Thứ ba 08/09/2026 17:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở trong thực tiễn ở nước ta hiện nay

Khoản 1 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra sở là cơ quan của sở, giúp giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo quy định của pháp luật”.


Thực tế ở nước ta hiện nay, hầu như các sở đều thành lập thanh tra sở. Ngày 14/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Nghị định số 107/2020/Đ-CP), trong đó, khoản 3 Điều 1 quy định : “Cơ cấu tổ chức của sở, gồm: a) Phòng chuyên môn, nghiệp vụ; b) Thanh tra (nếu có);c) Văn phòng (nếu có); d) Chi cục và tổ chức tương đương (nếu có); đ) Đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có)”. Từ quy định trên có thể nhận thấy, cơ cấu tổ chức của sở có thể có thanh tra sở hoặc có thể không. Điều này cơ bản tương thích với quy định trước đây tại Điều 5 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: “Không nhất thiết các sở đều có các tổ chức quy định tại khoản 2, 4 và 5 của Điều này…” (trong đó khoản 2 Điều 5 quy định về thanh tra sở). Bên cạnh đó, Nghị định số 107/2020/NĐ-CP không quy định về tiêu chí để thành lập thanh tra sở.

Trong xu hướng chung hiện nay, để thành lập một phòng thuộc sở thì khối lượng công việc yêu cầu phải bố trí tối thiểu 07 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; tối thiểu 06 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại I; tối thiểu 05 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại II và loại III. Trong khi đó, số lượng biên chế công chức được bố trí tại các sở chỉ trong phạm vi định mức cho phép. Phần lớn số lượng biên chế công chức này được bố trí để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ tại các sở. Do đó, việc bố trí từ 05 đến 07 biên chế công chức để thành lập thanh tra sở trong bối cảnh hiện nay trên thực tế là rất khó khăn.

Về hoạt động của thanh tra sở, theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 thì thanh tra sở có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Tại khoản 3 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra sở chịu sự chỉ đạo, điều hành của giám đốc sở; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của thanh tra tỉnh, về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của thanh tra bộ”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra sở được quy định tại Điều 24 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 13 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra (Nghị định số 86/2011/Đ-CP).

Như vậy, có thể nhận thấy, hoạt động của thanh tra sở chỉ được thực hiện trong một phạm vi rất hẹp. Hoạt động thanh tra được tiến hành đối với ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở, do giám đốc sở trực tiếp chỉ đạo và điều hành. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về thanh tra thì những hoạt động thanh tra này đã thuộc phạm vi hoạt động của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh, cụ thể, tại khoản 1 Điều 17 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra bộ là cơ quan của bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra bộ được quy định tại Điều 18 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 7 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP.

Tại khoản 1 Điều 20 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra tỉnh được quy định tại Điều 21 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 10 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP. Có thể nhận thấy, trong nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh đã bao hàm trong đó các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của thanh tra sở. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở như hiện nay chỉ mang tính chất cụ thể hơn và trong một phạm vi hẹp, gắn với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của một sở cụ thể. Điều đó cho thấy, việc thành lập thanh tra sở để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như thực tiễn hiện nay ở nước ta là không cần thiết.

Đối với chánh thanh tra sở: Nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở được quy định cụ thể tại Điều 25 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 14 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP, theo đó, chánh thanh tra sở có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trong phạm vi quản lý của sở, xử lý theo thẩm quyền, đồng thời, có quyền quyết định việc thanh tra theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động của chánh thanh tra sở luôn phải tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành của giám đốc sở, chịu trách nhiệm trước giám đốc sở nên thẩm quyền chủ yếu của chánh thanh tra sở cũng chỉ dừng ở việc kiến nghị để giám đốc sở giải quyết, xử lý. Do vậy, có thể nói, hoạt động của chánh thanh tra sở cũng như hoạt động của thanh tra sở chỉ được thực hiện trong một phạm vi hẹp và thiếu tính chủ động, độc lập. Điều đặc biệt quan trọng trong thẩm quyền của chánh thanh tra sở là thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đây là điểm khác biệt và mang tính độc lập lớn trong thẩm quyền của chánh thanh tra sở. Tuy nhiên, việc quy định chánh thanh tra sở có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các ngành, lĩnh vực như hiện nay đang dẫn đến tình trạng có quá nhiều người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thiếu tính tập trung, thống nhất trong việc xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời, gây ra tình trạng chồng chéo trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với các ngành, lĩnh vực ở nước ta hiện nay.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy, tác giả đưa ra cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về thanh tra sở theo hướng sau:

Thứ nhất, thực hiện thống nhất, đồng bộ không thành lập cơ quan thanh tra sở trong phạm vi cả nước.

Theo phương án này, các sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra tại các sở như hiện nay mà chỉ tập trung cho chức năng, nhiệm vụ chính là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc thực hiện không thành lập thanh tra sở sẽ làm cho các sở tinh gọn hơn, chức năng, nhiệm vụ chuyên trách hơn, phản ánh rõ nét hơn vai trò, vị trí của một cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bên cạnh đó, các sở không phải phân bổ số lượng biên chế công chức được bố trí cho nhiệm vụ thanh tra mà dành số lượng biên chế này để phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ. Như vậy, khối lượng công tác chuyên môn, nghiệp vụ tại các sở sẽ được phân công, bố trí khoa học và hợp lý hơn, đảm bảo chất lượng và hiệu quả hơn.

Thứ hai, bãi bỏ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở như hiện nay, đồng thời, bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh theo hướng thống nhất, tập trung và chuyên trách.

Theo đó, thanh tra bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, đồng thời, tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước. Thanh tra tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi quản lý nhà nước toàn tỉnh. Như vậy, công tác thanh tra được thực hiện tập trung, thống nhất, tinh gọn, chuyên trách từ trung ương đến địa phương.

Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành.

Trong trường hợp không thành lập thanh tra sở thì một trong những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành (thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch và thanh tra chuyên ngành đột xuất). Điều này gắn liền với vai trò và vị trí của giám đốc sở. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành theo hướng quy định cụ thể, hợp lý và chặt chẽ về thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành của giám đốc sở, nội dung và công bố quyết định thanh tra, thời hạn thanh tra chuyên ngành…

Thứ tư, bãi bỏ các quy định pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với chánh thanh tra sở, đồng thời, bổ sung các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho một số chức danh khác trong hoạt động thanh tra.

Theo quy định pháp luật hiện hành, chánh thanh tra sở có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở. Tuy nhiên, các chức danh khác như chánh thanh tra, thanh tra viên thuộc thanh tra cấp tỉnh; chánh thanh tra, thanh tra viên thuộc thanh tra cấp huyện không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp thực hiện không thành lập thanh tra sở thì cần bổ sung nhiệm vụ xử phạt vi phạm hành chính cho các chức danh này, đồng thời, quy định rộng hơn đối với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chánh thanh tra bộ. Theo hướng đó, công tác xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan thanh tra nói riêng và công tác thanh tra nói chung sẽ được thực hiện tập trung, thống nhất hơn, cụ thể, đầy đủ và toàn diện hơn.

Thứ năm, cần củng cố tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh.

Trong trường hợp không thành lập thanh tra sở thì nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh sẽ được nâng cao và mở rộng. Do đó, cần có các biện pháp nhằm củng cố tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh. Theo đó, cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy thanh tra bộ và thanh tra tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh đảm bảo về tiêu chuẩn và năng lực, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, lối sống… Đồng thời, cần tăng cường công tác đào tạo và các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh, có chính sách đãi ngộ và quan tâm đến đội ngũ công chức này để giúp họ yên tâm công tác, giữ được các công chức giỏi và giảm nguy cơ xảy ra các hành vi tham nhũng, tiêu cực...

Có thể nói, việc không thành lập thanh tra sở là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay. Đây cũng chính là một trong những giải pháp nhằm tinh gọn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bộ máy hành chính nhà nước, đặc biệt là các sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thực hiện việc không thành lập thanh tra sở, đồng thời, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động bộ máy thanh tra hiện nay, nhất là thanh tra bộ và thanh tra tỉnh sẽ góp phần làm cho hoạt động thanh tra tập trung, thống nhất, phát huy được sức mạnh một cách toàn diện từ trung ương đến địa phương./.

TS. Nguyễn Tuấn An
Sở Tư pháp Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: