Thứ tư 04/03/2026 21:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của các hiệp định song phương tương trợ tư pháp về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam

Để tạo cơ sở pháp lý ổn định cho việc điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ về hôn nhân, gia đình, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng thì việc ký kết các hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về tương trợ tư pháp (TTTP) trong lĩnh vực dân sự có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định/thỏa thuận TTTP về dân sự[1] (hiệp định TTTP) với các nước trên thế giới, đây là các văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các quyền nhân thân và tài sản của công dân của các bên ký kết nói chung và công dân Việt Nam ở nước ngoài nói riêng. Bên cạnh đó, kể từ ngày 01/10/2016, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, trong đó, có khoảng 70 nước là thành viên của Công ước này. Điều đó cho thấy, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh cần có sự tương trợ tư pháp quốc tế ngày càng được mở rộng và gia tăng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ giới thiệu về vai trò của các hiệp định song phương TTTP về dân sự và thực tiễn thực thi tại Việt Nam.

1. Tổng quan và vai trò của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước

Về cơ bản, các hiệp định TTTP về dân sự có nội dung các quy định tương đối giống nhau, điều chỉnh hai mảng quan hệ, đó là TTTP giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và các quy tắc chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột luật cũng như quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình và hình sự. Tuy nhiên, các hiệp định được ký kết trong khoảng thời gian khác nhau nên bối cảnh quốc tế cũng khác nhau và có những thay đổi cơ bản.

Sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992, Việt Nam tiếp tục ký kết hiệp định TTTP với các nước Ba Lan, Lào, Trung Quốc, Nga, Pháp, Ukraina, Belarus và Mông Cổ. Một số hiệp định được ký kết trong giai đoạn này bắt đầu có những thay đổi lớn về phạm vi điều chỉnh như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc chỉ điều chỉnh các vấn đề TTTP giữa các cơ quan tư pháp hai nước và thống nhất các quy tắc xác định thẩm quyền xét xử mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột; Hiệp định TTTP với Pháp chỉ điều chỉnh các vấn đề dân sự[2].

Kể từ khi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được ban hành, Việt Nam đã ký kết hiệp định TTTP với An-giê-ri, Cam-pu-chia, Ca-dắc-xtan và Đài Loan. Phạm vi tương trợ quy định tại các hiệp định TTTP này đã thay đổi so với các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết trước đó, theo đó, hiệp định chỉ điều chỉnh vấn đề về dân sự mà không bao gồm hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Bên cạnh đó, các hiệp định TTTP này chỉ quy định trình tự thủ tục tương trợ tư pháp về dân sự và vấn đề về công nhận và cho hành bản án của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Một số nội dung cơ bản của các hiệp định TTTP[3] cụ thể như sau:

- Các hiệp định TTTP đều có các quy định chung hay điều khoản chung, quy định về sự bảo hộ pháp lý, cơ quan thực hiện và cơ quan đầu mối thực hiện TTTP, cách thức liên hệ, phạm vi các vấn đề tương trợ, nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, việc thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP), triệu tập người làm chứng hoặc người giám định, cách thức tống đạt giấy tờ, từ chối tương trợ và chi phí liên quan đến việc thực hiện tương trợ.

- Về nguyên tắc, mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện TTTP phát sinh trên lãnh thổ nước mình. Một số hiệp định có quy định bên được yêu cầu sẽ thanh toán chi phí bất thường hoặc chi phí thủ tục tố tụng đặc biệt khác.

- Về chế độ bảo hộ pháp lý, công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ pháp lý đối với các quyền nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia. Quy định này nhằm bảo hộ công dân của mỗi bên ký kết.

- Các cơ quan thực hiện TTTP là các Tòa án và các cơ quan tư pháp khác có thẩm quyền về các vấn đề đề về dân sự. Cơ quan đầu mối về dân sự, hôn nhân, gia đình, lao động, kinh tế, thương mại ở Việt Nam là Bộ Tư pháp Việt Nam. Một số hiệp định quy định, trong quá trình thực hiện, các cơ quan tư pháp có thể liên hệ trực tiếp với nhau.

- Về nội dung và hình thức của yêu cầu TTTP, các hiệp định đều quy định phải ghi rõ và cụ thể của người được yêu cầu và nội dung cần ủy thác.

- Khi thực hiện yêu cầu TTTP, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình.

- Đối với người làm chứng hoặc người giám định, nếu được triệu tập thì họ được hưởng sự bảo đảm an toàn cá nhân và được hưởng một khoản tiền chi phí liên quan đến tố tụng.

- Các đồ vật và tiền được chuyển giao từ lãnh thổ bên ký kết này sang lãnh thổ bên ký kết kia, cũng như cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của bên ký kết kia, theo pháp luật của bên ký kết nơi có cơ quan thực hiện việc chuyển giao.

- Yêu cầu về TTTP có thể bị từ chối, nếu việc thực hiện yêu cầu TTTP có thể gây phương hại đến chủ quyền, an ninh hoặc những lợi ích quan trọng khác, cũng như trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hoặc các cam kết quốc tế của bên ký kết được yêu cầu.

Như đã nêu ở trên, hiệp định song phương giữa Việt Nam với các nước về TTTP trong lĩnh vực dân sự là văn bản pháp lý quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong hợp tác với nước ngoài về pháp luật nói riêng. Xem xét tổng quan 17 hiệp định TTTP với Việt Nam, có thể nhận thấy, vai trò của hiệp định này trong lĩnh vực TTTP về dân sự được thể hiện như sau:

- Các hiệp định TTTP là cơ sở pháp lý để các quốc gia tiến hành một cách nhanh chóng, tập trung qua đầu mối tương trợ tư pháp và có hiệu quả.

- Trình tự, thủ tục TTTP được quy định rất chặt chẽ, cụ thể trong các hiệp TTTP. Đây là cơ sở để các cơ quan tư pháp của các bên ký kết hiệp định tiến hành các hoạt động TTTP theo quy trình thống nhất. Hiệp định TTTP đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia ký kết yêu cầu các cơ quan tư pháp của mình thực hiện nghiêm chỉnh các thủ tục, trình tự tương trợ quy định trong hiệp định.

- Các hiệp định đều xác định rõ các cơ quan trung ương đầu mối. Việc quy định các quan trung ương đầu mối này sẽ giúp cho việc TTTP được thực hiện một cách tập trung, có thống kê, giám sát, rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện các hiệp định[4].

2. Thực tiễn thực thi tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết

Thực tiễn thi hành các hiệp định TTTP cho thấy, giữa Việt Nam và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ (như Tiệp Khắc, Cu Ba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Mông Cổ, Ba Lan, Triều Tiên, Lào...) hầu như không phát sinh yêu cầu TTTP về dân sự; một số hiệp định mới có hiệu lực sau khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì cũng chưa có yêu cầu UTTP (như hiệp định với An-giê-ri). Tuy nhiên, việc thực thi của một số hiệp định với các nước có nhiều quan hệ dân sự, thương mại đã thực sự phát huy hiệu quả như: Hiệp định TTTP với Trung Quốc, Pháp; thỏa thuận TTTP với Đài Loan. Cụ thể, để thực hiện thỏa thuận TTTP với Đài Loan, hai bên đều đề xuất cơ quan trung ương (Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Pháp vụ lãnh thổ Đài Loan) và cử cán bộ đầu mối để trao đổi về những vấn đề đột xuất phát sinh trong quá trình thực hiện các hồ sơ. Đồng thời, hai cơ quan trung ương cũng tổ chức định kỳ hội nghị thường niên luân phiên tại Hà Nội và Đài Bắc. Từ khi thỏa thuận có hiệu lực, hai bên đã tổ chức 06 hội nghị thường niên trao đổi trực tiếp về những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết các hồ sơ UTTP, qua đó, đề xuất những giải pháp để tháo gỡ những khó khăn. Các cơ chế phối hợp đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các yêu cầu UTTP của hai bên đạt kết quả khả quan, đạt từ 65% đến 80% (so với 0% trước khi thỏa thuận được ký), năm sau cao hơn so với năm trước. Đồng thời, để hỗ trợ cho các cơ quan của Việt Nam thực hiện nghiêm túc thỏa thuận, Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao tổ chức các lớp tập huấn về thỏa thuận cho các cán bộ trực tiếp làm công tác UTTP ở một số tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều hoạt động UTTP với lãnh thổ Đài Loan[5].

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng đã bắt đầu thực hiện việc rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các hiệp định TTTP đã ký kết và có hiệu lực đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Tòa án cấp tỉnh, thành phố rà soát đánh giá tình hình thực hiện 03 hiệp định TTTP (với Hungary, Pháp, Trung Quốc) để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoặc để đề xuất sửa đổi, bổ sung hay đàm phán mới các hiệp định nhằm hoàn thiện và hiện đại hóa cơ chế hợp tác về TTTP giữa hai bên.

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, phạm vi TTTP về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm: (i) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến TTTP về dân sự; (ii) Triệu tập người làm chứng, người giám định; (iii) Thu thập, cung cấp chứng cứ; (iv) Các yêu cầu TTTP khác về dân sự. Tuy nhiên, một số hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết trong những năm gần đây có bổ sung quy định phạm vi TTTP bao gồm: Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài. Do thực tiễn thực hiện TTTP về dân sự chủ yếu tập trung vào việc tống đạt giấy tờ và thu thập chứng cứ nên bài viết này chỉ đề cập đến nội dung thực hiện UTTP về dân sự. Việc UTTP về dân sự gồm hai yêu cầu chính sau:

2.1. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài gửi các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện

Trong số các UTTP quốc tế về dân sự mà phía nước ngoài yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện thì đa số tập trung các yêu cầu về tống đạt giấy tờ liên quan chủ yếu đến tống đạt giấy tờ, tài liệu trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn, yêu cầu về quyền nuôi con sau khi ly hôn, các vụ việc thương mại và lao động, chiếm khoảng 90% trên tổng số hồ sơ UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện.

Báo cáo hàng năm của Chính phủ trình Quốc hội về công tác TTTP cho thấy, kết quả tống đạt mà các cơ quan thẩm quyền của Việt Nam thực hiện cho phía nước ngoài còn hạn chế, trung bình đạt khoảng trên 50%. Mặc dù, các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết có quy định về cách thức liên hệ, tham vấn trực tiếp hoặc một số hiệp định đã ký kết trong thời gian gần đây bổ sung quy định về việc định kỳ rà soát hiệp định hoặc tổ chức họp thường niên nhưng tất cả công việc này chưa được thực hiện thường xuyên do yếu tố khách quan và chủ quan. Đối với Đài Loan, tỷ lệ hồ sơ do hai bên thực hiện có kết quả cao nhất trong số 17 nước đã ký kết hiệp định TTTP, tuy nhiên, kết quả mà Việt Nam thực hiện cho nước bạn vẫn thấp hơn so với kết quả phía Đài Loan thực hiện. Điều này phản ánh một thực tế là các Tòa án Việt Nam chưa thực sự nghiêm túc trong việc thực hiện yêu cầu UTTP của phía nước ngoài. Nguyên nhân có thể là các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam chưa phối hợp tích cực để sát sao, đôn đốc và nhắc nhở các Tòa án địa phương nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, cũng có một số vướng mắc trong quá trình thực hiện hồ sơ UTTP của phía nước ngoài như: Địa chỉ sai, không có bản dịch tiếng Việt...

Kết quả UTTP năm 2016 của một số nước như sau[6]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài): Dân sự (4%), hôn nhân, gia đình (92,3%), kinh doanh, thương mại (3,6%), thi hành án (0%) và các vấn đề khác (0%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện: Lãnh thổ Đài Loan (165/325); Cộng hòa Pháp (16/36); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (61/133); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

2.2. Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam gửi các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện

Các yêu cầu thực hiện UTTP của Việt Nam đề nghị cơ quan thẩm quyền nước ngoài thực hiện tập trung nhiều vào hồ sơ ủy thác tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự trong vụ án ly hôn, khoảng 80% trên tổng số hồ sơ yêu cầu mà Việt Nam gửi ra nước ngoài. Đồng thời, các yêu cầu liên quan đến việc lấy lời khai đương sự đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện dân sự như: Thừa kế, chia tài sản, tranh chấp đất đai, đòi bồi thường thiệt hại, đơn phương chấm dứt hợp đồng, thay đổi họ tên, yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con… cũng có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, việc thực hiện các UTTP do Tòa án Việt Nam yêu cầu phía nước ngoài ngoài tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự đang ở nước ngoài, công dân nước ngoài là đương sự trong các vụ kiện dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình đang được các Tòa án trong nước thụ lý giải quyết còn chậm. Nhiều trường hợp phía nước ngoài không trả lời hoặc thời gian thực hiện khá dài, ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng trong nước. Đài Loan vẫn là nước thực hiện hồ sơ UTTP có kết quả cao nhất, các trường hợp không thực hiện được, phía Đài Loan luôn trao đổi cụ thể qua hộp thư điện tử (email) để xử lý kịp thời. Số liệu dưới đây là những nước mà Việt Nam có nhiều yêu cầu ủy thác gửi nước ngoài và có kết quả. Số liệu kết quả UTTP năm 2016 của một số nước cụ thể như sau[7]:

- Về nội dung yêu cầu (tính tổng số UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài), cụ thể như sau: Dân sự (36,1%), hôn nhân, gia đình (57,8%), kinh doanh, thương mại (3,74%), thi hành án (2,05%) và các vấn đề khác (0,24%).

- Về số lượng hồ sơ và kết quả thực hiện, lãnh thổ Đài Loan (329/491); Cộng hòa Pháp (3/56); Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (7/20); Cộng hòa Séc (5/11); Liên bang Nga (1/5).

3. Kết luận

Trong bối cảnh Việt Nam từng bước phát triển mạnh mẽ về hội nhập quốc tế và khu vực, việc tiếp tục nâng cao nhận thức và vai trò trong công tác TTTP là hết sức cần thiết. Để thực hiện nhiệm vụ đó, các bên ký kết nói chung và Việt Nam nói riêng cần:

- Thực thi nghiêm túc, có hiệu quả các hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt là hoạt động về tống đạt giấy tờ; chủ động nghiên cứu gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP, tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho yêu cầu giải quyết các vụ việc trong nước.

- Tăng cường trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các UTTP với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp.

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, đôn đốc tình hình thực hiện UTTP ở cả trong nước và ngoài nước.

- Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTTP trong đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật để nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới.

- Tăng cường nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về TTTP, trọng tâm là với các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước có quan hệ truyền thống, các nước láng giềng, các nước có đông người Việt Nam sinh sống, các nước có quan hệ hợp tác kinh tế - đầu tư phát triển với nước ta; sửa đổi các hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký trước những năm 2000 cho phù hợp với pháp luật và tình hình hợp tác hiện nay; tăng cường thực thi các điều ước quốc tế về TTTP đã có hiệu lực.

ThS. Đinh Quỳnh Nga

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: http://vbpl.vn/Pages/danh-sach-dieu-uoc.aspx?.
[2]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Lời giới thiệu, tr. 11.
[3]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước, tr. 13 - 15.
[4]. Hiệp định Tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước - Vai trò của hiệp định tương trợ tư pháp
[5]. Báo cáo số 14/BC-BTP ngày 20/01/2015 của Chính phủ về kết quả tổng kết 06 năm thi hành Luật Tương trợ tư pháp.
[6]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.
[7]. Báo cáo số 429/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: