Thứ bảy 14/03/2026 09:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tổ chức và hoạt động của thanh tra sở trong thực tiễn ở nước ta hiện nay

Khoản 1 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra sở là cơ quan của sở, giúp giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo quy định của pháp luật”.


Thực tế ở nước ta hiện nay, hầu như các sở đều thành lập thanh tra sở. Ngày 14/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Nghị định số 107/2020/Đ-CP), trong đó, khoản 3 Điều 1 quy định : “Cơ cấu tổ chức của sở, gồm: a) Phòng chuyên môn, nghiệp vụ; b) Thanh tra (nếu có);c) Văn phòng (nếu có); d) Chi cục và tổ chức tương đương (nếu có); đ) Đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có)”. Từ quy định trên có thể nhận thấy, cơ cấu tổ chức của sở có thể có thanh tra sở hoặc có thể không. Điều này cơ bản tương thích với quy định trước đây tại Điều 5 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: “Không nhất thiết các sở đều có các tổ chức quy định tại khoản 2, 4 và 5 của Điều này…” (trong đó khoản 2 Điều 5 quy định về thanh tra sở). Bên cạnh đó, Nghị định số 107/2020/NĐ-CP không quy định về tiêu chí để thành lập thanh tra sở.

Trong xu hướng chung hiện nay, để thành lập một phòng thuộc sở thì khối lượng công việc yêu cầu phải bố trí tối thiểu 07 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; tối thiểu 06 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại I; tối thiểu 05 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại II và loại III. Trong khi đó, số lượng biên chế công chức được bố trí tại các sở chỉ trong phạm vi định mức cho phép. Phần lớn số lượng biên chế công chức này được bố trí để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ tại các sở. Do đó, việc bố trí từ 05 đến 07 biên chế công chức để thành lập thanh tra sở trong bối cảnh hiện nay trên thực tế là rất khó khăn.

Về hoạt động của thanh tra sở, theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 thì thanh tra sở có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Tại khoản 3 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra sở chịu sự chỉ đạo, điều hành của giám đốc sở; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của thanh tra tỉnh, về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của thanh tra bộ”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra sở được quy định tại Điều 24 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 13 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra (Nghị định số 86/2011/Đ-CP).

Như vậy, có thể nhận thấy, hoạt động của thanh tra sở chỉ được thực hiện trong một phạm vi rất hẹp. Hoạt động thanh tra được tiến hành đối với ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở, do giám đốc sở trực tiếp chỉ đạo và điều hành. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về thanh tra thì những hoạt động thanh tra này đã thuộc phạm vi hoạt động của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh, cụ thể, tại khoản 1 Điều 17 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra bộ là cơ quan của bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra bộ được quy định tại Điều 18 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 7 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP.

Tại khoản 1 Điều 20 Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của thanh tra tỉnh được quy định tại Điều 21 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 10 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP. Có thể nhận thấy, trong nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh đã bao hàm trong đó các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của thanh tra sở. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở như hiện nay chỉ mang tính chất cụ thể hơn và trong một phạm vi hẹp, gắn với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của một sở cụ thể. Điều đó cho thấy, việc thành lập thanh tra sở để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như thực tiễn hiện nay ở nước ta là không cần thiết.

Đối với chánh thanh tra sở: Nhiệm vụ, quyền hạn của chánh thanh tra sở được quy định cụ thể tại Điều 25 Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 14 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP, theo đó, chánh thanh tra sở có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trong phạm vi quản lý của sở, xử lý theo thẩm quyền, đồng thời, có quyền quyết định việc thanh tra theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động của chánh thanh tra sở luôn phải tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành của giám đốc sở, chịu trách nhiệm trước giám đốc sở nên thẩm quyền chủ yếu của chánh thanh tra sở cũng chỉ dừng ở việc kiến nghị để giám đốc sở giải quyết, xử lý. Do vậy, có thể nói, hoạt động của chánh thanh tra sở cũng như hoạt động của thanh tra sở chỉ được thực hiện trong một phạm vi hẹp và thiếu tính chủ động, độc lập. Điều đặc biệt quan trọng trong thẩm quyền của chánh thanh tra sở là thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đây là điểm khác biệt và mang tính độc lập lớn trong thẩm quyền của chánh thanh tra sở. Tuy nhiên, việc quy định chánh thanh tra sở có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các ngành, lĩnh vực như hiện nay đang dẫn đến tình trạng có quá nhiều người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thiếu tính tập trung, thống nhất trong việc xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời, gây ra tình trạng chồng chéo trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với các ngành, lĩnh vực ở nước ta hiện nay.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy, tác giả đưa ra cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về thanh tra sở theo hướng sau:

Thứ nhất, thực hiện thống nhất, đồng bộ không thành lập cơ quan thanh tra sở trong phạm vi cả nước.

Theo phương án này, các sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra tại các sở như hiện nay mà chỉ tập trung cho chức năng, nhiệm vụ chính là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc thực hiện không thành lập thanh tra sở sẽ làm cho các sở tinh gọn hơn, chức năng, nhiệm vụ chuyên trách hơn, phản ánh rõ nét hơn vai trò, vị trí của một cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bên cạnh đó, các sở không phải phân bổ số lượng biên chế công chức được bố trí cho nhiệm vụ thanh tra mà dành số lượng biên chế này để phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ. Như vậy, khối lượng công tác chuyên môn, nghiệp vụ tại các sở sẽ được phân công, bố trí khoa học và hợp lý hơn, đảm bảo chất lượng và hiệu quả hơn.

Thứ hai, bãi bỏ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra sở như hiện nay, đồng thời, bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh theo hướng thống nhất, tập trung và chuyên trách.

Theo đó, thanh tra bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, đồng thời, tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước. Thanh tra tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi quản lý nhà nước toàn tỉnh. Như vậy, công tác thanh tra được thực hiện tập trung, thống nhất, tinh gọn, chuyên trách từ trung ương đến địa phương.

Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành.

Trong trường hợp không thành lập thanh tra sở thì một trong những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành (thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch và thanh tra chuyên ngành đột xuất). Điều này gắn liền với vai trò và vị trí của giám đốc sở. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành theo hướng quy định cụ thể, hợp lý và chặt chẽ về thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành của giám đốc sở, nội dung và công bố quyết định thanh tra, thời hạn thanh tra chuyên ngành…

Thứ tư, bãi bỏ các quy định pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với chánh thanh tra sở, đồng thời, bổ sung các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho một số chức danh khác trong hoạt động thanh tra.

Theo quy định pháp luật hiện hành, chánh thanh tra sở có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở. Tuy nhiên, các chức danh khác như chánh thanh tra, thanh tra viên thuộc thanh tra cấp tỉnh; chánh thanh tra, thanh tra viên thuộc thanh tra cấp huyện không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp thực hiện không thành lập thanh tra sở thì cần bổ sung nhiệm vụ xử phạt vi phạm hành chính cho các chức danh này, đồng thời, quy định rộng hơn đối với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chánh thanh tra bộ. Theo hướng đó, công tác xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan thanh tra nói riêng và công tác thanh tra nói chung sẽ được thực hiện tập trung, thống nhất hơn, cụ thể, đầy đủ và toàn diện hơn.

Thứ năm, cần củng cố tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh.

Trong trường hợp không thành lập thanh tra sở thì nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra bộ và thanh tra tỉnh sẽ được nâng cao và mở rộng. Do đó, cần có các biện pháp nhằm củng cố tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh. Theo đó, cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy thanh tra bộ và thanh tra tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh đảm bảo về tiêu chuẩn và năng lực, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, lối sống… Đồng thời, cần tăng cường công tác đào tạo và các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức thanh tra bộ và thanh tra tỉnh, có chính sách đãi ngộ và quan tâm đến đội ngũ công chức này để giúp họ yên tâm công tác, giữ được các công chức giỏi và giảm nguy cơ xảy ra các hành vi tham nhũng, tiêu cực...

Có thể nói, việc không thành lập thanh tra sở là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay. Đây cũng chính là một trong những giải pháp nhằm tinh gọn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bộ máy hành chính nhà nước, đặc biệt là các sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thực hiện việc không thành lập thanh tra sở, đồng thời, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động bộ máy thanh tra hiện nay, nhất là thanh tra bộ và thanh tra tỉnh sẽ góp phần làm cho hoạt động thanh tra tập trung, thống nhất, phát huy được sức mạnh một cách toàn diện từ trung ương đến địa phương./.

TS. Nguyễn Tuấn An
Sở Tư pháp Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: