Chủ nhật 18/10/2026 23:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của các hiệp định song phương tương trợ tư pháp về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam

Để tạo cơ sở pháp lý ổn định cho việc điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ về hôn nhân, gia đình, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng thì việc ký kết các hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về tương trợ tư pháp (TTTP) trong lĩnh vực dân sự có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định/thỏa thuận TTTP về dân sự[1] (hiệp định TTTP) với các nước trên thế giới, đây là các văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các quyền nhân thân và tài sản của công dân của các bên ký kết nói chung và công dân Việt Nam ở nước ngoài nói riêng. Bên cạnh đó, kể từ ngày 01/10/2016, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, trong đó, có khoảng 70 nước là thành viên của Công ước này. Điều đó cho thấy, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh cần có sự tương trợ tư pháp quốc tế ngày càng được mở rộng và gia tăng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ giới thiệu về vai trò của các hiệp định song phương TTTP về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam.

1. Tổng quan và vai trò của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước

Về cơ bản, các hiệp định TTTP về dân sự có nội dung các quy định tương đối giống nhau, điều chỉnh hai mảng quan hệ, đó là TTTP giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và các quy tắc chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột luật cũng như quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình và hình sự. Tuy nhiên, các hiệp định được ký kết trong khoảng thời gian khác nhau nên bối cảnh quốc tế cũng khác nhau và có những thay đổi cơ bản.

Sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992, Việt Nam tiếp tục ký kết hiệp định TTTP với các nước Ba Lan, Lào, Trung Quốc, Nga, Pháp, Ukraina, Belarus và Mông Cổ. Một số hiệp định được ký kết trong giai đoạn này bắt đầu có những thay đổi lớn về phạm vi điều chỉnh như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc chỉ điều chỉnh các vấn đề TTTP giữa các cơ quan tư pháp hai nước và thống nhất các quy tắc xác định thẩm quyền xét xử mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột; Hiệp định TTTP với Pháp chỉ điều chỉnh các vấn đề dân sự[2].

Kể từ khi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được ban hành, Việt Nam đã ký kết hiệp định TTTP với An-giê-ri, Cam-pu-chia, Ca-dắc-xtan và Đài Loan. Phạm vi tương trợ quy định tại các hiệp định TTTP này đã thay đổi so với các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết trước đó, theo đó, hiệp định chỉ điều chỉnh vấn đề về dân sự mà không bao gồm hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Bên cạnh đó, các hiệp định TTTP này chỉ quy định trình tự thủ tục tương trợ tư pháp về dân sự và vấn đề về công nhận và cho hành bản án của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Một số nội dung cơ bản của các hiệp định TTTP[3] cụ thể như sau:

- Các hiệp định TTTP đều có các quy định chung hay điều khoản chung, quy định về sự bảo hộ pháp lý, cơ quan thực hiện và cơ quan đầu mối thực hiện TTTP, cách thức liên hệ, phạm vi các vấn đề tương trợ, nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, việc thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP), triệu tập người làm chứng hoặc người giám định, cách thức tống đạt giấy tờ, từ chối tương trợ và chi phí liên quan đến việc thực hiện tương trợ.

- Về nguyên tắc, mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện TTTP phát sinh trên lãnh thổ nước mình. Một số hiệp định có quy định bên được yêu cầu sẽ thanh toán chi phí bất thường hoặc chi phí thủ tục tố tụng đặc biệt khác.

- Về chế độ bảo hộ pháp lý, công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ pháp lý đối với các quyền nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia. Quy định này nhằm bảo hộ công dân của mỗi bên ký kết.

- Các cơ quan thực hiện TTTP là các Tòa án và các cơ quan tư pháp khác có thẩm quyền về các vấn đề đề về dân sự. Cơ quan đầu mối về dân sự, hôn nhân, gia đình, lao động, kinh tế, thương mại ở Việt Nam là Bộ Tư pháp Việt Nam. Một số hiệp định quy định, trong quá trình thực hiện, các cơ quan tư pháp có thể liên hệ trực tiếp với nhau.

- Về nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, các hiệp định đều quy định phải ghi rõ và cụ thể của người được yêu cầu và nội dung cần ủy thác.

- Khi thực hiện yêu cầu TTTP, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình.

- Đối với người làm chứng hoặc người giám định, nếu được triệu tập thì họ được hưởng sự bảo đảm an toàn cá nhân và được hưởng một khoản tiền chi phí liên quan đến tố tụng.

- Các đồ vật và tiền được chuyển giao từ lãnh thổ bên ký kết này sang lãnh thổ bên ký kết kia, cũng như cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của bên ký kết kia, theo pháp luật của bên ký kết nơi có cơ quan thực hiện việc chuyển giao.

- Yêu cầu về TTTP có thể bị từ chối, nếu việc thực hiện yêu cầu TTTP có thể gây phương hại đến chủ quyền, an ninh hoặc những lợi ích quan trọng khác, cũng như trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hoặc các cam kết quốc tế của bên ký kết được yêu cầu.

Như đã nêu ở trên, hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về TTTP trong lĩnh vực dân sự là văn bản pháp lý quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong hợp tác với nước ngoài về pháp luật nói riêng. Xem xét tổng quan 17 hiệp định TTTP với Việt Nam, có thể nhận thấy, vai trò của hiệp định này trong lĩnh vực TTTP về dân sự được thể hiện như sau:

- Các hiệp định TTTP là cơ sở pháp lý để các quốc gia tiến hành một cách nhanh chóng, tập trung qua đầu mối tương trợ tư pháp và có hiệu quả.

- Trình tự, thủ tục TTTP được quy định rất chặt chẽ, cụ thể trong các hiệp TTTP. Đây là cơ sở để các cơ quan tư pháp của các bên ký kết hiệp định tiến hành các hoạt động TTTP theo quy trình thống nhất. Hiệp định TTTP đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia ký kết yêu cầu các cơ quan tư pháp của mình thực hiện nghiêm chỉnh các thủ tục, trình tự tương trợ quy định trong hiệp định.

- Các hiệp định đều xác định rõ các cơ quan trung ương đầu mối. Việc quy định các quan trung ương đầu mối này sẽ giúp cho việc TTTP được thực hiện một cách tập trung, có thống kê, giám sát, rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện các hiệp định[4].

2. Thực tiễn thực thi tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết

Thực tiễn thi hành các hiệp định TTTP cho thấy, giữa Việt Nam và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ (như Tiệp Khắc, Cu Ba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Mông Cổ, Ba Lan, Triều Tiên, Lào...) hầu như không phát sinh yêu cầu TTTP về dân sự; một số hiệp định mới có hiệu lực sau khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì cũng chưa có yêu cầu UTTP (như hiệp định với An-giê-ri). Tuy nhiên, việc thực thi của một số hiệp định với các nước có nhiều quan hệ dân sự, thương mại đã thực sự phát huy hiệu quả như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc, Pháp; thỏa thuận TTTP với Đài Loan. Cụ thể, để thực hiện thỏa thuận TTTP với Đài Loan, hai bên đều đề xuất cơ quan trung ương (Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Pháp vụ lãnh thổ Đài Loan) và cử cán bộ đầu mối để trao đổi về những vấn đề đột xuất phát sinh trong quá trình thực hiện các hồ sơ. Đồng thời, hai cơ quan trung ương cũng tổ chức định kỳ hội nghị thường niên luân phiên tại Hà Nội và Đài Bắc. Từ khi thỏa thuận có hiệu lực, hai bên đã tổ chức 06 hội nghị thường niên trao đổi trực tiếp về những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết các hồ sơ UTTP, qua đó, đề xuất những giải pháp để tháo gỡ những khó khăn. Các cơ chế phối hợp đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các yêu cầu UTTP của hai bên đạt kết quả khả quan, đạt từ 65% đến 80% (so với 0% trước khi thỏa thuận được ký), năm sau cao hơn so với năm trước. Đồng thời, để hỗ trợ cho các cơ quan của Việt Nam thực hiện nghiêm túc thỏa thuận, Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao tổ chức các lớp tập huấn về thỏa thuận cho các cán bộ trực tiếp làm công tác UTTP ở một số tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều hoạt động UTTP với lãnh thổ Đài Loan[5].

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng đã bắt đầu thực hiện việc rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các hiệp định TTTP đã ký kết và có hiệu lực đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Tòa án cấp tỉnh, thành phố rà soát đánh giá tình hình thực hiện 03 hiệp định TTTP (với Hungary, Pháp, Trung Quốc) để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoặc để đề xuất sửa đổi, bổ sung hay đàm phán mới các hiệp định nhằm hoàn thiện và hiện đại hóa cơ chế hợp tác về TTTP giữa hai bên.

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, phạm vi TTTP về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm: (i) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến TTTP về dân sự; (ii) Triệu tập người làm chứng, người giám định; (iii) Thu thập, cung cấp chứng cứ; (iv) Các yêu cầu TTTP khác về dân sự. Tuy nhiên, một số hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết trong những năm gần đây có bổ sung quy định phạm vi TTTP bao gồm: Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài. Do thực tiễn thực hiện TTTP về dân sự chủ yếu tập trung vào việc tống đạt giấy tờ và thu thập chứng cứ nên bài viết này chỉ đề cập đến nội dung thực hiện UTTP về dân sự. Việc UTTP về dân sự gồm hai yêu cầu chính sau:

2.1. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài gửi các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện

Trong số các UTTP quốc tế về dân sự mà phía nước ngoài yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện thì đa số tập trung các yêu cầu về tống đạt giấy tờ liên quan chủ yếu đến tống đạt giấy tờ, tài liệu trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn, yêu cầu về quyền nuôi con sau khi ly hôn, các vụ việc thương mại và lao động, chiếm khoảng 90% trên tổng số hồ sơ UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện.

Báo cáo hàng năm của Chính phủ trình Quốc hội về công tác TTTP cho thấy, kết quả tống đạt mà các cơ quan thẩm quyền của Việt Nam thực hiện cho phía nước ngoài còn hạn chế, trung bình đạt khoảng trên 50%. Mặc dù, các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết có quy định về cách thức liên hệ, tham vấn trực tiếp hoặc một số hiệp định đã ký kết trong thời gian gần đây bổ sung quy định về việc định kỳ rà soát hiệp định hoặc tổ chức họp thường niên nhưng tất cả công việc này chưa được thực hiện thường xuyên do yếu tố khách quan và chủ quan. Đối với Đài Loan, tỷ lệ hồ sơ do hai bên thực hiện có kết quả cao nhất trong số 17 nước đã ký kết hiệp định TTTP, tuy nhiên, kết quả mà Việt Nam thực hiện cho nước bạn vẫn thấp hơn so với kết quả phía Đài Loan thực hiện. Điều này phản ánh một thực tế là các Tòa án Việt Nam chưa thực sự nghiêm túc trong việc thực hiện yêu cầu UTTP của phía nước ngoài. Nguyên nhân có thể là các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam chưa phối hợp tích cực để sát sao, đôn đốc và nhắc nhở các Tòa án địa phương nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, cũng có một số vướng mắc trong quá trình thực hiện hồ sơ UTTP của phía nước ngoài như: Địa chỉ sai, không có bản dịch tiếng Việt...

Kết quả UTTP năm 2016 của một số nước như sau[6]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài): Dân sự (4%), hôn nhân, gia đình (92,3%), kinh doanh, thương mại (3,6%), thi hành án (0%) và các vấn đề khác (0%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện: Lãnh thổ Đài Loan (165/325); Cộng hòa Pháp (16/36); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (61/133); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

2.2. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam gửi các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện

Các yêu cầu thực hiện UTTP của Việt Nam đề nghị cơ quan thẩm quyền nước ngoài thực hiện tập trung nhiều vào hồ sơ ủy thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự trong vụ án ly hôn, khoảng 80% trên tổng số hồ sơ yêu cầu mà Việt Nam gửi ra nước ngoài. Đồng thời, các yêu cầu liên quan đến việc lấy lời khai đương sự đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện dân sự như: Thừa kế, chia tài sản, tranh chấp đất đai, đòi bồi thường thiệt hại, đơn phương chấm dứt hợp đồng, thay đổi họ tên, yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con… cũng có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, việc thực hiện các UTTP do Tòa án Việt Nam yêu cầu phía nước ngoài ngoài tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự đang ở nước ngoài, công dân nước ngoài là đương sự trong các vụ kiện dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình đang được các Tòa án trong nước thụ lý giải quyết còn chậm. Nhiều trường hợp phía nước ngoài không trả lời hoặc thời gian thực hiện khá dài, ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng trong nước. Đài Loan vẫn là nước thực hiện hồ sơ UTTP có kết quả cao nhất, các trường hợp không thực hiện được, phía Đài Loan luôn trao đổi cụ thể qua hộp thư điện tử (email) để xử lý kịp thời. Số liệu dưới đây là những nước mà Việt Nam có nhiều yêu cầu ủy thác gửi nước ngoài và có kết quả. Số liệu kết quả UTTP năm 2016 của một số nước cụ thể như sau[7]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài), cụ thể như sau: Dân sự (36,1%), hôn nhân, gia đình (57,8%), kinh doanh, thương mại (3,74%), thi hành án (2,05%) và các vấn đề khác (0,24%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện, lãnh thổ Đài Loan (329/491); Cộng hòa Pháp (3/56); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (7/20); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

3. Kết luận

Trong bối cảnh Việt Nam từng bước phát triển mạnh mẽ về hội nhập quốc tế và khu vực, việc tiếp tục nâng cao nhận thức và vai trò trong công tác TTTP là hết sức cần thiết. Để thực hiện nhiệm vụ đó, các bên ký kết nói chung và Việt Nam nói riêng cần:

- Thực thi nghiêm túc, có hiệu quả các hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt là hoạt động về tống đạt giấy tờ; chủ động nghiên cứu gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP, tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho yêu cầu giải quyết các vụ việc trong nước.

- Tăng cường trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các UTTP với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp.

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, đôn đốc tình hình thực hiện UTTP ở cả trong nước và ngoài nước.

- Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTTP trong đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật để nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới.

- Tăng cường nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về TTTP, trọng tâm là với các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước có quan hệ truyền thống, các nước láng giềng, các nước có đông người Việt Nam sinh sống, các nước có quan hệ hợp tác kinh tế - đầu tư phát triển với nước ta; sửa đổi các hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký trước những năm 2000 cho phù hợp với pháp luật và tình hình hợp tác hiện nay; tăng cường thực thi các điều ước quốc tế về TTTP đã có hiệu lực.

ThS. Đinh Quỳnh Nga

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: http://vbpl.vn/Pages/danh-sach-dieu-uoc.aspx?.
[2]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Lời giới thiệu, tr. 11.
[3]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước, tr. 13 - 15.
[4]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Vai trò của hiệp định tương trợ tư pháp
[5]. Báo cáo số 14/BC-BTP ngày 20/01/2015 của Chính phủ về kết quả tổng kết 06 năm thi hành Luật Tương trợ tư pháp.
[6]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.
[7]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.

Theo dõi chúng tôi trên: