Thứ tư 05/08/2026 10:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tiền thi hành án thế nào cho đúng quy định pháp luật?

Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử việc xử lý và phân phối tiền thi hành án, tác giả phân tích những quan điểm khác nhau về áp dụng quy định chuyển tiếp của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ.

1. Tình huống pháp lý

Căn cứ Bản án hôn nhân gia đình số 127/2019/HNGĐ-ST ngày 23/7/2019 (Bản án số 127) của Tòa án nhân dân huyện X giữa chị M với anh H, cùng nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, Bản án đã tuyên:

- Anh H được nhận các tài sản là thửa đất số 37, tờ bản đồ 40, diện tích 4.467,8m2, 01 căn nhà, 06 lò sấy lúa, 01 kho và đất cặp lộ 869 và tài sản trong nhà; anh H trả lại cho chị M một phần hai giá trị tài sản chung là gần 8,5 tỷ đồng và lãi suất chậm trả.

- Anh H, chị M có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP KTVN gần 7,8 tỷ đồng, cùng lãi suất chậm trả, cũng như Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

- Anh H, chị M liên đới trả cho anh N 173 triệu đồng, trả cho bà C 174 triệu đồng, trả cho chị T và anh V 1,15 tỷ đồng, trả cho chị B 420 triệu đồng, trả cho chị D hơn 1,54 tỷ đồng, trả cho bà Đ 500 triệu đồng, trả cho chị T và anh P gần 2,5 tỷ đồng, trả cho anh Q hơn 210 triệu đồng, trả cho anh K 98 triệu đồng, trả cho bà A 30 chỉ vàng 24kr; cùng tiền lãi chậm trả.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, vào ngày 30/8/2019, chị B, chị D, bà Đ, anh Q, anh K, bà A đã nộp đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 20/9/2019, chấp hành viên đã ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 79/QĐ-CCTHADS. Ngày 07/10/2019, anh N, bà C nộp đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 09/10/2019, chị T và anh V nộp đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 02/3/2020, Ngân hàng nộp đơn yêu cầu thi hành án (đã trừ số tiền gốc anh H, chị M đã trả, còn lại hơn 4,2 tỷ đồng). Ngày 20/8/2020, chị R, anh S (cùng bản án khác) nộp đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 11/01/2021, bà Đ, anh P; ông Y (bản án khác) nộp đơn yêu cầu thi hành án.

Đến ngày 20/7/2020, chấp hành viên tiến hành thông báo về việc cưỡng chế và ngày 20/8/2020, chấp hành viên kết hợp với chính quyền địa phương tiến hành kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh H và chị M.

Sau nhiều lần giảm giá, đến ngày 17/01/2023, đã bán đấu giá thành tài sản kê biên với số tiền là hơn 13 tỷ đồng.

2. Chênh lệch tiền thi hành án giữa hai lần thông báo về xử lý và phân phối tiền thi hành án

Ngày 17/3/2023, chấp hành viên có Thông báo số 200/TB-CCTHADS về việc xử lý tiền bán tài sản của anh H và bảng kê phân phối tiền để thi hành án. Theo đó, sau khi trừ các khoản chi phí cưỡng chế, án phí,…thì số tiền thi hành án còn hơn 12 tỷ đồng. Ngân hàng được ưu tiên thanh toán đủ tiền nợ gốc và lãi là gần 7,8 tỷ đồng; những người được thi hành án theo Bản án số 127 đều cùng hàng ưu tiên thanh toán, mỗi người được nhận tương ứng 63,65% so với số tiền Bản án đã tuyên. Trong đó, chị T và anh V được nhận hơn 732 triệu đồng. Những người yêu cầu thi hành án đối với bản án khác thì không được nhận tiền.

Những người được thi hành án đã nộp đơn yêu cầu thi hành án vào ngày 30/8/2019 đã khiếu nại đối với Thông báo số 200/TB-CCTHAD và bảng phân phối nhưng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X trả lời không chấp nhận đơn khiếu nại.

Tuy nhiên, sau khi họp liên ngành thì Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định thu hồi Quyết định giải quyết khiếu nại, chấp hành viên đã thu hồi Thông báo số 200/TB-CCTHAD và bảng phân phối.

Ngày 25/12/2023, chấp hành viên ra Thông báo số 117/TB-CCTHADS về việc xử lý tiền bán tài sản của anh H và bảng kê phân phối tiền để thi hành án. Theo đó, sau khi trừ các khoản chi phí cưỡng chế, án phí,… thì số tiền thi hành án còn hơn 12 tỷ đồng. Cùng hàng ưu tiên thanh toán với Ngân hàng là các đương sự nộp đơn vào ngày 30/8/2019 (trước thời điểm ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 79/QĐ-CCTHADS ngày 20/9/2019), các đương sự này được nhận đủ số tiền theo Bản án tuyên và lãi chậm trả theo quy định; còn lại hơn 500 triệu đồng được chia theo tỷ lệ đối với những người đã nộp đơn yêu cầu thi hành án sau ngày 20/9/2019. Trong đó, chị T và anh V được nhận hơn 120 triệu đồng (đã ít hơn tới 600 triệu đồng so với việc chia theo thông báo về việc xử lý tiền trước đó). Bên cạnh đó, những người được thi hành án theo Thông báo số 200/TB-CCTHAD không được nhận tiền (trường hợp thuộc bản án khác) nhưng theo Thông báo số 117/TB-CCTHADS thì lại được nhận tiền.

Rõ ràng, giữa hai lần phân phối tiền thi hành án đã có sự chênh lệch rất lớn về số tiền của mỗi người được thi hành án được nhận.

Nguyên nhân của tình trạng chênh lệch như trên là do hướng dẫn của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/9/2015 (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) và Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/5/2020 (Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) có sự khác nhau về trường hợp thi hành án đối với những người được thi hành án trong cùng một bản án.

3. Áp dụng điều khoản chuyển tiếp sao cho đúng trong việc xử lý tiền thi hành án

3.1. Thực tiễn xử lý tiền thi hành án theo Nghị định số 62/2015/NĐ-CP

Khoản 1 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định:

“Trường hợp thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên xác định số tiền được thanh toán của những người được thi hành án đã yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế.

Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành xác định nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo bản án, quyết định thì cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho người đã yêu cầu thi hành án theo tỉ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng theo loại tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo và ấn định thời hạn không quá 01 tháng cho những người được thi hành án chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu.

Hết thời hạn thông báo mà cơ quan thi hành án dân sự không nhận được yêu cầu thi hành án thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm hết thời hạn thông báo; số tiền còn lại, nếu có, được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả lại cho người phải thi hành án”.

Thực tiễn khi thực hiện hướng dẫn này thì trong trường hợp những người được thi hành án trong cùng một bản án, quyết định của Tòa án sẽ cùng hàng thứ tự ưu tiên thanh toán mà không lệ thuộc vào việc nộp đơn yêu cầu thi hành án trước hay sau thời điểm chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án. Căn cứ vào quy định này của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì cách xử lý theo Thông báo số 200/TB-CCTHADS là phù hợp.

3.2. Cần áp dụng thống nhất điều khoản chuyển tiếp

Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực vào ngày 01/5/2020 đã có hướng dẫn về thứ tự ưu tiên thanh toán khác với hướng dẫn của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, Điều 3 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có quy định về việc chuyển tiếp các quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP trong một số trường hợp cụ thể như sau: “Đối với việc thi hành án đã thi hành một phần hoặc chưa thi hành xong trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành thì kết quả thi hành án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị định này”. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định chuyển tiếp của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP còn nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Do thủ tục thanh toán tiền thi hành án được thực hiện trong giai đoạn Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực nên không thể áp dụng điều khoản chuyển tiếp. Do đó, việc ra Thông báo số 117/TB-CCTHADS là phù hợp với quy định pháp luật.

Quan điểm thứ hai: Căn cứ vào thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật, thời điểm này trong giai đoạn Nghị định số 62/2015/NĐ-CP có hiệu lực nên được áp dụng chuyển tiếp. Do đó, việc ra Thông báo số 200/TB-CCTHADS là phù hợp với quy định pháp luật.

Quan điểm thứ ba (cũng là quan điểm của tác giả): Cả hai quan điểm về áp dụng pháp luật của chấp hành viên qua hai lần phân phối đều không phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong trường hợp này cần áp dụng điều khoản chuyển tiếp nhưng thời điểm để tính việc chuyển tiếp phải là thời điểm các đương sự nộp đơn yêu cầu thi hành án. Bởi vì, khi nộp đơn yêu cầu thi hành án trước thời điểm Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực thì đã phát sinh thủ tục thi hành án đối với việc thi hành án đó. Đồng thời, khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, các đương sự vẫn cho rằng Nghị định số 62/2015/NĐ-CP còn hiệu lực thi hành, họ không thể biết trước được có sự thay đổi từ những quy định của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP nên không thể không áp dụng điều khoản chuyển tiếp để tước bỏ quyền lợi của các đương sự nộp đơn yêu cầu thi hành án trước thời điểm Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực.

Mặt khác, khi xây dựng hoặc thay đổi một chính sách pháp luật khác so với các văn bản pháp luật trước đó thì các văn bản pháp luật đều có điều khoản chuyển tiếp để bảo lưu các quyền lợi của các đương sự theo các văn bản pháp luật trước đó. Vì vậy, tác giả kiến nghị cần hướng dẫn nghiệp vụ về việc áp dụng điều khoản chuyển tiếp của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP một cách thống nhất theo hướng như quan điểm thứ ba.

4. Xác định số tiền thi hành án phân phối sao cho phù hợp

Theo quan điểm thứ ba đã nêu trên về áp dụng quy định chuyển tiếp của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP thì số tiền thi hành án sẽ được phân phối cụ thể như sau: Số tiền còn lại, sau khi trừ án phí, chi phí, thuế… là hơn 12 tỷ đồng:

- Hàng ưu tiên thứ nhất là Ngân hàng được nhận hơn 7,8 tỷ đồng (do có thế chấp tài sản bảo đảm), còn lại khoảng 4,2 tỷ đồng.

- Hàng ưu tiên thứ hai là những người đã nộp đơn yêu cầu thi hành án trước thời điểm Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực pháp luật: Chị B nhận 420 triệu đồng, chị D nhận hơn 1,54 tỷ đồng, bà Đ nhận 500 triệu đồng, anh B nhận hơn 141 triệu đồng (vì đã được trả một phần), anh K nhận 98 triệu đồng, bà A nhận 165 triệu đồng (vàng quy đổi ra tiền), bà C nhận 174 triệu đồng, anh N nhận 173 triệu đồng, chị T và anh V nhận 1,15 tỷ đồng. Tổng số tiền nợ là hơn 4,36 tỷ đồng, trong khi số tiền thi hành án còn lại là 4,2 tỷ đồng. Như vậy, mỗi người trong hàng ưu tiên này được nhận là 96,33% trên số tiền nợ gốc của mình.

- Những người được thi hành án còn lại không được nhận tiền xử lý tài sản vì nộp đơn yêu cầu sau thời điểm Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực pháp luật nên không áp dụng điều khoản chuyển tiếp.

Trần Tú Anh & Huỳnh Minh Khánh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.

Theo dõi chúng tôi trên: