Thứ hai 07/09/2026 04:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc trong thủ tục đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng gia tăng, kéo theo số trẻ em là con chung giữa công dân Việt Nam

Những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng gia tăng, kéo theo số trẻ em là con chung giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cũng tăng theo, đồng thời với đó là tăng số lượng các việc đăng ký khai sinh (ĐKKS), ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú khai sinh).

Mặc dù thủ tục ĐKKS nói chung, ĐKKS có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng như việc ghi chú khai sinh đã được quy định theo hướng đơn giản hóa, cải cách thủ tục hành chính, thuận tiện cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch, tuy nhiên, việc ĐKKS có yếu tố nước ngoài/ghi chú khai sinh vẫn gặp một số vướng mắc do pháp luật chưa có quy định, dự liệu về một số tình huống phát sinh trong thực tế; một số trường hợp cha, mẹ trẻ không có đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật, thông tin liên quan đến sự kiện sinh chưa xác thực, để ĐKKS phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại nhiều cơ quan khác nhau...

Bài viết này tập trung phân tích một số vướng mắc tương đối phổ biến trong quá trình giải quyết thủ tục ĐKKS có yếu tố nước ngoài, ghi chú khai sinh, đồng thời, đưa ra một số đề xuất nhằm tháo gỡ các vướng mắc đó, bảo đảm quyền được ĐKKS của trẻ em.

1. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

1.1. Quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điều 35 Luật Hộ tịch năm 2014, trường hợp trẻ em sinh ra tại Việt Nam, nhưng một bên cha hoặc mẹ có quốc tịch nước ngoài/người không quốc tịch/công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài/người nước ngoài/người không quốc tịch thì được xác định là ĐKKS có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền ĐKKS của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Trường hợp trẻ sinh tại nước ngoài về Việt Nam cư trú, trẻ có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam hoặc một trong hai người là công dân Việt Nam thì việc ĐKKS cũng thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Về hồ sơ ĐKKS, ngoài tờ khai ĐKKS, giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay thế giấy chứng sinh theo quy định tại Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014, nếu cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ của trẻ là người nước ngoài thì người yêu cầu ĐKKS phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ lựa chọn quốc tịch cho con; trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân để tránh trường hợp trẻ rơi vào tình trạng không quốc tịch[1].

Đối với trường hợp trẻ sinh ra ở nước ngoài, ngoài các giấy tờ nêu trên, người có yêu cầu ĐKKS còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh việc trẻ cư trú tại Việt Nam, bao gồm: Giấy tờ chứng minh việc trẻ đã nhập cảnh vào Việt Nam (như hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh) và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ đang cư trú tại Việt Nam[2].

1.2. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Một là, đối với trẻ em sinh ra tại nước ngoài

Nhiều trường hợp trẻ em sinh ra tại nước ngoài, được đưa về Việt Nam sinh sống, gia đình có yêu cầu ĐKKS cho trẻ, nhưng thông tin của trẻ được cung cấp không xác thực, phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trong số này, phần lớn trẻ là con chung giữa công dân Việt Nam và công dân Hàn Quốc, được sinh ra tại Hàn Quốc, đa số đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc và được cấp hộ chiếu. Tuy nhiên, sau khi đưa trẻ về Việt Nam, gia đình lại cam đoan trẻ chưa được ĐKKS tại Hàn Quốc để được ĐKKS, có giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, ghi quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam.

Do vậy, các thông tin liên quan đến sự kiện sinh cần được xác minh chặt chẽ, nhất là việc trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc hay chưa? Cơ quan hộ tịch của Việt Nam chỉ tiếp nhận, giải quyết ĐKKS nếu có cơ sở khẳng định trẻ chưa được ĐKKS tại một cơ quan nào; đồng thời, trong hồ sơ phải xuất trình các giấy tờ chứng minh việc trẻ nhập cảnh vào Việt Nam; nếu trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, thì hướng dẫn gia đình liên hệ với Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam để được hỗ trợ, giải quyết.

Hai là, đối với trẻ sinh tại Việt Nam, mặc dù có thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, xác minh thông tin, nhưng việc đăng ký khai sinh cho nhóm trẻ này cũng gặp nhiều vướng mắc

(i) Trẻ không được ĐKKS do chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan trong việc xác định thẩm quyền giải quyết việc cha nhận con.

Đây chủ yếu là các trường hợp trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng Việt - Hàn, nhưng thực chất lại là con của công dân Việt Nam với nhau, do người vợ chung sống với người đàn ông Việt Nam khi quan hệ hôn nhân với người chồng Hàn Quốc vẫn đang tồn tại. Do trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên khi ĐKKS cho trẻ, phải ghi thông tin về cha, mẹ là thông tin của vợ chồng. Nếu người thứ 3 (người cha thực tế của trẻ) muốn nhận con thì xác định là có tranh chấp về mặt pháp lý, việc xác định cha, con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự[3]. Tuy nhiên, vướng mắc ở chỗ, trên thực tế, nhiều trường hợp người dân phản ánh nhưng Tòa án từ chối tiếp nhận giải quyết hoặc đình chỉ vụ việc với lý do “không có tranh chấp thực tế”. Trường hợp Tòa án từ chối giải quyết xác định cha - con, nếu các cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ tiếp nhận, giải quyết việc ĐKKS (không kết hợp giải quyết nhận cha - con) thì phần thông tin về người cha buộc phải ghi thông tin là công dân Hàn Quốc, mặc dù căn cứ vào kết quả giám định ADN thì biết chắc đó không phải là cha của trẻ. Điều này dẫn đến việc ĐKKS không xác thực, ảnh hưởng tới quyền lợi của trẻ.

Do vậy, để bảo đảm quyền lợi của trẻ, trên cơ sở yêu cầu cha nhận con, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tạm thời chỉ đạo Sở Tư pháp giải quyết theo hướng: Trường hợp Tòa án từ chối thụ lý hoặc đình chỉ vụ việc với lý do “không có tranh chấp” thì UBND cấp xã tiếp nhận và giải quyết yêu cầu ĐKKS kết hợp với thủ tục cha nhận con, trong hồ sơ phải có văn bản từ chối hoặc đình chỉ giải quyết của Tòa án và kết quả giám định ADN để chứng minh quan hệ giữa người cha thực tế (là công dân Việt Nam) với người con.

(ii) Quy định pháp luật về việc ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú kết hôn) chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến việc xác định cha và đăng ký khai sinh cho trẻ.

Pháp luật hiện hành không quy định về việc nộp/xuất trình trích lục ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn đối với trường hợp cha, mẹ trẻ kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi thực hiện ĐKKS cho trẻ; tuy nhiên, về nguyên tắc, việc kết hôn đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải được cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền của Việt Nam ghi vào sổ hộ tịch, cấp trích lục ghi chú kết hôn. Do đó, trường hợp trẻ là con giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, cha, mẹ trẻ có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, nhưng chưa thực hiện ghi chú kết hôn tại Việt Nam, các cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng trong việc xác định, ghi thông tin về người cha trong giấy khai sinh của trẻ. Để bảo đảm quyền lợi của trẻ trong trường hợp này, theo chúng tôi, việc ĐKKS có thể được giải quyết theo hướng:

- Nếu giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ đã được hợp pháp hóa lãnh sự thì có thể xác định giấy chứng nhận kết hôn đó là hợp pháp, do đó, UBND cấp huyện thực hiện ĐKKS cho trẻ với đầy đủ thông tin về cha, mẹ trong giấy khai sinh.

- Nếu giấy chứng nhận kết hôn chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, các cơ quan đăng ký hộ tịch cần trao đổi với đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, đề nghị hỗ trợ, tạo điều kiện cho công dân trong việc hợp pháp hóa lãnh sự giấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp không thể hợp pháp hóa lãnh sự được giấy chứng nhận kết hôn, thì UBND cấp huyện thực hiện ĐKKS cho trẻ theo diện con chưa xác định được cha.

2. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

2.1. Quy định của pháp luật về ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 thì các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong đó có sự kiện đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì khi về Việt Nam phải thực hiện ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh (ghi chú khai sinh) theo quy định.

Thẩm quyền giải quyết ghi chú khai sinh thuộc UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam. Khi thực hiện thủ tục, người có yêu cầu phải nộp tờ khai theo mẫu quy định, bản sao, bản dịch có chứng thực/công chứng giấy tờ chứng minh việc khai sinh đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Đối tượng có quyền và trách nhiệm thực hiện thủ tục ghi chú khai sinh là công dân Việt Nam. Do đó, cần xác định rõ vấn đề quốc tịch của trẻ khi thực hiện việc ghi chú khai sinh.

2.2. Vướng mắc trong giải quyết vấn đề ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Theo quy định tại Điều 15 Luật Quốc tịch Việt Nam thì: Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (có quốc tịch theo huyết thống). Trong khi đó, một số nước (ví dụ như Hoa Kỳ…) áp dụng nguyên tắc có quốc tịch theo nơi sinh, theo đó, trẻ em sinh ra trong phạm vi lãnh thổ thì đương nhiên có quốc tịch nước này mà không phụ thuộc vào quốc tịch của cha, mẹ. Trên thực tế, có một số trường hợp, trẻ đã được ĐKKS tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong giấy khai sinh đã ghi trẻ có quốc tịch nước ngoài nhưng khi về Việt Nam, cha mẹ trẻ vẫn có nguyện vọng thực hiện thủ tục ghi chú khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để được cấp giấy tờ hộ tịch của Việt Nam, xác định quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Pháp luật hộ tịch hiện hành chưa có quy định cụ thể về thủ tục ghi chú khai sinh đối với trường hợp trẻ có quốc tịch Việt Nam (theo huyết thống), đồng thời có quốc tịch nước ngoài (theo nơi sinh), vì vậy, cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng khi tiếp nhận, giải quyết.

Trường hợp này, mặc dù trên giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp ghi trẻ có quốc tịch nước ngoài, tuy nhiên, trẻ đương nhiên có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống nên có cơ sở để tiếp nhận yêu cầu ghi chú khai sinh, thông tin “quốc tịch” của trẻ trong trích lục ghi chú khai sinh và sổ ĐKKS được ghi là “Quốc tịch: Việt Nam”. Nếu tên của trẻ trong giấy khai sinh là tên nước ngoài, thì khi ghi chú khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch hướng dẫn cha, mẹ trẻ lựa chọn tên tiếng Việt để ghi vào trích lục ghi chú khai sinh.

Có thể thấy, việc ĐKKS có yếu tố nước ngoài cũng như ghi chú khai sinh hiện vẫn còn một số vướng mắc nhất định. Các hướng giải quyết nêu trong bài viết chủ yếu là theo hướng vận dụng quy định pháp luật để giải quyết kịp thời yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, bảo đảm quyền lợi cho trẻ em. Tuy nhiên, về lâu dài, cần nghiên cứu bổ sung các nội dung này trong văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết ĐKKS, ghi chú khai sinh cho nhóm trẻ này. Riêng đối với trẻ em là con giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng vì các lý do khác nhau lại được ĐKKS với thông tin không xác thực như trường hợp con của cặp vợ chồng Việt - Hàn), để bảo đảm quyền lợi của trẻ em, Bộ Tư pháp cần tiếp tục phối hợp, trao đổi với Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam để có hướng xử lý dứt điểm các trường hợp này. Bên cạnh đó, hướng giải quyết ĐKKS kết hợp nhận cha cho con nêu tại điểm (ii) mục 1.2 chỉ là hướng dẫn mang tính chất tạm thời, về lâu dài, Bộ Tư pháp cần trao đổi với Tòa án nhân dân tối cao để thống nhất về thẩm quyền giải quyết xác định cha cho con cho các trường hợp này, làm cơ sở để các cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của công dân đúng thẩm quyền.

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Lâm

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp





[1]. Khoản 1 Điều 36 Luật Hộ tịch năm 2014.

[2]. Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[3]. Khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: