Thứ năm 12/03/2026 21:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý hợp đồng đang có hiệu lực của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản

Bài viết làm rõ những bất cập của các quy định về xử lý hợp đồng đang có hiệu lực của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Bài viết làm rõ những bất cập của các quy định về xử lý hợp đồng đang có hiệu lực của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Một số bất cập của quy định pháp luật

Khi doanh nghiệp chưa bị tuyên bố phá sản đồng nghĩa với việc tư cách chủ thể của doanh nghiệp vẫn còn, về nguyên tắc, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các hợp đồng đã ký trước đó và đang có hiệu lực. Tuy nhiên, với mục đích tối đa hóa tài sản cho doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của tập thể chủ nợ, “trên cơ sở tiếp thu luật phá sản của các nước”[1], pháp luật Việt Nam đã có một số quy định về việc xử lý hợp đồng đang có hiệu lực trong quá trình giải quyết phá sản. Theo Luật Phá sản năm 2014, đối với hợp đồng đang có hiệu lực của các doanh nghiệp đang trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản (nhưng chưa bị tuyên bố phá sản) có thể bị xử lý theo một trong các hướng sau:

- Tạm đình chỉ đối với hợp đồng có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp

Điều 61 Luật Phá sản năm 2014 quy định, nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp thì chủ nợ, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, nếu chấp nhận thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng; nếu không chấp nhận thì thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết. Trường hợp Tòa án quyết định không mở thủ tục phá sản thì Tòa án hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.

Biện pháp này được xây dựng nhằm bảo đảm quyền lợi cho chính doanh nghiệp và các chủ nợ của doanh nghiệp, giúp tối đa hóa tài sản của doanh nghiệp, tăng cơ hội phục hồi cho doanh nghiệp nên việc pháp luật trao quyền yêu cầu cho chủ nợ và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là hoàn toàn phù hợp. Biện pháp này cũng được xây dựng phù hợp với Nguyên tắc C5.1 trong Hệ thống nguyên tắc cộng đồng của Ngân hàng Thế giới về khả năng thanh toán hiệu quả và hệ thống quyền chủ nợ/con nợ[2] (Nguyên tắc ICR), cụ thể: “Khi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được nộp, trước khi Tòa án ra quyết định, cần áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ nếu cần để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và quyền lợi của cổ đông”[3].

- Đình chỉ đối với hợp đồng có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp/tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng không gây bất lợi cho doanh nghiệp

Theo Điều 61, Điều 62 Luật Phá sản năm 2014, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án phải xem xét các hợp đồng bị tạm đình chỉ để ra quyết định tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc nếu được thực hiện sẽ không gây bất lợi cho doanh nghiệp; hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng gây bất lợi cho doanh nghiệp. Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, nếu tài sản mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhận được từ hợp đồng vẫn còn tồn tại trong khối tài sản của doanh nghiệp thì bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp có quyền đòi lại tài sản và thanh toán số tiền đã nhận của doanh nghiệp; nếu tài sản đó không còn thì bên giao kết có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với phần chưa được thanh toán. Trường hợp việc đình chỉ thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp thì bên giao kết có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với khoản thiệt hại.

- Giám sát chặt chẽ nếu doanh nghiệp tự ý chấm dứt hợp đồng đang có hiệu lực

Về nguyên tắc, nếu sau khi doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản, những hợp đồng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp luôn được khuyến khích thực hiện. Vì vậy, Điều 49 Luật Phá sản năm 2014 quy định, doanh nghiệp phải báo cáo với quản tài viên (QTV), doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản (DNQLTLTS) trước khi tự ý chấm dứt thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp thì QTV, DNQLTLTS có trách nhiệm trả lời cho doanh nghiệp về việc được thực hiện hoặc không được thực hiện và phải chịu trách nhiệm về việc trả lời của mình. QTV, DNQLTLTS phải báo cáo thẩm phán về nội dung trả lời của mình. Nếu việc tự ý chấm dứt thực hiện hợp đồng có hiệu lực mà không có sự đồng ý của QTV, DNQLTLTS thì bị đình chỉ thực hiện, khôi phục lại tình trạng ban đầu và giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật.

Nhìn chung, pháp luật đã có sự chú ý đến việc xử lý hợp đồng đang có hiệu lực trong thủ tục phá sản. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế sau:

Thứ nhất, về thời hạn yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng

Điều 61 Luật Phá sản năm 2014 quy định, thời hạn yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong khi, Điều 40 Luật Phá sản năm 2014 lại quy định việc thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn. Như vậy, còn rất ít thời gian tính từ khi thông báo việc thụ lý đến khi hết thời hạn yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng (02 ngày làm việc), chưa kể còn phải có một thời gian nhất định từ khi thông báo đến khi nhận được thông báo. Quy định về thời hạn yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng quá “gấp gáp” làm thu hẹp cơ hội doanh nghiệp và chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng đối với những hợp đồng mà việc thực hiện có thể gây bất lợi cho bản thân doanh nghiệp, làm tăng nguy cơ thất thoát tài sản doanh nghiệp và không đạt được mục đích bảo toàn và tối đa hóa tài sản doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, về các hợp đồng bị đình chỉ

Việc pháp luật quy định chỉ xem xét đình chỉ đối với những hợp đồng bị tạm đình chỉ trước đó là không hợp lý vì theo Luật Phá sản năm 2014, chủ thể yêu cầu tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng chỉ bao gồm chủ nợ và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Mặc dù pháp luật phá sản không hạn chế chủ nợ được quyền gửi đơn yêu cầu nhưng vì trong số các chủ thể được thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không bao gồm chủ nợ mà chỉ đề cập đến “người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”[4] nên có thể hiểu chỉ trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ thì chủ nợ đó sẽ được thông báo việc thụ lý, đồng thời có quyền yêu cầu tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng một chủ nợ bao quát tất cả các hợp đồng của doanh nghiệp là điều không thể, nên chủ thể yêu cầu chủ yếu vẫn là bản thân doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Vấn đề đặt ra là, trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp mặc dù biết việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đó là không có lợi cho doanh nghiệp nhưng họ vì một số lý do nào đó vẫn muốn hợp đồng được tiếp tục thực hiện (là cơ hội để họ tẩu tán tài sản, đối tác trong hợp đồng là người có liên quan…) thì họ sẽ không thực hiện quyền yêu cầu tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thì hợp đồng vẫn tiếp tục được thực hiện mà không bị đình chỉ. Điều này có thể gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ.

Thứ ba, dấu hiệu “có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp” nên được thay thế bằng một dấu hiệu khác rõ ràng hơn

Pháp luật không nên dùng từ “có khả năng” - thể hiện sự không chắc chắn trong cơ sở ra quyết định tạm đình chỉ hay quyết định đình chỉ đối với hợp đồng đang có hiệu lực của Tòa án. Theo gợi ý của Nguyên tắc ICR, có thể sử dụng thuật ngữ “hợp đồng trở thành gánh nặng cho khối tài sản của doanh nghiệp”[5], hoặc theo Luật Phá sản của Liên bang Nga thì sử dụng dấu hiệu “giao dịch đó cản trở việc khôi phục khả năng thanh toán của con nợ”[6].

Thứ tư, về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đối với các hợp đồng đã bị tạm đình chỉ

Có thể thấy, sẽ rất vô lý khi một hợp đồng đã bị tạm đình chỉ với lý do việc tiếp tục thực hiện hợp đồng “sẽ có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp” mà ngay sau đó, Tòa án lại ra quyết định tiếp tục thực hiện hợp đồng đó với lý do “nếu được thực hiện sẽ không gây bất lợi cho doanh nghiệp”. Pháp luật cần sớm khắc phục hạn chế này.

Thứ năm, về hậu quả pháp lý khi hợp đồng bị đình chỉ

Hiện nay, quy định về hậu quả pháp lý khi hợp đồng bị đình chỉ trong Luật Pháp sản năm 2014 chưa nhất quán với quy định trong Luật Thương mại năm 2005, được sửa đổi một số điều bởi Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 (Luật Thương mại). Theo khoản 1 Điều 311 Luật Thương mại thì: “Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng”. Trong khi Điều 62 Luật Phá sản năm 2014 lại quy định: Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, nếu tài sản mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhận được từ hợp đồng vẫn còn tồn tại trong khối tài sản của doanh nghiệp thì bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp có quyền đòi lại tài sản và thanh toán số tiền đã nhận của doanh nghiệp; nếu tài sản đó không còn thì bên giao kết có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với phần chưa được thanh toán. Cách quy định về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ hợp đồng theo pháp luật phá sản không giống cách quy định về hậu quả pháp lý của đình chỉ hợp đồng theo pháp luật thương mại mà giống hủy bỏ hợp đồng theo tinh thần của Luật Thương mại (hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng - Điều 314 Luật Thương mại).

Thứ sáu, về việc bổ sung các quy định đối với việc xác định hiệu lực của các thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của hợp đồng khi một trong các bên trong hợp đồng bị mở thủ tục phá sản

Trong thực tế, các hợp đồng thường có một điều khoản quy định hợp đồng sẽ tự động chấm dứt hay trao cho một bên quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên kia lâm vào tình trạng phá sản (ipso facto clauses)[7]. Mặc dù vậy, pháp luật phá sản hiện nay chưa có quy định về việc xác định hiệu lực của những điều khoản này. Một khi pháp luật không cấm thì các bên có quyền thỏa thuận và thỏa thuận đó sẽ vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, những thỏa thuận này đôi khi làm mất đi cơ hội phục hồi hoặc cơ hội tăng tài sản cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, gây bất lợi cho các chủ nợ. Pháp luật các quốc gia có cách quy định khác nhau đối với vấn đề này. Án lệ Anh công nhận giá trị pháp lý của các điều khoản cho phép tự động chấm dứt hợp đồng hay trao cho một bên của hợp đồng quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mở thủ tục phá sản đối với bên kia của hợp đồng. Bộ luật phá sản của Mỹ vô hiệu hóa mọi quy định của hợp đồng đặt ra điều kiện cho phép một bên được chấm dứt hợp đồng khi bên kia lâm vào tình trạng phá sản. Pháp luật Pháp nghiêm cấm mọi điều khoản hợp đồng quy định việc mở thủ tục phá sản là điều kiện để hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt hợp đồng đang được thực hiện và đặt ra nguyên tắc, theo đó, bên kia của hợp đồng (bên không lâm vào tình trạng phá sản) phải thực hiện các nghĩa vụ của mình cho dù bên lâm vào tình trạng phá sản đã vi phạm nghĩa vụ xác lập trước khi mở thủ tục phá sản[8]. Pháp luật Việt Nam cần sớm bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, pháp luật nên quy định chủ nợ, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày các chủ thể này nhận được thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thay vì thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản như cách quy định hiện nay. Đây là khoảng thời gian hợp lý đủ để chủ nợ cũng như bản thân doanh nghiệp xem xét đối với các hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp hay không.

Thứ hai, pháp luật phá sản nên quy định theo hướng sau khi mở thủ tục phá sản, bên cạnh việc xem xét đình chỉ đối với các hợp đồng đã bị tạm đình chỉ thì QTV, DNQLTLTS được quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đó sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Sự sửa đổi này phù hợp với Nguyên tắc ICR cũng như pháp luật một số quốc gia. Nguyên tắc ICR cho rằng, nên trao quyền cho “người hành nghề đại diện phá sản” (insolvency representativ) trong việc đình chỉ, chấm dứt hợp đồng cũng như giải quyết tất cả những hậu quả phát sinh từ việc đình chỉ hợp đồng đó[9]. Pháp luật phá sản của Mỹ cho phép tín thác viên, theo sự chấp thuận của Tòa án, có thể thừa nhận hoặc từ chối bất kỳ hợp đồng đang phải thực thi nào hoặc hợp đồng thuê chưa hết hạn của con nợ[10].

Thứ ba, theo tác giả, tại Điều 61 Luật Phá sản năm 2014 nên thay thế thuật ngữ “hợp đồng trở thành gánh nặng cho khối tài sản của doanh nghiệp” (theo gợi ý của Nguyên tắc ICR) thay vì “có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp”.

Thứ tư, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đối với các hợp đồng đã bị tạm đình chỉ nên xuất phát từ việc vì những thay đổi từ thực tế của việc thực hiện hợp đồng khiến cho hợp đồng không còn là gánh nặng cho khối tài sản doanh nghiệp mà thậm chí còn là cơ hội để doanh nghiệp tăng giá trị tài sản so với việc không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; hoặc xuất phát từ sai sót trong việc đánh giá dấu hiệu “hợp đồng trở thành gánh nặng cho khối tài sản của doanh nghiệp” khi ban hành quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng trước đó.

Thứ năm, với mục đích tối đa hóa tài sản của doanh nghiệp và cũng để phù hợp với quy định của Luật Thương mại, Điều 62 Luật Phá sản năm 2014 nên quy định theo hướng: Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, nếu bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp chưa thực hiện phần nghĩa vụ đối ứng (đáng lẽ phải thực hiện trước thời điểm đình chỉ) thì có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối ứng đó; nếu doanh nghiệp chưa thực hiện nghĩa vụ đối ứng thì bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với phần chưa được thanh toán.

Thứ sáu, để các quy định pháp luật về xử lý hợp đồng phát huy hiệu quả tối đa, tác giả cho rằng, nên quy định theo hướng vô hiệu hóa các quy định của hợp đồng cho phép một bên được chấm dứt hợp đồng khi bên kia lâm vào tình trạng phá sản.

Thứ bảy, hiện nay, pháp luật mới chỉ quy định đối với hợp đồng đang có hiệu lực thì có thể xử lý theo một trong các hướng: Tiếp tục thực hiện hợp đồng, tạm đình chỉ, đình chỉ hợp đồng, chấm dứt hợp đồng dưới sự giám sát của QTV, DNQLTLTS. Để tăng tính linh hoạt cho việc xử lý hợp đồng đang có hiệu lực, pháp luật cần bổ sung các hướng xử lý khác như hoãn thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn nhất định, chuyển giao hợp đồng cho chủ thể khác thực hiện (như một cách bù trừ nghĩa vụ) với điều kiện những sự can thiệp này sẽ làm giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán.

Thứ tám, pháp luật phá sản của Việt Nam cần bổ sung một số ngoại lệ đối với việc xử lý hợp đồng như cách mà pháp luật một số quốc gia quy định để đảm bảo tính linh hoạt trong việc xử lý các hợp đồng đang được thực hiện cũng như để bảo vệ các lợi ích công cộng, lợi ích xã hội hoặc quyền lợi của người lao động. Theo gợi ý của Nguyên tắc ICR thì các trường hợp ngoại lệ so với nguyên tắc chung về xử lý hợp đồng trong thủ tục phá sản cần có giới hạn, định nghĩa rõ ràng và chỉ được phép áp dụng khi có các lợi ích thương mại, công cộng hoặc xã hội đủ thuyết phục, ví dụ như những trường hợp sau đây: Bảo vệ các quyền bù trừ, theo các nguyên tắc tránh giao dịch bất lợi; bảo vệ các điều khoản tự động chấm dứt hợp đồng, bù trừ nghĩa vụ có trong hợp đồng tài chính; ngăn chặn việc tiếp tục và chuyển giao các hợp đồng dịch vụ cá nhân không thể thay thế được, khi luật pháp không yêu cầu một bên khác phải chấp nhận, nghiệm thu việc thực hiện hợp đồng; thiết lập các quy tắc đặc biệt đối với các hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể[11].

Phan Nữ Hiền Oanh

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. Vũ Thị Hồng Vân (2008), Quản lý và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 83.

[2]. Legal and regulatory frameworks with respect to Insolvency and Creditor/debtor Rights - ICR.

[3]. WB, “Principles for effective insolvency and creditor/debtor regimes”, http://pubdocs.worldbank.org/en/ 919511468425523509/ICR-Principles-Insolvency-Creditor-Debtor-Regimes-2016.pdf, truy cập ngày 18/6/2020, C5.1.

[4]. Điều 40 Luật Phá sản năm 2014.

[5]. WB, “Principles for effective insolvency and creditor/debtor regimes”,

http://pubdocs.worldbank.org/en/919511468425523509/ICR-Principles-Insolvency-Creditor-Debtor-Regimes-2016.pdf, truy cập ngày 15/6/2020, C10.3.

[6]. Chương IV Luật Phá sản Liên bang Nga, http://www.consultant.ru/document/cons_doc_LAW_ 39331/0ee71e7ad6b9d875b491d560c16244a18789529d/.

[7]. Bùi Đức Giang, Pháp luật về thực hiện các hợp đồng đang có hiệu lực trong thủ tục phá sản, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật số 8/2012, tr. 49.

[8]. Bùi Đức Giang, Pháp luật về thực hiện các hợp đồng đang có hiệu lực trong thủ tục phá sản, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật số 8/2012, tr. 53 - 54.

[9]. WB, “Principles for effective insolvency and creditor/debtor regimes”,

http://pubdocs.worldbank.org/en/919511468425523509/ICR-Principles-Insolvency-Creditor-Debtor-Regimes-2016.pdf, truy cập ngày 20/6/2020, C10.3.

[10]. Điều 365 Luật Phá sản Hoa Kỳ, https://www.usbankruptcycode.org/chapter-3/subchapter-iv-administrative-powers/section-365-executory-contracts-and-unexpired-leases/.

[11]. WB, “Principles for effective insolvency and creditor/debtor regimes”, http://pubdocs.worldbank.org/en/ 919511468425523509/ICR-Principles-Insolvency-Creditor-Debtor-Regimes-2016.pdf, truy cập ngày 28/6/2019, C10.4.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: