẩm định tài sản, do đó sẽ giảm thiểu đến mức tối đa rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng[1].

Thứ hai, nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan có liên quan khác trong thực thi pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng:

- Đối với quy định về áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp về tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu: Cần đánh giá kỹ tính khả thi của quy định này, học tập kinh nghiệm của các nước trong việc tạo cơ chế xử lý nợ xấu tại Tòa án; đặc biệt là đồng bộ các cơ chế quy định về quản lý, đăng ký tài sản.

- Về cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định về xử lý nợ xấu: Cần nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đất, quyền sử dụng đất. Theo đó, công khai các thông tin về tình trạng đất, quyền sử dụng đất. Hệ thống này cần được liên thông toàn quốc, khi có biến động liên quan, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin để cơ quan được giao chủ trì quản lý cập nhật vào hệ thống này, đáp ứng yêu cầu công khai, tra cứu thông tin, phòng tránh rủi ro, tranh chấp và bảo đảm ổn định quan hệ sử dụng đất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Về xem xét thẩm định tại chỗ: Đây là hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng (Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15), hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 40 triệu đồng, đồng thời người có hành vi vi phạm có thể phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Như vậy, đến nay đã có cơ chế xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền nói chung và xử lý hành vi cản trở việc xem xét thẩm định tại chỗ nói riêng. Để khắc phục những vướng mắc trong việc xem xét thẩm định tại chỗ trong xét xử của Tòa án, cần có các cơ chế bảo đảm thi hành và đưa Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 sớm đi vào cuộc sống.

- Nâng cao năng lực của thẩm phán và cán bộ Tòa án, thường xuyên, định kỳ tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn xét xử các tranh chấp về hợp đồng tín dụng để trao đổi, rút kinh nghiệm cho Tòa án các cấp trong việc giải quyết loại vụ án này.

- Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan liên quan trong việc cung cấp thông tin đối với các vụ việc mà Tòa án giải quyết.

- Để nâng cao hiệu quả giải quyết của Tòa án, công tác xác minh, thẩm định của tổ chức tín dụng đối với tài sản bảo đảm cần được thực hiện chất lượng, hiệu quả hơn.

- Nâng cao hiệu quả của biện pháp tố tụng trong việc xử lý tài sản thế chấp.

Thứ ba, nhằm tạo thuận lợi và hiệu quả cho biện pháp khởi kiện để xử lý tài sản, hệ thống pháp luật dân sự và tố tụng dân sự cần khắc phục được những điểm bất cập, những nội dung tranh chấp chưa có định hướng giải quyết thống nhất trên thực tế, có thể xem xét theo hướng sau:

(i) Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể phương án tố tụng phù hợp để giải quyết đối với trường hợp bên thế chấp, bên có nghĩa vụ bảo đảm vắng mặt tại nơi cư trú (cá nhân), bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh (pháp nhân) hoặc cố tình chống đối, cản trở cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Ngay trong chính quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có điều luật có thể tham khảo làm phương hướng có thể khắc phục được tình trạng này, cụ thể tại Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về: “Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa” đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cho phép Tòa án ấn định lộ trình giải quyết vụ án với đầy đủ các yếu tố về thời gian, địa điểm thực hiện các biện pháp tố tụng. Thông báo này được tống đạt hợp lệ cho các đương sự và buộc các đương sự phải biết và tuân thủ yêu cầu của Tòa án. Do đó, Tòa án cũng có thể áp dụng biện pháp này để giải quyết các trường hợp đương sự không có mặt tại nơi cư trú hoặc cố tình chống đối triệu tập của Tòa án giúp giảm các thủ tục tống đạt, niêm yết, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án. Trường hợp các đương sự được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ trên hai lần mà vẫn vắng mặt, thì Tòa án có quyền xem xét xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

(ii) Nội dung giải quyết vụ án của Tòa án căn cứ trên yêu cầu của các bên đương sự, mặc dù vậy Tòa án vẫn có quyền tiến hành các biện pháp tố tụng nếu xét thấy cần thiết. Trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản thế chấp, Tòa án cần phải thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản một cách khoa học, có thể thuê đơn vị chuyên môn có chức năng phù hợp để xác định đúng hiện trạng tài sản tạo căn cứ giải quyết vụ việc một cách chính xác. Điều này bảo đảm việc phán quyết của Tòa án có thể được thi hành một cách nhanh chóng, thuận lợi, giúp bảo vệ những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các đương sự.

(iii) Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thống nhất đường lối giải quyết vụ án, nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với các vấn đề có liên quan đến thế chấp tài sản như: Xác định chủ sở hữu có quyền thế chấp tài sản; xác định phạm vi tài sản thế chấp, phạm vi bảo đảm của tài sản, xác định những cá nhân tổ chức có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp; xác định nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình đối với các giao dịch trên tài sản thế chấp[2]./.

ThS. Phan Thị Phương Huyền

Trường Cao đẳng Luật miền Trung

ThS. Phan Anh Đức

Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình


[1] https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/thuc-trang-xu-ly-tai-san-bao-dam-tien-vay-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-129327.html.

[2] Nguyễn Đức Lợi (2019), Thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật dân sự và thực tiễn thực hiện, Luận văn thạc sĩ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 90.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: