Thứ sáu 03/04/2026 00:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc trong thủ tục đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng gia tăng, kéo theo số trẻ em là con chung giữa công dân Việt Nam

Những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng gia tăng, kéo theo số trẻ em là con chung giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cũng tăng theo, đồng thời với đó là tăng số lượng các việc đăng ký khai sinh (ĐKKS), ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú khai sinh).

Mặc dù thủ tục ĐKKS nói chung, ĐKKS có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng như việc ghi chú khai sinh đã được quy định theo hướng đơn giản hóa, cải cách thủ tục hành chính, thuận tiện cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch, tuy nhiên, việc ĐKKS có yếu tố nước ngoài/ghi chú khai sinh vẫn gặp một số vướng mắc do pháp luật chưa có quy định, dự liệu về một số tình huống phát sinh trong thực tế; một số trường hợp cha, mẹ trẻ không có đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật, thông tin liên quan đến sự kiện sinh chưa xác thực, để ĐKKS phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại nhiều cơ quan khác nhau...

Bài viết này tập trung phân tích một số vướng mắc tương đối phổ biến trong quá trình giải quyết thủ tục ĐKKS có yếu tố nước ngoài, ghi chú khai sinh, đồng thời, đưa ra một số đề xuất nhằm tháo gỡ các vướng mắc đó, bảo đảm quyền được ĐKKS của trẻ em.

1. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

1.1. Quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điều 35 Luật Hộ tịch năm 2014, trường hợp trẻ em sinh ra tại Việt Nam, nhưng một bên cha hoặc mẹ có quốc tịch nước ngoài/người không quốc tịch/công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài/người nước ngoài/người không quốc tịch thì được xác định là ĐKKS có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền ĐKKS của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Trường hợp trẻ sinh tại nước ngoài về Việt Nam cư trú, trẻ có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam hoặc một trong hai người là công dân Việt Nam thì việc ĐKKS cũng thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Về hồ sơ ĐKKS, ngoài tờ khai ĐKKS, giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay thế giấy chứng sinh theo quy định tại Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014, nếu cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ của trẻ là người nước ngoài thì người yêu cầu ĐKKS phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ lựa chọn quốc tịch cho con; trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân để tránh trường hợp trẻ rơi vào tình trạng không quốc tịch[1].

Đối với trường hợp trẻ sinh ra ở nước ngoài, ngoài các giấy tờ nêu trên, người có yêu cầu ĐKKS còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh việc trẻ cư trú tại Việt Nam, bao gồm: Giấy tờ chứng minh việc trẻ đã nhập cảnh vào Việt Nam (như hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh) và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ đang cư trú tại Việt Nam[2].

1.2. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Một là, đối với trẻ em sinh ra tại nước ngoài

Nhiều trường hợp trẻ em sinh ra tại nước ngoài, được đưa về Việt Nam sinh sống, gia đình có yêu cầu ĐKKS cho trẻ, nhưng thông tin của trẻ được cung cấp không xác thực, phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trong số này, phần lớn trẻ là con chung giữa công dân Việt Nam và công dân Hàn Quốc, được sinh ra tại Hàn Quốc, đa số đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc và được cấp hộ chiếu. Tuy nhiên, sau khi đưa trẻ về Việt Nam, gia đình lại cam đoan trẻ chưa được ĐKKS tại Hàn Quốc để được ĐKKS, có giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, ghi quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam.

Do vậy, các thông tin liên quan đến sự kiện sinh cần được xác minh chặt chẽ, nhất là việc trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc hay chưa? Cơ quan hộ tịch của Việt Nam chỉ tiếp nhận, giải quyết ĐKKS nếu có cơ sở khẳng định trẻ chưa được ĐKKS tại một cơ quan nào; đồng thời, trong hồ sơ phải xuất trình các giấy tờ chứng minh việc trẻ nhập cảnh vào Việt Nam; nếu trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, thì hướng dẫn gia đình liên hệ với Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam để được hỗ trợ, giải quyết.

Hai là, đối với trẻ sinh tại Việt Nam, mặc dù có thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, xác minh thông tin, nhưng việc đăng ký khai sinh cho nhóm trẻ này cũng gặp nhiều vướng mắc

(i) Trẻ không được ĐKKS do chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan trong việc xác định thẩm quyền giải quyết việc cha nhận con.

Đây chủ yếu là các trường hợp trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng Việt - Hàn, nhưng thực chất lại là con của công dân Việt Nam với nhau, do người vợ chung sống với người đàn ông Việt Nam khi quan hệ hôn nhân với người chồng Hàn Quốc vẫn đang tồn tại. Do trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên khi ĐKKS cho trẻ, phải ghi thông tin về cha, mẹ là thông tin của vợ chồng. Nếu người thứ 3 (người cha thực tế của trẻ) muốn nhận con thì xác định là có tranh chấp về mặt pháp lý, việc xác định cha, con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự[3]. Tuy nhiên, vướng mắc ở chỗ, trên thực tế, nhiều trường hợp người dân phản ánh nhưng Tòa án từ chối tiếp nhận giải quyết hoặc đình chỉ vụ việc với lý do “không có tranh chấp thực tế”. Trường hợp Tòa án từ chối giải quyết xác định cha - con, nếu các cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ tiếp nhận, giải quyết việc ĐKKS (không kết hợp giải quyết nhận cha - con) thì phần thông tin về người cha buộc phải ghi thông tin là công dân Hàn Quốc, mặc dù căn cứ vào kết quả giám định ADN thì biết chắc đó không phải là cha của trẻ. Điều này dẫn đến việc ĐKKS không xác thực, ảnh hưởng tới quyền lợi của trẻ.

Do vậy, để bảo đảm quyền lợi của trẻ, trên cơ sở yêu cầu cha nhận con, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tạm thời chỉ đạo Sở Tư pháp giải quyết theo hướng: Trường hợp Tòa án từ chối thụ lý hoặc đình chỉ vụ việc với lý do “không có tranh chấp” thì UBND cấp xã tiếp nhận và giải quyết yêu cầu ĐKKS kết hợp với thủ tục cha nhận con, trong hồ sơ phải có văn bản từ chối hoặc đình chỉ giải quyết của Tòa án và kết quả giám định ADN để chứng minh quan hệ giữa người cha thực tế (là công dân Việt Nam) với người con.

(ii) Quy định pháp luật về việc ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú kết hôn) chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến việc xác định cha và đăng ký khai sinh cho trẻ.

Pháp luật hiện hành không quy định về việc nộp/xuất trình trích lục ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn đối với trường hợp cha, mẹ trẻ kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi thực hiện ĐKKS cho trẻ; tuy nhiên, về nguyên tắc, việc kết hôn đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải được cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền của Việt Nam ghi vào sổ hộ tịch, cấp trích lục ghi chú kết hôn. Do đó, trường hợp trẻ là con giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, cha, mẹ trẻ có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, nhưng chưa thực hiện ghi chú kết hôn tại Việt Nam, các cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng trong việc xác định, ghi thông tin về người cha trong giấy khai sinh của trẻ. Để bảo đảm quyền lợi của trẻ trong trường hợp này, theo chúng tôi, việc ĐKKS có thể được giải quyết theo hướng:

- Nếu giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ đã được hợp pháp hóa lãnh sự thì có thể xác định giấy chứng nhận kết hôn đó là hợp pháp, do đó, UBND cấp huyện thực hiện ĐKKS cho trẻ với đầy đủ thông tin về cha, mẹ trong giấy khai sinh.

- Nếu giấy chứng nhận kết hôn chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, các cơ quan đăng ký hộ tịch cần trao đổi với đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, đề nghị hỗ trợ, tạo điều kiện cho công dân trong việc hợp pháp hóa lãnh sự giấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp không thể hợp pháp hóa lãnh sự được giấy chứng nhận kết hôn, thì UBND cấp huyện thực hiện ĐKKS cho trẻ theo diện con chưa xác định được cha.

2. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

2.1. Quy định của pháp luật về ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 thì các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong đó có sự kiện đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì khi về Việt Nam phải thực hiện ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh (ghi chú khai sinh) theo quy định.

Thẩm quyền giải quyết ghi chú khai sinh thuộc UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam. Khi thực hiện thủ tục, người có yêu cầu phải nộp tờ khai theo mẫu quy định, bản sao, bản dịch có chứng thực/công chứng giấy tờ chứng minh việc khai sinh đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Đối tượng có quyền và trách nhiệm thực hiện thủ tục ghi chú khai sinh là công dân Việt Nam. Do đó, cần xác định rõ vấn đề quốc tịch của trẻ khi thực hiện việc ghi chú khai sinh.

2.2. Vướng mắc trong giải quyết vấn đề ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Theo quy định tại Điều 15 Luật Quốc tịch Việt Nam thì: Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (có quốc tịch theo huyết thống). Trong khi đó, một số nước (ví dụ như Hoa Kỳ…) áp dụng nguyên tắc có quốc tịch theo nơi sinh, theo đó, trẻ em sinh ra trong phạm vi lãnh thổ thì đương nhiên có quốc tịch nước này mà không phụ thuộc vào quốc tịch của cha, mẹ. Trên thực tế, có một số trường hợp, trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong giấy khai sinh đã ghi trẻ có quốc tịch nước ngoài nhưng khi về Việt Nam, cha mẹ trẻ vẫn có nguyện vọng thực hiện thủ tục ghi chú khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để được cấp giấy tờ hộ tịch của Việt Nam, xác định quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Pháp luật hộ tịch hiện hành chưa có quy định cụ thể về thủ tục ghi chú khai sinh đối với trường hợp trẻ có quốc tịch Việt Nam (theo huyết thống), đồng thời có quốc tịch nước ngoài (theo nơi sinh), vì vậy, cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng khi tiếp nhận, giải quyết.

Trường hợp này, mặc dù trên giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp ghi trẻ có quốc tịch nước ngoài, tuy nhiên, trẻ đương nhiên có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống nên có cơ sở để tiếp nhận yêu cầu ghi chú khai sinh, thông tin “quốc tịch” của trẻ trong trích lục ghi chú khai sinh và sổ ĐKKS được ghi là “Quốc tịch: Việt Nam”. Nếu tên của trẻ trong giấy khai sinh là tên nước ngoài, thì khi ghi chú khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch hướng dẫn cha, mẹ trẻ lựa chọn tên tiếng Việt để ghi vào trích lục ghi chú khai sinh.

Có thể thấy, việc ĐKKS có yếu tố nước ngoài cũng như ghi chú khai sinh hiện vẫn còn một số vướng mắc nhất định. Các hướng giải quyết nêu trong bài viết chủ yếu là theo hướng vận dụng quy định pháp luật để giải quyết kịp thời yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, bảo đảm quyền lợi cho trẻ em. Tuy nhiên, về lâu dài, cần nghiên cứu bổ sung các nội dung này trong văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết ĐKKS, ghi chú khai sinh cho nhóm trẻ này. Riêng đối với trẻ em là con giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng vì các lý do khác nhau lại được ĐKKS với thông tin không xác thực như trường hợp con của cặp vợ chồng Việt - Hàn), để bảo đảm quyền lợi của trẻ em, Bộ Tư pháp cần tiếp tục phối hợp, trao đổi với Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam để có hướng xử lý dứt điểm các trường hợp này. Bên cạnh đó, hướng giải quyết ĐKKS kết hợp nhận cha cho con nêu tại điểm (ii) mục 1.2 chỉ là hướng dẫn mang tính chất tạm thời, về lâu dài, Bộ Tư pháp cần trao đổi với Tòa án nhân dân tối cao để thống nhất về thẩm quyền giải quyết xác định cha cho con cho các trường hợp này, làm cơ sở để các cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của công dân đúng thẩm quyền.

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Lâm

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp





[1]. Khoản 1 Điều 36 Luật Hộ tịch năm 2014.

[2]. Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[3]. Khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: