Thứ hai 17/08/2026 08:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của các hiệp định song phương tương trợ tư pháp về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam

Để tạo cơ sở pháp lý ổn định cho việc điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ về hôn nhân, gia đình, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng thì việc ký kết các hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về tương trợ tư pháp (TTTP) trong lĩnh vực dân sự có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định/thỏa thuận TTTP về dân sự[1] (hiệp định TTTP) với các nước trên thế giới, đây là các văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các quyền nhân thân và tài sản của công dân của các bên ký kết nói chung và công dân Việt Nam ở nước ngoài nói riêng. Bên cạnh đó, kể từ ngày 01/10/2016, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, trong đó, có khoảng 70 nước là thành viên của Công ước này. Điều đó cho thấy, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh cần có sự tương trợ tư pháp quốc tế ngày càng được mở rộng và gia tăng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ giới thiệu về vai trò của các hiệp định song phương TTTP về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam.

1. Tổng quan và vai trò của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước

Về cơ bản, các hiệp định TTTP về dân sự có nội dung các quy định tương đối giống nhau, điều chỉnh hai mảng quan hệ, đó là TTTP giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và các quy tắc chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột luật cũng như quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình và hình sự. Tuy nhiên, các hiệp định được ký kết trong khoảng thời gian khác nhau nên bối cảnh quốc tế cũng khác nhau và có những thay đổi cơ bản.

Sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992, Việt Nam tiếp tục ký kết hiệp định TTTP với các nước Ba Lan, Lào, Trung Quốc, Nga, Pháp, Ukraina, Belarus và Mông Cổ. Một số hiệp định được ký kết trong giai đoạn này bắt đầu có những thay đổi lớn về phạm vi điều chỉnh như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc chỉ điều chỉnh các vấn đề TTTP giữa các cơ quan tư pháp hai nước và thống nhất các quy tắc xác định thẩm quyền xét xử mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột; Hiệp định TTTP với Pháp chỉ điều chỉnh các vấn đề dân sự[2].

Kể từ khi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được ban hành, Việt Nam đã ký kết hiệp định TTTP với An-giê-ri, Cam-pu-chia, Ca-dắc-xtan và Đài Loan. Phạm vi tương trợ quy định tại các hiệp định TTTP này đã thay đổi so với các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết trước đó, theo đó, hiệp định chỉ điều chỉnh vấn đề về dân sự mà không bao gồm hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Bên cạnh đó, các hiệp định TTTP này chỉ quy định trình tự thủ tục tương trợ tư pháp về dân sự và vấn đề về công nhận và cho hành bản án của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Một số nội dung cơ bản của các hiệp định TTTP[3] cụ thể như sau:

- Các hiệp định TTTP đều có các quy định chung hay điều khoản chung, quy định về sự bảo hộ pháp lý, cơ quan thực hiện và cơ quan đầu mối thực hiện TTTP, cách thức liên hệ, phạm vi các vấn đề tương trợ, nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, việc thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP), triệu tập người làm chứng hoặc người giám định, cách thức tống đạt giấy tờ, từ chối tương trợ và chi phí liên quan đến việc thực hiện tương trợ.

- Về nguyên tắc, mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện TTTP phát sinh trên lãnh thổ nước mình. Một số hiệp định có quy định bên được yêu cầu sẽ thanh toán chi phí bất thường hoặc chi phí thủ tục tố tụng đặc biệt khác.

- Về chế độ bảo hộ pháp lý, công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ pháp lý đối với các quyền nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia. Quy định này nhằm bảo hộ công dân của mỗi bên ký kết.

- Các cơ quan thực hiện TTTP là các Tòa án và các cơ quan tư pháp khác có thẩm quyền về các vấn đề đề về dân sự. Cơ quan đầu mối về dân sự, hôn nhân, gia đình, lao động, kinh tế, thương mại ở Việt Nam là Bộ Tư pháp Việt Nam. Một số hiệp định quy định, trong quá trình thực hiện, các cơ quan tư pháp có thể liên hệ trực tiếp với nhau.

- Về nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, các hiệp định đều quy định phải ghi rõ và cụ thể của người được yêu cầu và nội dung cần ủy thác.

- Khi thực hiện yêu cầu TTTP, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình.

- Đối với người làm chứng hoặc người giám định, nếu được triệu tập thì họ được hưởng sự bảo đảm an toàn cá nhân và được hưởng một khoản tiền chi phí liên quan đến tố tụng.

- Các đồ vật và tiền được chuyển giao từ lãnh thổ bên ký kết này sang lãnh thổ bên ký kết kia, cũng như cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của bên ký kết kia, theo pháp luật của bên ký kết nơi có cơ quan thực hiện việc chuyển giao.

- Yêu cầu về TTTP có thể bị từ chối, nếu việc thực hiện yêu cầu TTTP có thể gây phương hại đến chủ quyền, an ninh hoặc những lợi ích quan trọng khác, cũng như trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hoặc các cam kết quốc tế của bên ký kết được yêu cầu.

Như đã nêu ở trên, hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về TTTP trong lĩnh vực dân sự là văn bản pháp lý quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong hợp tác với nước ngoài về pháp luật nói riêng. Xem xét tổng quan 17 hiệp định TTTP với Việt Nam, có thể nhận thấy, vai trò của hiệp định này trong lĩnh vực TTTP về dân sự được thể hiện như sau:

- Các hiệp định TTTP là cơ sở pháp lý để các quốc gia tiến hành một cách nhanh chóng, tập trung qua đầu mối tương trợ tư pháp và có hiệu quả.

- Trình tự, thủ tục TTTP được quy định rất chặt chẽ, cụ thể trong các hiệp TTTP. Đây là cơ sở để các cơ quan tư pháp của các bên ký kết hiệp định tiến hành các hoạt động TTTP theo quy trình thống nhất. Hiệp định TTTP đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia ký kết yêu cầu các cơ quan tư pháp của mình thực hiện nghiêm chỉnh các thủ tục, trình tự tương trợ quy định trong hiệp định.

- Các hiệp định đều xác định rõ các cơ quan trung ương đầu mối. Việc quy định các quan trung ương đầu mối này sẽ giúp cho việc TTTP được thực hiện một cách tập trung, có thống kê, giám sát, rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện các hiệp định[4].

2. Thực tiễn thực thi tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết

Thực tiễn thi hành các hiệp định TTTP cho thấy, giữa Việt Nam và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ (như Tiệp Khắc, Cu Ba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Mông Cổ, Ba Lan, Triều Tiên, Lào...) hầu như không phát sinh yêu cầu TTTP về dân sự; một số hiệp định mới có hiệu lực sau khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì cũng chưa có yêu cầu UTTP (như hiệp định với An-giê-ri). Tuy nhiên, việc thực thi của một số hiệp định với các nước có nhiều quan hệ dân sự, thương mại đã thực sự phát huy hiệu quả như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc, Pháp; thỏa thuận TTTP với Đài Loan. Cụ thể, để thực hiện thỏa thuận TTTP với Đài Loan, hai bên đều đề xuất cơ quan trung ương (Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Pháp vụ lãnh thổ Đài Loan) và cử cán bộ đầu mối để trao đổi về những vấn đề đột xuất phát sinh trong quá trình thực hiện các hồ sơ. Đồng thời, hai cơ quan trung ương cũng tổ chức định kỳ hội nghị thường niên luân phiên tại Hà Nội và Đài Bắc. Từ khi thỏa thuận có hiệu lực, hai bên đã tổ chức 06 hội nghị thường niên trao đổi trực tiếp về những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết các hồ sơ UTTP, qua đó, đề xuất những giải pháp để tháo gỡ những khó khăn. Các cơ chế phối hợp đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các yêu cầu UTTP của hai bên đạt kết quả khả quan, đạt từ 65% đến 80% (so với 0% trước khi thỏa thuận được ký), năm sau cao hơn so với năm trước. Đồng thời, để hỗ trợ cho các cơ quan của Việt Nam thực hiện nghiêm túc thỏa thuận, Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao tổ chức các lớp tập huấn về thỏa thuận cho các cán bộ trực tiếp làm công tác UTTP ở một số tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều hoạt động UTTP với lãnh thổ Đài Loan[5].

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng đã bắt đầu thực hiện việc rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các hiệp định TTTP đã ký kết và có hiệu lực đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Tòa án cấp tỉnh, thành phố rà soát đánh giá tình hình thực hiện 03 hiệp định TTTP (với Hungary, Pháp, Trung Quốc) để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoặc để đề xuất sửa đổi, bổ sung hay đàm phán mới các hiệp định nhằm hoàn thiện và hiện đại hóa cơ chế hợp tác về TTTP giữa hai bên.

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, phạm vi TTTP về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm: (i) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến TTTP về dân sự; (ii) Triệu tập người làm chứng, người giám định; (iii) Thu thập, cung cấp chứng cứ; (iv) Các yêu cầu TTTP khác về dân sự. Tuy nhiên, một số hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết trong những năm gần đây có bổ sung quy định phạm vi TTTP bao gồm: Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài. Do thực tiễn thực hiện TTTP về dân sự chủ yếu tập trung vào việc tống đạt giấy tờ và thu thập chứng cứ nên bài viết này chỉ đề cập đến nội dung thực hiện UTTP về dân sự. Việc UTTP về dân sự gồm hai yêu cầu chính sau:

2.1. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài gửi các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện

Trong số các UTTP quốc tế về dân sự mà phía nước ngoài yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện thì đa số tập trung các yêu cầu về tống đạt giấy tờ liên quan chủ yếu đến tống đạt giấy tờ, tài liệu trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn, yêu cầu về quyền nuôi con sau khi ly hôn, các vụ việc thương mại và lao động, chiếm khoảng 90% trên tổng số hồ sơ UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện.

Báo cáo hàng năm của Chính phủ trình Quốc hội về công tác TTTP cho thấy, kết quả tống đạt mà các cơ quan thẩm quyền của Việt Nam thực hiện cho phía nước ngoài còn hạn chế, trung bình đạt khoảng trên 50%. Mặc dù, các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết có quy định về cách thức liên hệ, tham vấn trực tiếp hoặc một số hiệp định đã ký kết trong thời gian gần đây bổ sung quy định về việc định kỳ rà soát hiệp định hoặc tổ chức họp thường niên nhưng tất cả công việc này chưa được thực hiện thường xuyên do yếu tố khách quan và chủ quan. Đối với Đài Loan, tỷ lệ hồ sơ do hai bên thực hiện có kết quả cao nhất trong số 17 nước đã ký kết hiệp định TTTP, tuy nhiên, kết quả mà Việt Nam thực hiện cho nước bạn vẫn thấp hơn so với kết quả phía Đài Loan thực hiện. Điều này phản ánh một thực tế là các Tòa án Việt Nam chưa thực sự nghiêm túc trong việc thực hiện yêu cầu UTTP của phía nước ngoài. Nguyên nhân có thể là các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam chưa phối hợp tích cực để sát sao, đôn đốc và nhắc nhở các Tòa án địa phương nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, cũng có một số vướng mắc trong quá trình thực hiện hồ sơ UTTP của phía nước ngoài như: Địa chỉ sai, không có bản dịch tiếng Việt...

Kết quả UTTP năm 2016 của một số nước như sau[6]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài): Dân sự (4%), hôn nhân, gia đình (92,3%), kinh doanh, thương mại (3,6%), thi hành án (0%) và các vấn đề khác (0%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện: Lãnh thổ Đài Loan (165/325); Cộng hòa Pháp (16/36); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (61/133); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

2.2. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam gửi các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện

Các yêu cầu thực hiện UTTP của Việt Nam đề nghị cơ quan thẩm quyền nước ngoài thực hiện tập trung nhiều vào hồ sơ ủy thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự trong vụ án ly hôn, khoảng 80% trên tổng số hồ sơ yêu cầu mà Việt Nam gửi ra nước ngoài. Đồng thời, các yêu cầu liên quan đến việc lấy lời khai đương sự đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện dân sự như: Thừa kế, chia tài sản, tranh chấp đất đai, đòi bồi thường thiệt hại, đơn phương chấm dứt hợp đồng, thay đổi họ tên, yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con… cũng có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, việc thực hiện các UTTP do Tòa án Việt Nam yêu cầu phía nước ngoài ngoài tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự đang ở nước ngoài, công dân nước ngoài là đương sự trong các vụ kiện dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình đang được các Tòa án trong nước thụ lý giải quyết còn chậm. Nhiều trường hợp phía nước ngoài không trả lời hoặc thời gian thực hiện khá dài, ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng trong nước. Đài Loan vẫn là nước thực hiện hồ sơ UTTP có kết quả cao nhất, các trường hợp không thực hiện được, phía Đài Loan luôn trao đổi cụ thể qua hộp thư điện tử (email) để xử lý kịp thời. Số liệu dưới đây là những nước mà Việt Nam có nhiều yêu cầu ủy thác gửi nước ngoài và có kết quả. Số liệu kết quả UTTP năm 2016 của một số nước cụ thể như sau[7]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài), cụ thể như sau: Dân sự (36,1%), hôn nhân, gia đình (57,8%), kinh doanh, thương mại (3,74%), thi hành án (2,05%) và các vấn đề khác (0,24%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện, lãnh thổ Đài Loan (329/491); Cộng hòa Pháp (3/56); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (7/20); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

3. Kết luận

Trong bối cảnh Việt Nam từng bước phát triển mạnh mẽ về hội nhập quốc tế và khu vực, việc tiếp tục nâng cao nhận thức và vai trò trong công tác TTTP là hết sức cần thiết. Để thực hiện nhiệm vụ đó, các bên ký kết nói chung và Việt Nam nói riêng cần:

- Thực thi nghiêm túc, có hiệu quả các hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt là hoạt động về tống đạt giấy tờ; chủ động nghiên cứu gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP, tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho yêu cầu giải quyết các vụ việc trong nước.

- Tăng cường trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các UTTP với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp.

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, đôn đốc tình hình thực hiện UTTP ở cả trong nước và ngoài nước.

- Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTTP trong đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật để nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới.

- Tăng cường nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về TTTP, trọng tâm là với các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước có quan hệ truyền thống, các nước láng giềng, các nước có đông người Việt Nam sinh sống, các nước có quan hệ hợp tác kinh tế - đầu tư phát triển với nước ta; sửa đổi các hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký trước những năm 2000 cho phù hợp với pháp luật và tình hình hợp tác hiện nay; tăng cường thực thi các điều ước quốc tế về TTTP đã có hiệu lực.

ThS. Đinh Quỳnh Nga

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: http://vbpl.vn/Pages/danh-sach-dieu-uoc.aspx?.
[2]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Lời giới thiệu, tr. 11.
[3]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước, tr. 13 - 15.
[4]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Vai trò của hiệp định tương trợ tư pháp
[5]. Báo cáo số 14/BC-BTP ngày 20/01/2015 của Chính phủ về kết quả tổng kết 06 năm thi hành Luật Tương trợ tư pháp.
[6]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.
[7]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Theo dõi chúng tôi trên: