Thứ tư 11/03/2026 00:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định dấu hiệu “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, bình luận quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và đề xuất hoàn thiện pháp luật để xác định thế nào là “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” về nhãn hiệu được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

1. Dẫn đề

Thời gian vừa qua, dư luận trong nước đặc biệt quan tâm đến vụ án xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp do Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đưa ra xét xử sơ thẩm (đã qua 02 lần đưa ra xét xử) đối với pháp nhân là Công ty cổ phần Tập đoàn Bia Sài Gòn Việt Nam và ông Lê Đình Trung[1]. Đây là vụ án đầu tiên bị khởi tố và đưa ra xét xử liên quan đến “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” được quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng hình sự tại Việt Nam pháp nhân là bị cáo. Nhưng cho đến nay, vụ án vẫn phải dừng lại và đợi hướng dẫn thêm từ cơ quan có thẩm quyền[2].

Xung quanh vụ án này, có nhiều quan điểm và ý kiến đưa ra, trong đó, một trong những vướng mắc được đề cập là thiếu quy định cụ thể để xác định “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” giữa nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

Hiện nay, cơ sở pháp lý chuyên ngành cao nhất về bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 - sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ). Đây là một lĩnh vực đặc biệt phức tạp với rất nhiều hành vi vi phạm và khó xử lý triệt để, vì nó liên quan rất lớn đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh và pháp luật chưa bao quát hết được các hành vi, dấu hiệu vi phạm đã phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, bình luận quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và đề xuất hoàn thiện pháp luật để xác định thế nào là “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” về nhãn hiệu được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

2. Nhãn hiệu hàng được bảo hộ và hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật

Luật Sở hữu trí tuệ định nghĩa: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” (khoản 7 Điều 4). Các sản phẩm ở đây có thể là hữu hình hoặc vô hình nhưng đều có những hình thức đặc định, như là nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp của các sản phẩm được sản xuất kinh doanh… cũng được xác định trong Luật này dưới những định nghĩa chung nhất: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (khoản 16 Điều 4). Đây là một trong những nội dung khó phân biệt trong thực tế cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì rất nhiều loại sản phẩm, hàng hóa có dấu hiệu “khá giống nhau” nhưng có thể hoặc không được coi là nhầm lẫn, giả dạng nhau.

Để bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ cũng xác định những hành vi xâm phạm đối với quyền sở hữu nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ như sau:

2.1. Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

“a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ...”.

Căn cứ vào đặc tính nhãn hiệu của sản phẩm, có thể phân loại các dạng hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu như sau:

(i) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “trùng” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ bảo hộ. Hành vi vi phạm dạng này có tính chất và mức độ vi phạm nghiêm trọng hơn, vì vậy, Luật không quy định điều kiện “có khả năng gây nhầm lẫn” hay không về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ đối với dạng hàng vi này.

(ii) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “trùng” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

(iii) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “tương tự” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

Đối với các dạng hành vi (ii) và hành vi (iii) nêu trên, do có mức độ vi phạm ít nghiêm trọng hơn dạng hành vi (i) nên Luật Sở hữu trí tuệ quy định điều kiện kèm theo là “nếu khi sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ” thì mới cấu thành hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

2.2. Giả mạo nhãn hiệu hàng hóa

Khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý”.

Khoản 5 Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ[3] (Nghị định số 105/2006/NĐ-CP) đã giải thích: “Trường hợp sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ thì bị coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo quy định tại Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

Như vậy, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi áp dụng hơn so với Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ ở hai khía cạnh: Một là, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu bao gồm cả với lĩnh vực dịch vụ; hai là, sản phẩm/dịch vụ chỉ cần đáp ứng “cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ” chứ không chỉ giới hạn là “chính mặt hàng đó”.

Từ các quy định trên, dựa trên tiêu chí về mức độ giống nhau/sự tương đồng giữa nhãn hiệu bảo hộ với dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang xem xét, có thể chia ra thành hai trường hợp bị coi là hàng hóa giả mạo như sau:

(i) Dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét trùng hoàn toàn với nhãn hiệu bảo hộ về mặt nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện (màu sắc, bố cục…);

(ii) Dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ.

Trường hợp (i) tương đối dễ hiểu, dễ đánh giá và áp dụng so với trường hợp (ii), bởi vì, thế nào là “khó phân biệt” về tổng thể cấu tạo và cách trình bày… là các quy định mang tính định tính và tùy thuộc hiểu biết, kiến thức và thông tin có được mà mỗi người có thể có cảm nhận và nhận định khác nhau.

Tuy nhiên, Nghị định này không có sự hướng dẫn đủ chi tiết và rõ ràng hơn rằng thế nào được coi là “khó phân biệt” giữa dấu hiệu, yếu tố bị xem xét và nhãn hiệu được bảo hộ.

3. Nhận định và kiến nghị

Thứ nhất, từ các quy định và phân tích trên đây có thể coi hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là một trường hợp, một dạng của hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, nhưng ở mức độ cao hơn, nghiêm trọng hơn. Theo đó, không phải tất cả các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đều có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự, thay vào đó là các biện pháp pháp lý tương ứng như hành chính, dân sự…

Thứ hai, khoản 53 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017[4] quy định: “Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại…”.

Trở lại với vụ án nêu trên, tác giả nhận thấy, với quy định trên, quan điểm và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước về lĩnh vực sở hữu công nghiệp có thể và nên được hiểu là: Sẽ chỉ xử lý về hình sự đối với dạng hành vi xâm phạm nhãn hiệu ở một mức độ nghiêm trọng nhất định. Tức là, chỉ có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (hoặc giả mạo chỉ dẫn địa lý) mới có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự[5].

Giả định rằng, tất cả các tiêu chí, yếu tố khác đều được đáp ứng để cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì xét về mức độ tương đồng, sự giống nhau (giữa dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét để so với nhãn hiệu bảo hộ) trong trường hợp cụ thể nào, ở mức độ như thế nào, đến giới hạn nào có thể bị coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trong trường hợp nào với mức độ giống nhau, tương đồng thế nào thì chỉ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và bị xử lý hành chính theo quy định?

Thứ ba, trên nguyên tắc áp dụng pháp luật được ghi nhận tại khoản 2 Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ: “Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật khác thì áp dụng quy định của Luật này”, chúng tôi cho rằng, trong khi đợi văn bản hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các bộ ngành liên quan), thì các quy định tương ứng, liên quan trong các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Sở hữu trí tuệ về thủ tục đăng ký xác lập quyền và trong thủ tục xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp về các thuật ngữ, khái niệm: Xâm phạm nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, có khả năng gây nhầm lẫn, khó phân biệt về tổng thể, nhãn hiệu nổi tiếng… cũng có thể và cần được các cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp (bao gồm Tòa án) tham chiếu, tham khảo khi xem xét, giải quyết vụ việc nhằm kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu.

ThS. Tăng Đức Khương

Công ty cổ phần Sở hữu công nghiệp INVESTIP


[1] Ngày 06/5/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đưa vụ án “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” ra xét xử lần 2 đối với pháp nhân là Công ty cổ phần Tập đoàn Bia Sài Gòn Việt Nam (Công ty Bia Sài Gòn Việt Nam) và ông Lê Đình Trung, xem: https://lsvn.vn/vu-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-bia-sai-gon-quyen-so-huu-tri-tue-ve-kieu-dang-cong-nghiep-phat-sinh-khi-nao1624523083.html, truy cập ngày 01/9/2021.

[2] Ngày 11/9/2019, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 8172/VPCP-V.I, theo đó, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình đã có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý vướng mắc trong xử lý tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo Điều 226 của Bộ luật Hình sự: “Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Công an trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 225, Điều 226 của Bộ luật Hình sự”, xem: https://lsvn.vn/vu-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-bia-sai-gon-quyen-so-huu-tri-tue-ve-kieu-dang-cong-nghiep-phat-sinh-khi-nao1624523083.html, truy cập ngày 01/9/2021.

[3] Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 và Nghị định số 154/2018/NĐ-CP ngày 09/11/2018 của Chính phủ.

[4] Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem thêm: https://investip.vn/vi/nhung-thay-doi-cua-phap-luat-hinh-su-ve-thuc-thi-quyen-so-huu-tri-tue-tai-viet-nam/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: