Thứ tư 04/03/2026 14:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về phạm vi hòa giải ở cơ sở

Hòa giải ở cơ sở là một truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, hoạt động vì mọi người trên nền tảng đạo đức xã hội và pháp luật, nhằm giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trên cơ sở tự nguyện của các bên, qua đó, góp phần ổn định trật tự, an ninh từ cơ sở. Đây là hoạt động mang đậm tính nhân văn, đã được thể chế hóa thành pháp luật. Hiện nay, để điều chỉnh hoạt động này, Quốc hội đã ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Luật này ra đời là một bước tiến quan trọng cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, đó là hoạt động mà hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định.


Để xác định phạm vi được hòa giải, tại Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định, việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp: Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; các vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính;… Phạm vi hòa giải ở cơ sở cũng được hướng dẫn cụ thể hơn tại Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Theo đó, tại Điều 5 Nghị định này quy định rõ về các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được hoặc không được thực hiện hòa giải. Về cơ bản, những quy định này là khá rõ ràng và đã tạo được cơ sở pháp lý để áp dụng thực hiện được thuận lợi trên thực tế trong thời gian qua.

Tuy nhiên, đối với nội dung “được hòa giải đối với các vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính” và “không được hòa giải đối với vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính” được quy định trong 02 văn bản nêu trên vẫn khó xác định trên thực tế, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, về xác định mức độ của vi phạm pháp luật

Khi đọc lướt qua nội dung quy định trên, có thể ai cũng hiểu rằng, “được hòa giải đối với các vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính” và “không được hòa giải đối với vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính” có nghĩa là hòa giải viên được tiếp nhận để hòa giải đối với những vi phạm chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; ngược lại, không được tiếp nhận và hòa giải đối với những vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, khi tiếp nhận vụ việc hòa giải, làm sao xác định được vụ việc đó là vi phạm pháp luật chưa đến mức bị hoặc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính để tiếp nhận hay từ chối vụ việc hòa giải? Liệu hòa giải viên có khả năng tự nhận định và đủ thẩm quyền quyết định không? Cách thức nhận định như thế nào? Và nếu nhận định không đúng, dẫn đến vẫn tiến hành hòa giải đối với vi phạm pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính hoặc từ chối vụ việc vi phạm chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính thì sẽ xử lý hậu quả xảy ra như thế nào?

Liên quan đến các câu hỏi trên, hiện nay, tại Điều 7 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP có hướng dẫn cách thức xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở là “Trong trường hợp chưa xác định được vụ, việc có thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở hay không, thì hòa giải viên đề nghị công chức tư pháp - hộ tịch hướng dẫn”. Song, tác giả cho rằng, hướng dẫn này vẫn còn chung chung và khó thực hiện trên thực tế vì cách thức phối hợp, đề nghị công chức tư pháp - hộ tịch hướng dẫn như thế nào vẫn chưa được quy định và ngay cả công chức tư pháp - hộ tịch cũng không đủ cơ sở, thẩm quyền khẳng định vụ việc có thuộc trường hợp phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính hay không nếu chỉ đơn thuần đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật để nhận định vụ việc. Sau đây là ví dụ cụ thể:

Anh A và anh B có mâu thuẫn, hiềm khích với nhau dẫn đến đánh nhau và có gây thương tích. Đối với trường hợp này, để kết luận vụ việc đến mức xử lý hình sự và hành chính hay chưa thì không thể suy đoán chủ quan được, bởi lẽ để xử lý hình sự phải tuân thủ những trình tự tố tụng theo quy định, như: Phải khởi tố vụ án để điều tra làm rõ hành vi của mỗi bên, phải thực hiện giám định để xác định tỷ lệ thương tích,… Tương tự đó, để xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền phải lập biên bản để xác định hành vi vi phạm mới đủ cơ sở để xử lý. Do đó, nếu hòa giải viên hoặc công chức tư pháp - hộ tịch chỉ tự nhận định theo quy định của pháp luật một cách chủ quan là chưa đảm bảo cơ sở pháp lý để khẳng định vụ việc có thuộc phạm vi hòa giải hay không.

Thứ hai, quy định “vi phạm pháp luật theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính thì không được hòa giải”

Một vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật sẽ liên quan đến nhiều mối quan hệ, bao gồm: Liên quan đến quan hệ dân sự phát sinh giữa các bên; liên quan đến quan hệ hình sự phát sinh giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm; liên quan đến quan hệ hành chính phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với công dân khi người này có hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến lợi ích cá nhân, tổ chức, của Nhà nước, cộng đồng xã hội được Nhà nước bảo vệ. Mỗi loại quan hệ sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý tương ứng, được điều chỉnh bởi một nhóm quan hệ pháp luật và theo trình tự, thủ tục riêng biệt.

Như vậy, “vi phạm pháp luật theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính thì không được hòa giải” được hiểu như thế nào? Có phải toàn bộ vụ việc sẽ không được hòa giải, bao gồm cả quan hệ dân sự, quan hệ hình sự và hành chính phát sinh từ vụ việc đó sẽ không được hòa giải? Hiện nay, theo quan sát, tác giả nhận thấy, đa số ý kiến thiên về cách hiểu này và sẽ từ chối hòa giải vụ việc.

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, nếu có vụ việc như trên xảy ra, thì hòa giải viên vẫn có thể hòa giải đối với mâu thuẫn, tranh chấp về mặt dân sự giữa các bên phát sinh từ vụ việc. Pháp luật chỉ không cho phép hòa giải giữa người có hành vi vi phạm với Nhà nước vì hành vi đó có xâm phạm đến trật tự, lợi ích của cộng đồng xã hội mà Nhà nước bảo vệ. Nói cách khác, Nhà nước chỉ không cho hòa giải để miễn trừ (loại bỏ) trách nhiệm về hình sự hoặc hành chính do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Bởi lẽ, các mâu thuẫn, tranh chấp về dân sự cần khuyến khích hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm, chấm dứt hiềm khích, thù oán - những yếu tố có thể làm phát sinh những mâu thuẫn, xung đột mới. Đây cũng chính là mục đích cốt lõi mà pháp luật về hòa giải ở cơ sở hướng đến. Trong trường hợp này, nếu hòa giải viên có thể hòa giải được các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên thì hoàn toàn đúng pháp luật và cần được khuyến khích vì họ chỉ hòa giải về mặt dân sự, còn trách nhiệm pháp lý về mặt hình sự và hành chính với Nhà nước thì hòa giải viên không can thiệp. Có nghĩa là, người có hành vi vi phạm pháp luật, nếu được hòa giải về mặt dân sự rồi, thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý với Nhà nước nếu hành vi đó xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, tổ chức, của cộng đồng xã hội được Nhà nước bảo vệ. Sau đây là ví dụ cụ thể:

Ví dụ 1: Cơ sở sản xuất A có hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư. Hành vi này dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp với các hộ gia đình lân cận; đồng thời, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính do Nhà nước bảo vệ theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính. Như vậy, trong vụ việc này cùng tồn tại 02 mối quan hệ cần được giải quyết: (i) Quan hệ dân sự giữa cơ sở sản xuất với các hộ gia đình lân cận (các hộ gia đình có thể khởi kiện để bồi thường thiệt hại); (ii) Quan hệ hành chính giữa Nhà nước với cơ sở sản xuất.

Trong trường hợp này, hòa giải viên có thể hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa cơ sở sản xuất với các hộ gia đình để chấm dứt xung đột, hướng các bên tự thỏa thuận (bồi thường thiệt hại, …), để ngăn chăn một vụ việc khởi kiện có thể xảy ra tại Tòa án. Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý của cơ sở sản xuất đối với Nhà nước vẫn còn đó, vì cơ sở này đã có hành vi vi phạm trật tự hành chính do Nhà nước quản lý. Do đó, cho dù hòa giải viên đã hòa giải mâu thuẫn tranh chấp giữa cơ sở sản xuất với các hộ gia đình, thì Nhà nước vẫn có thể xử lý về mặt hành chính theo quy định. Ngược lại, nếu toàn bộ vụ việc không được hòa giải, thì ngay cả khi Nhà nước đã xử lý về mặt hành chính thì mâu thuẫn, tranh chấp giữa cơ sở sản xuất với các hộ ga đình vẫn tồn tại và có nguy cơ làm phát sinh một tranh chấp, xung đột mới.

Ví dụ 2: Anh A có hành vi cố ý gây thương tích với anh B. Giả sử theo quy định của pháp luật thì hành vi này phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu chỉ để xử lý về mặt hình sự mà không cho hòa giải về mặt dân sự giữa các bên thì mâu thuẫn, hiềm khích, thù oán giữa các bên vẫn tồn tại. Ngược lại, nếu được hòa giải, thì hòa giải viên cũng chỉ giúp các bên thỏa thuân về mặt dân sự, tránh làm mâu thuẫn thêm nghiêm trọng, chứ không loại bỏ trách nhiệm pháp lý về hình sự của anh A đối với Nhà nước.

Như vậy, tác giả cho rằng, trong tất cả các hành vi vi phạm pháp luật, thì về mặt dân sự, các bên có thể tự thỏa thuận và hòa giải được với nhau, nhưng về trách nhiệm với Nhà nước, thì nếu hành vi đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng xã hội vẫn sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vậy, nên chăng quy định “không được hòa giải đối với vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính” trong Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP cần được hiểu theo hướng đó.

Hòa giải ở cơ sở là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đã được cụ thể hóa thành pháp luật. Hoạt động này đang được chính quyền các cấp đẩy mạnh thực hiện thông qua các hòa giải viên nhằm giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ cơ sở trên cơ sở tự nguyện của các bên, qua đó góp phần ổn định an ninh, trật tự tại cơ sở. Vì vậy, thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần có hướng dẫn cụ thể hơn về những vướng mắc nêu trên để các cơ quan, tổ chức có liên quan, đặc biệt là các hòa giải viên hiểu và áp dụng được thống nhất.

Hoàng Trọng Hùng

Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: