Thứ tư 26/08/2026 19:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định dấu hiệu “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, bình luận quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và đề xuất hoàn thiện pháp luật để xác định thế nào là “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” về nhãn hiệu được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

1. Dẫn đề

Thời gian vừa qua, dư luận trong nước đặc biệt quan tâm đến vụ án xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp do Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đưa ra xét xử sơ thẩm (đã qua 02 lần đưa ra xét xử) đối với pháp nhân là Công ty cổ phần Tập đoàn Bia Sài Gòn Việt Nam và ông Lê Đình Trung[1]. Đây là vụ án đầu tiên bị khởi tố và đưa ra xét xử liên quan đến “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” được quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng hình sự tại Việt Nam pháp nhân là bị cáo. Nhưng cho đến nay, vụ án vẫn phải dừng lại và đợi hướng dẫn thêm từ cơ quan có thẩm quyền[2].

Xung quanh vụ án này, có nhiều quan điểm và ý kiến đưa ra, trong đó, một trong những vướng mắc được đề cập là thiếu quy định cụ thể để xác định “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” giữa nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

Hiện nay, cơ sở pháp lý chuyên ngành cao nhất về bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 - sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ). Đây là một lĩnh vực đặc biệt phức tạp với rất nhiều hành vi vi phạm và khó xử lý triệt để, vì nó liên quan rất lớn đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh và pháp luật chưa bao quát hết được các hành vi, dấu hiệu vi phạm đã phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, bình luận quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và đề xuất hoàn thiện pháp luật để xác định thế nào là “tương tự gây nhầm lẫn, có khả năng gây nhầm lẫn” về nhãn hiệu được bảo hộ với đối tượng, dấu hiệu bị xem xét, bị cáo buộc là vi phạm.

2. Nhãn hiệu hàng được bảo hộ và hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật

Luật Sở hữu trí tuệ định nghĩa: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” (khoản 7 Điều 4). Các sản phẩm ở đây có thể là hữu hình hoặc vô hình nhưng đều có những hình thức đặc định, như là nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp của các sản phẩm được sản xuất kinh doanh… cũng được xác định trong Luật này dưới những định nghĩa chung nhất: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (khoản 16 Điều 4). Đây là một trong những nội dung khó phân biệt trong thực tế cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì rất nhiều loại sản phẩm, hàng hóa có dấu hiệu “khá giống nhau” nhưng có thể hoặc không được coi là nhầm lẫn, giả dạng nhau.

Để bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ cũng xác định những hành vi xâm phạm đối với quyền sở hữu nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ như sau:

2.1. Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

“a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ...”.

Căn cứ vào đặc tính nhãn hiệu của sản phẩm, có thể phân loại các dạng hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu như sau:

(i) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “trùng” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ bảo hộ. Hành vi vi phạm dạng này có tính chất và mức độ vi phạm nghiêm trọng hơn, vì vậy, Luật không quy định điều kiện “có khả năng gây nhầm lẫn” hay không về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ đối với dạng hàng vi này.

(ii) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “trùng” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

(iii) Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi sử dụng dấu hiệu, yếu tố “tương tự” với nhãn hiệu bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

Đối với các dạng hành vi (ii) và hành vi (iii) nêu trên, do có mức độ vi phạm ít nghiêm trọng hơn dạng hành vi (i) nên Luật Sở hữu trí tuệ quy định điều kiện kèm theo là “nếu khi sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ” thì mới cấu thành hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

2.2. Giả mạo nhãn hiệu hàng hóa

Khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý”.

Khoản 5 Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ[3] (Nghị định số 105/2006/NĐ-CP) đã giải thích: “Trường hợp sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ thì bị coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo quy định tại Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

Như vậy, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi áp dụng hơn so với Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ ở hai khía cạnh: Một là, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu bao gồm cả với lĩnh vực dịch vụ; hai là, sản phẩm/dịch vụ chỉ cần đáp ứng “cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ” chứ không chỉ giới hạn là “chính mặt hàng đó”.

Từ các quy định trên, dựa trên tiêu chí về mức độ giống nhau/sự tương đồng giữa nhãn hiệu bảo hộ với dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang xem xét, có thể chia ra thành hai trường hợp bị coi là hàng hóa giả mạo như sau:

(i) Dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét trùng hoàn toàn với nhãn hiệu bảo hộ về mặt nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện (màu sắc, bố cục…);

(ii) Dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ.

Trường hợp (i) tương đối dễ hiểu, dễ đánh giá và áp dụng so với trường hợp (ii), bởi vì, thế nào là “khó phân biệt” về tổng thể cấu tạo và cách trình bày… là các quy định mang tính định tính và tùy thuộc hiểu biết, kiến thức và thông tin có được mà mỗi người có thể có cảm nhận và nhận định khác nhau.

Tuy nhiên, Nghị định này không có sự hướng dẫn đủ chi tiết và rõ ràng hơn rằng thế nào được coi là “khó phân biệt” giữa dấu hiệu, yếu tố bị xem xét và nhãn hiệu được bảo hộ.

3. Nhận định và kiến nghị

Thứ nhất, từ các quy định và phân tích trên đây có thể coi hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là một trường hợp, một dạng của hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, nhưng ở mức độ cao hơn, nghiêm trọng hơn. Theo đó, không phải tất cả các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đều có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự, thay vào đó là các biện pháp pháp lý tương ứng như hành chính, dân sự…

Thứ hai, khoản 53 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017[4] quy định: “Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại…”.

Trở lại với vụ án nêu trên, tác giả nhận thấy, với quy định trên, quan điểm và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước về lĩnh vực sở hữu công nghiệp có thể và nên được hiểu là: Sẽ chỉ xử lý về hình sự đối với dạng hành vi xâm phạm nhãn hiệu ở một mức độ nghiêm trọng nhất định. Tức là, chỉ có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (hoặc giả mạo chỉ dẫn địa lý) mới có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự[5].

Giả định rằng, tất cả các tiêu chí, yếu tố khác đều được đáp ứng để cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì xét về mức độ tương đồng, sự giống nhau (giữa dấu hiệu bị nghi ngờ - yếu tố đang được xem xét để so với nhãn hiệu bảo hộ) trong trường hợp cụ thể nào, ở mức độ như thế nào, đến giới hạn nào có thể bị coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trong trường hợp nào với mức độ giống nhau, tương đồng thế nào thì chỉ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và bị xử lý hành chính theo quy định?

Thứ ba, trên nguyên tắc áp dụng pháp luật được ghi nhận tại khoản 2 Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ: “Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật khác thì áp dụng quy định của Luật này”, chúng tôi cho rằng, trong khi đợi văn bản hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các bộ ngành liên quan), thì các quy định tương ứng, liên quan trong các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Sở hữu trí tuệ về thủ tục đăng ký xác lập quyền và trong thủ tục xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp về các thuật ngữ, khái niệm: Xâm phạm nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, có khả năng gây nhầm lẫn, khó phân biệt về tổng thể, nhãn hiệu nổi tiếng… cũng có thể và cần được các cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp (bao gồm Tòa án) tham chiếu, tham khảo khi xem xét, giải quyết vụ việc nhằm kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu.

ThS. Tăng Đức Khương

Công ty cổ phần Sở hữu công nghiệp INVESTIP


[1] Ngày 06/5/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đưa vụ án “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” ra xét xử lần 2 đối với pháp nhân là Công ty cổ phần Tập đoàn Bia Sài Gòn Việt Nam (Công ty Bia Sài Gòn Việt Nam) và ông Lê Đình Trung, xem: https://lsvn.vn/vu-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-bia-sai-gon-quyen-so-huu-tri-tue-ve-kieu-dang-cong-nghiep-phat-sinh-khi-nao1624523083.html, truy cập ngày 01/9/2021.

[2] Ngày 11/9/2019, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 8172/VPCP-V.I, theo đó, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình đã có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý vướng mắc trong xử lý tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo Điều 226 của Bộ luật Hình sự: “Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Công an trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 225, Điều 226 của Bộ luật Hình sự”, xem: https://lsvn.vn/vu-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-bia-sai-gon-quyen-so-huu-tri-tue-ve-kieu-dang-cong-nghiep-phat-sinh-khi-nao1624523083.html, truy cập ngày 01/9/2021.

[3] Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 và Nghị định số 154/2018/NĐ-CP ngày 09/11/2018 của Chính phủ.

[4] Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem thêm: https://investip.vn/vi/nhung-thay-doi-cua-phap-luat-hinh-su-ve-thuc-thi-quyen-so-huu-tri-tue-tai-viet-nam/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: