Thứ ba 13/01/2026 04:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luậ

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và văn bản về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, mà một trong những văn bản tạo ra bước ngoặt tạo chuyển biến căn bản trong giai đoạn hiện nay chính là Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và văn bản về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, mà một trong những văn bản tạo ra bước ngoặt tạo chuyển biến căn bản trong giai đoạn hiện nay chính là Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW). Qua đánh giá kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, có thể nhận định những thành tựu và tồn tại hạn chế của công tác này như sau:

1. Thành tựu đạt được và tồn tại, hạn chế

Từ khi có Chỉ thị số 32-CT/TW, nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được quan tâm, triển khai một cách sâu rộng, xác định rõ hơn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở. Với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và Chính phủ, với vai trò đầu mối là ngành tư pháp, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã có những chuyển biến rõ nét, mà điểm rõ nét nhất chính là các hệ thống chính trị đã vào cuộc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật rộng khắp các vùng miền, thường xuyên, liên tục trong đời sống xã hội; người dân dần có ý thức tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của cán bộ, người dân từng bước được nâng lên; tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Thành tựu đạt được trong triển khai thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, Thông báo số 74-TB/TW, Kết luận số 04-KL/TW gắn với việc tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật và Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật:

Thứ nhất, thể chế, chính sách về tổ chức và hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được hoàn thiện

Thể chế, chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cơ bản được hoàn thiện theo sát tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW và các thông báo, kết luận của Ban Bí thư, Bộ Chính trị về phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo cơ sở cho hệ thống pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật được hình thành thống nhất từ Luật đến nghị định, thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương, trong đó không thể thiếu là hệ thống Quy chế phối hợp giữa các cấp, các ngành về phổ biến, giáo dục pháp luật được ban hành - cơ sở pháp lý quan trọng để lãnh đạo các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị quan tâm, đầu tư nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật đã có điều kiện thuận lợi lớn về chủ trương, cơ sở pháp lý và nguồn lực cho các bộ, ngành, địa phương triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời, cũng là giải pháp để cụ thể hóa các quy định, trách nhiệm của các cấp, các ngành được quy định trong Chỉ thị 32-CT/TW và Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ hai, điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và ngân sách đã tăng lên và bảo đảm cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp

Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp và các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương đã được bổ sung, hoàn chỉnh về cơ cấu, thành phần đáp ứng khá tốt các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo yêu cầu của Chỉ thị số 32-CT/TW và các văn bản liên quan, qua khẳng định vị trí, vai trò tư vấn, tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoàn thành các nhiệm vụ được giao về hoàn thiện thể chế, chính sách, định hướng chủ đề, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cần chú trọng thực hiện.

Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được từng bước cải thiện, góp phần triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả trên toàn quốc. Các điều kiện bảo đảm triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và công tác xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã được quan tâm, chú trọng, góp phần gia tăng hiệu quả thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ ba, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được mở rộng, đổi mới và gắn kết với hoạt động sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của từng đối tượng, từng vùng miền

Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đã phù hợp hơn với đối tượng, địa bàn và lựa chọn các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng đi vào chiều sâu, đáp ứng một cách thực chất hơn nhu cầu thực tiễn của xã hội và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được đổi mới, sáng tạo phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội (như là công nghệ thông tin, mạng xã hội…); nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được áp dụng mang lại hiệu quả thiết thực[1], góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của công chức, người dân, doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật

Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật của công chức, người dân được tăng lên rõ rệt

Đây chính là kết quả nổi bật của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà nước ta trong hơn 74 năm xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và trong 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW: “Trình độ, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở nhiều cơ quan, tổ chức và địa phương được nâng lên một bước; các hành vi vi phạm pháp luật giảm dần”[2]; “ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân, ý thức về dân chủ trong xã hội được nâng lên”[3]. Về cơ bản, các vấn đề xã hội đã được pháp luật quy định đều được thực hiện nghiêm chỉnh. Bên cạnh việc tuân thủ pháp luật, người dân đã có ý thức tham gia vào hoạt động đấu tranh chống lại các hành vi tiêu cực, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn và phát triển xã hội. Những kết quả này đã góp phần vào thành tựu chung về phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định đất nước ngay cả trong giai đoạn hiện nay thế giới có nhiều bất ổn, được thế giới thừa nhận[4].

Thứ năm, thu hẹp khoảng cách nhận thức pháp luật của người dân giữa các vùng miền, tầng lớp

Cùng với sự nghiệp xây dựng cơ bản hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và phát triển thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện liên tục các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, các đối tượng có điều kiện khó khăn, đối tượng yếu thế… đã góp phần chuyển biến trong ý thức pháp luật của các đối tượng này. Nhiều hủ tục tồn tại trong nhiều đời trước đây đã được xóa bỏ (hoặc dần được xóa bỏ) để thay thế bằng những nét văn hóa văn minh, tiến bộ có tính phổ quát rộng lớn phù hợp với cộng đồng và được pháp luật thừa nhận, khuyến khích thực hiện. Thành tựu này đã đi đúng hướng chỉ đạo của trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng ta về xây dựng con người mới, tạo điều kiện phát triển toàn diện người Việt Nam trên khắp vùng miền của Tổ quốc.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kết quả tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW đã nhận diện ra những tồn tại, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của việc triển khai thực hiện Chỉ thị trong thời gian qua, trong đó có những vấn đề chủ yếu tuy đã có chuyển biến nhưng chưa thực sự khắc phục được như yêu cầu tại Kết luận số 04-KL/TW năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng như là: Nhận thức, chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đúng mức; cơ chế phối hợp trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chưa chặt chẽ, đặc biệt là vai trò chưa rõ nét của Hội đồng/thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp đối với cơ quan, địa phương mình công tác, phụ trách; chất lượng, hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đồng đều; việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân có nơi, có lúc chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính hình thức…

Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018 (The global Competitiveness Report 2018) được phát hành ngày 16/10/2018 của WEF[5] đã đánh giá chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (chỉ số B1) của Việt Nam được chấm đạt giá trị 3.1 trên thang điểm 1-7, tương ứng với điểm 34.6 trên thang điểm 0-100, đứng thứ 96/140 nước - Đây là điểm số và thứ hạng thấp nhất trong khu vực ASEAN, theo đó, Việt Nam đứng thứ 09 trong tổng số 09 nước ASEAN được WEF khảo sát về chỉ số B1. Trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, chỉ số B1 (năm 2018) nêu trên cho thấy nhận thức pháp luật của cả đội ngũ công chức và người dân/doanh nghiệp Việt Nam chưa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ số thành phần như là Chi phí rủi ro pháp lý (nếu có), Chi phí không chính thức… Từ đó có thể thấy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn khoảng cách khá xa so với tình hình thi hành pháp luật trên nhiều lĩnh vực. Điều này cho thấy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn chậm một bước so với sự phát triển của xã hội, cần được làm rõ nguyên nhân và có sách lược cho giai đoạn tiếp theo.

2. Bài học kinh nghiệm

2.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng nên cần phải sử dụng các công cụ phương tiện của Nhà nước và xã hội, với lực lượng nòng cốt là Ngành Tư pháp.

2.2. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, do đó, cần gắn kết, lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng, từ đó có các biện pháp tuyên truyền và phổ biến thực sự hiệu quả, phong phú, hiện đại sao cho đúng trọng tâm, trọng điểm, địa bàn, đối tượng gắn với giáo dục đào tạo cùng sự tham gia của thành phần với kế hoạch cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực như Tòa án, Kiểm sát, Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư, các đoàn thể chính trị - xã hội để nhân dân nhận thức rõ hơn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, phù hợp với lòng dân để ban hành chính sách, pháp luật.

2.3. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có tính chiến lược lâu dài, phải xem xét trong cả một giai đoạn và nhiều thế hệ. Cần có sách lược phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng thế hệ theo sự tiếp nối, ảnh hưởng liên tục giữa các thế hệ, đặc biệt là những thế hệ 30 - 40 tuổi và thế hệ thanh thiếu niên, như một lời ca “Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay”[6].

2.4. Phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với xu hướng vận động của xã hội, giải quyết những yêu cầu về nhận thức xã hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với yêu cầu thi hành pháp luật, xem đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật.

3. Một số yêu cầu đặt ra để đổi mới nội dung các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Sau hơn 30 năm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó với hơn 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, kinh tế - xã hội nước ta đã có những bước tiến vượt bậc, nhu cầu thông tin, công nghệ tiếp cận thông tin của người dân đã có những thay đổi lớn so với trước đây. Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW với 04 nội dung cơ bản về: (i) Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; (ii) Thực hiện đầy đủ các thể chế, chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật hiện hành; (iii) Đổi mới tổ chức, hoạt động của cơ quan, đơn vị tham mưu, thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; (iv) Triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật toàn diện, rộng khắp, hướng mạnh về cơ sở, gắn với việc xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW và Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các tác giả đề xuất một số nội dung yêu cầu đổi mới nội dung các hoạt động tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới để bảo đảm thực hiện tốt các văn bản trên như sau:

Thứ nhất, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo nguyên tắc “Nâng cao ý thức pháp luật thế hệ, tạo chuyển biến hành vi rõ rệt”:

- Đối với thế hệ, cần có chiến lược phổ biến, giáo dục pháp luật có tính định hướng tư tưởng tuân thủ pháp luật, các tấm gương pháp luật vừa xảy ra (thiết thực), những vấn đề đang nóng trong dư luận xã hội. “Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ”[7].

- Để khắc phục tính hình thức, đại trà nhưng kém hiệu quả, hằng năm, Chính phủ, các bộ, ngành chỉ nên đặt ra một số nội dung pháp luật cần phổ biến, nhất là những “vấn đề nóng” gắn với ý thức cộng đồng, vấn đề căn bản liên quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội; đánh giá rút kinh nghiệm để xác định có triển khai tiếp hay chuyển sang vấn đề mới. Nhận thức là một quá trình, như mưa dầm thấm lâu, không thể một sớm, một chiều hay chỉ qua một vài lần tuyên truyền, phổ biến. Do đó, chiều sâu của phổ biến, giáo dục pháp luật cần gắn với số lượng, tần suất tuyên truyền, phổ biến trong một thời gian cụ thể, tránh việc tuyên truyền cùng lúc nhiều vấn đề gây ra sự lãng quên, kém hiệu quả mà chi phí lại cao.

- Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không tràn lan, rộng khắp mà đi vào thực chất, hướng đến những đối tượng cần tìm hiểu, từ đó, cần xác định loại hình phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với những nhóm đối tượng cụ thể.

Thứ hai, gắn kết tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật và đánh giá kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật với hoạt động, kết quả thi hành pháp luật. Những hạn chế lớn có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội trong thi hành pháp luật của năm trước, nhiệm kỳ trước phải được chú ý sắp xếp trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của năm sau, nhiệm kỳ sau.

Từ đó, phạm vi, tần suất phổ biến, giáo dục pháp luật cũng khác nhau theo địa bàn, tầng lớp dân cư căn cứ theo kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật. Trên cơ sở đó, việc phân bổ ngân sách, kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo lĩnh vực tại địa bàn, tầng lớp dân cư cần phải là căn cứ quan trọng được ưu tiên.

Thứ ba, thực hiện nội dung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời với việc phát triển Cổng thông tin điện tử độc lập về phổ biến, giáo dục pháp luật, cần chú trọng phát triển các trang thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật ngoài nhà nước để đăng tải đầy đủ, kịp thời các nội dung thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Trong đó, giải quyết tốt hơn việc tiếp cận thông tin pháp luật chính thống thường ít hơn thông tin của tổ chức, cá nhân khác khi người dân có nhu cầu tìm hiểu thông tin.

Thứ tư, bên cạnh hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước, cần mở rộng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm đầy đủ quyền được thông tin của người Việt Nam ở nước ngoài và bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới.

Thứ năm, tăng cường xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, yêu cầu nâng cao hơn nữa vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với nghề luật đối với các chức danh luật sư, trợ giúp viên pháp lý, báo cáo viên pháp luật, hòa giải viên… trong quá trình hành nghề cũng như tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật tự nguyện. Nâng cao trách nhiệm nêu gương tuân thủ pháp luật của cán bộ, công chức, đảng viên trong xã hội cũng là một trong những yêu cầu cơ bản được Đảng và Nhà nước ta đề ra và cần được quán triệt thực hiện tốt hơn trong thời gian tới./.

ThS. Đồng Ngọc Dám

Học viện Chính trị khu vực I


[1] Như tuyên truyền, PBGDPL trực tiếp; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở; thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật; hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường; trợ giúp pháp lý; sinh hoạt câu lạc bộ; hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, mô hình tự quản, ra quân diễu hành, hòm thư tố giác tội phạm… Trong đó, nổi bật là một số hình thức: Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng, ứng dụng công nghệ thông tin trong PBGDPL; Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; PBGDPL thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; PBGDPL thông qua câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở; PBGDPL thông qua hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường; đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù…

[2] Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.

[3] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tr. 103.

[4] Theo Báo cáo toàn cầu HSBC's Expat 2019 do Ngân hàng HSBC công bố, Việt Nam trở thành 1 trong 10 điểm đến tốt nhất cho người nước ngoài sống và làm việc (nguồn: http://cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-thoi-su/ Viet-Nam-lot-top-10-quoc-gia-dang-song-va-lam-viec-nhat-the-gioi-551986/, ngày 05/07/2019); Tạp chí US News & World Report vừa xếp hạng Việt Nam đứng thứ 8 trong số 20 quốc gia top đầu có nền kinh tế tốt nhất để đầu tư (nguồn: http://ubkttw.vn/tin-tuc-thoi-su/-/asset_publisher/bHGXXiPdpxRC/content/ hop-bao-chinh-phu-thuong-ky-thang-9-2019, ngày 02/10/2019).

[5] World Economic Forum (2018), “The Global Competitiveness Report 2018”, nguồn: https://www.weforum.org/reports/the-global-competitveness-report-2018, trang 119, 135, 283, 335, 371, 463, 511, 555, 599.

[6] Trích lời trong Bài hát “Hát về cây lúa hôm nay” của nhạc sĩ Hoàng Vân.

[7] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tr. 98-99.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: