Thứ năm 12/03/2026 09:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp

Việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực cũng như thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề vô cùng quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật. Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực cũng như thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề vô cùng quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật. Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định 04 trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, bao gồm: “1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản; 2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó; 3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”.

Trên thực tế, có rất nhiều tình huống khi áp dụng quy định tại Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 để xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thì người/cơ quan áp dụng pháp luật không tránh khỏi sự lúng túng, khó khăn trong việc xác định văn bản hết hiệu lực thuộc trường hợp nào. Cụ thể trong một số trường hợp điển hình sau đây:

1. Đối với trường hợp hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản

Không có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể thời hạn hết hiệu lực trong văn bản mà phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định và hướng dẫn việc xác định thời điểm (ngày) có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, lại chưa có quy định cụ thể để xác định thời điểm (ngày) hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, để xác định trường hợp nào là “hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản” cũng không phải là vấn đề đơn giản.

Ví dụ như, ngày 01/02/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND quy định giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi giai đoạn 2016 - 2018 trên địa bàn tỉnh A; ngày 01/12/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND quy định giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 2019 trên địa bàn tỉnh A. Cả hai trường hợp này, tại điều khoản về hiệu lực thi hành của văn bản chỉ quy định thời điểm có hiệu lực của văn không có nội dung quy định về thời điểm hết hiệu lực của văn bản. Trong quá trình áp dụng, việc xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản có hai luồng quan điểm như sau: (i) Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng, thời điểm hết hiệu lực của văn bản trong hai trường hợp này đã được xác định ngay trong văn bản, cụ thể đối với Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND, văn bản này chỉ áp dụng trong giai đoạn 2016 – 2018, do đó, văn bản này chỉ có hiệu lực đến ngày 31/12/2018; đối với Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND, văn bản này quy định giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 2019, do đó, văn bản này chỉ có hiệu lực đến ngày 31/12/2019; (ii) Luồng quan điểm thứ hai cho rằng, hiệu lực thi hành của văn bản phải được xác định cụ thể ngày, tháng, năm có hiệu lực của văn bản, cho nên, trường hợp “hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản” thì trong văn bản phải quy định cụ thể ngày, tháng, năm hết hiệu lực của văn bản.

2. Đối với trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực

Tình huống thứ nhất, ngày 10/8/2018, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 71/2018/TT-BTC quy định chế độ tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chế độ chi tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chế độ tiếp khách trong nước. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2018 và Thông tư này bãi bỏ Thông tư số 01/2010/TT-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước.

Tại Điều 33 Thông tư số 71/2018/TT-BTC quy định, tiếp tục giao cho Hội đổng nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết mức chi cụ thể tiếp khách nước ngoài, tổ chức hội nghị quốc tế tại Việt Nam, chi tiếp khách trong nước của địa phương. Tuy nhiên, phần lớn ở các địa phương, kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh diễn ra vào khoảng nửa đầu tháng 12/2018, do đó, một số địa phương “không kịp” xây dựng và trình Hội đồng nhân dân tại kỳ họp này thông qua nghị quyết quy định chi tiết mức chi cụ thể tiếp khách nước ngoài, tổ chức hội nghị quốc tế tại Việt Nam, chi tiếp khách trong nước của địa phương. Trên thực tế, ở địa phương vẫn xác định trường hợp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết quy định chế độ chi tiêu (mức chi cụ thể) đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước trên địa bàn của địa phương - Nghị quyết quy định chi tiết Thông tư số 01/2010/TT-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thì Nghị quyết này sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01/11/2018 (áp dụng quy định khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 để xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản), nếu địa phương chưa kịp ban hành nghị quyết mới quy định chi tiết Thông tư số 71/2018/TT-BTC, thì sẽ áp dụng mức chi cụ thể tiếp khách nước ngoài, tổ chức hội nghị quốc tế tại Việt Nam, chi tiếp khách trong nước của địa phương theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Thông tư số 71/2018/TT-BTC.

Tình huống thứ hai, ngày 26/7/2018, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 61/2018/TT-BTC quy định nội dung và mức chi để thực hiện chế độ dinh dưỡng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành tích cao, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/8/2018 và thay thế Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL ngày 07/11/2011 của liên Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành tích cao.

Tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 61/2018/TT-BTC quy định “Căn cứ mức chi quy định tại Thông tư này và khả năng cân đối nguồn ngân sách của địa phương: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định mức chi và việc sử dụng kinh phí thực hiện chế độ dinh dưỡng đối với huấn luyện viên, vận động viên thuộc địa phương quản lý (trong đó bao gồm cả đội tuyển cấp huyện) phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương và đảm bảo theo quy định hiện hành”. Tuy nhiên, Thông tư này lại không có quy định hướng dẫn đối với trường hợp địa phương chưa ban hành văn bản quy định mức chi cụ thể theo quy định về nội dung và mức chi tại Thông tư số 61/2018/TT-BTC thì thực hiện như thế nào. Trên thực tế áp dụng văn bản, có hai luồng quan điểm: (i) Luồng quan điểm thứ nhất, kể từ ngày 15/8/2018, văn bản quy phạm pháp luật của địa phương quy định chi tiết Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL sẽ hết hiệu đồng thời với Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL, trường hợp địa phương chưa ban hành văn bản quy định mức chi cụ thể theo quy định về nội dung và mức chi tại Thông tư số 61/2018/TT-BTC thì sẽ áp dụng trực tiếp quy định về nội dung chi, mức chi tại Thông tư số 61/2018/TT-BTC; (ii) Luồng quan điểm thứ hai lại cho rằng, Thông tư số 61/2018/TT-BTC giao cho địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết mức chi áp dụng tại địa phương, do đó, trường hợp địa phương chưa ban hành văn bản quy định mức chi cụ thể theo quy định về nội dung và mức chi tại Thông tư số 61/2018/TT-BTC thì địa phương vẫn sẽ áp dụng văn bản của địa phương quy định chi tiết Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL, văn bản của địa phương quy định chi tiết Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL sẽ không hết hiệu lực đồng thời với Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Để xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thì phải trên cơ sở quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì hiện nay, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể trong việc xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong một số lĩnh vực cụ thể việc hướng dẫn áp dụng văn bản pháp luật khác nhau, chẳng hạn như trường hợp quy định tại Thông tư số 71/2018/TT-BTC và Thông tư số 61/2018/TT-BTC nói trên; hoặc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;… dẫn đến việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật nói chung cũng như việc xác định thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật nói riêng vẫn chưa có sự thống nhất. Hy vọng rằng, quá trình hoàn thiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ khắc phục được vấn đề này.

Lương Thị Thảo

Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: